LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình “Lí luận dạy học Tin học ở trường phổ thông” được biên
soạn nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết đào tạo Cử nhân sư phạm ngành Tin
học của Trường ĐHSP Vinh. Học phần “Lí luận dạy học Tin học ở
trường phổ thông” là học phần đầu tiên trong mảng các môn học về
nghiệp vụ dạy học môn Tin học. Nó có nhiệm vụ trang bị cho sinh viên
những cơ sở lí luận về quá trình dạy học Tin học, về phương pháp dạy
học Tin học và về tổ chức quá trình dạy học Tin học.
Giáo trình gồm 5 chương:
Chương 1: Đại cương về lý luận dạy học Tin học
Chương 2: Mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn Tin học ở trường phổ
thông
Chương 3: Phương pháp dạy học Tin học ở trường phổ thông
Chương 4: Tổ chức dạy học Tin học
Chương 5: Một số xu hướng cải tiến dạy học vận dụng vào môn Tin
Giáo trình có thể làm tài liệu học tập cho sinh viên sư phạm chuyên
ngành Tin học và tài liệu tham khaỏ cho giáo viên Tin học ở trường phổ
thông.
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã nhận được sự cổ vũ và sự
đóng góp về nội dung, cách trình bày của các đồng nghiệp trong khoa,
đồng thời đã tham khảo, rút trích nhiều tư liệu của các nhà giáo lão
thành. Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo về những đóng
góp quý báu để giáo trình được hoàn thành.
Mặc dầu đã thể hiện được phần nào sự cân nhắc trong quá trình biên
soạn, nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót. Tác giả mong muốn nhận
được các ý kiến đóng góp thêm để chỉnh lí, bổ sung, hoàn thiện giáo trình
này.
Vinh, tháng 8 năm 2000
1
Tác giả
Chương 1
giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng giao phó cho môn Tin học và
phương pháp để thực hiện chúng thông qua hoạt động dạy học cũng như
những hình thức tổ chức quá trình dạy học Tin học ở trường phổ thông.
Cũng như quá trình dạy học các môn học khác, quá trình dạy học
môn Tin học có hai loại nhân vật: thầy và trò, trong đó thầy giữ vai trò
chủ đạo, còn trò giữ vai trò chủ động. Từ hai loại nhân vật này nảy sinh
nhiều mối quan hệ: quan hệ giữa thầy với cá nhân trò, giữa thầy với tập
thể trò, giữa cá nhân trò với cá nhân trò.
Quá trình dạy học bao gồm việc dạy và việc học mà đối tượng của
việc học là nội dung bộ môn. Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu
tố của quá trình dạy học như sau:Các thành tố : Thầy giáo, học trò, nội dung môn học và những mối
liên hệ giữa chúng đều được đặt trong điều kiện của môi trường tổ chức
dạy học, môi trường nhà trường. Thầy giáo có phương tiện dạy học và
Thầy giáo Học sinh
nội dung
môn học
3
phương pháp dạy học của mình, Từ đó thầy giáo tìm kiếm mô hình phù
hợp nhất để chuyển nội dung môn học cho học sinh. Học sinh, với những
quan niệm, với những tri thức kinh nghiệm của mình về lĩnh vực mà môn
học đề cập tới và với những điều kiện học tập cụ thể mà chiếm lĩnh các
vấn đề được truyền thụ, biến chúng thành tri thức của mình. Nội dung
môn học được quy định trong chương trình bộ môn. Có thể coi đây là
một mô hình tĩnh về quá trình dạy học, song chưa diễn tả được chi tiết sự
hoạt động của các thành tố trong quá trình đó.
Để diễn tả một cách đầy đủ các mặt hoạt động diễn ra trong quá
trình dạy học cần phải tính đến cả sự tương tác giữa các mặt : Mục đích,
các em sẵn sàng tiếp nhận những tri thức mới về công nghệ thông tin của
thời đại và đáp ứng được yều cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Yêu cầu, nhiệm vụ của môn Tin học cho từng cấp học, từng loại
trường.
+ Xác định nội dung môn Tin học: Cần phải giải đáp câu hỏi: “Dạy
học những gì trong khoa học Tin học ở nhà trường phổ thông”.
Từ mục đích của môn học các nhà sư phạm Tin học cần căn cứ vào
điều kiện thực tiễn của nước nhà để soạn thảo chương trình bộ môn Tin
học. Đó là một cấu trúc của hệ thống các tri thức Tin học mà ta phải
truyền thụ cho học sinh ở nhà trường phổ thông. Những tri thức nào cần
được đưa vào cấp học nào, loại trường nào? Việc chọn lọc trong kho
tàng khoa học Tin học những tri thức cần dạy cho học sinh được quy định
bởi yêu cầu của xã hội. Yêu cầu này ngày càng cao nên thường nội dung
chương trình Tin học phổ thông phải càng ngày càng cao. Mặt khác trong
điều kiện công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng, Tin học trong nhà
trường phổ thông cần được cập nhật như thế nào để vừa không quá tải
cho học sinh mà vẫn giúp các em bắt kịp với thời đại. Hoạt động xay
dựng chương trình và soạn thảo sách giáo khoa để dạy trong nhà trường
5
thường do những cơ quan nghiên cứu và chỉ đạo quốc gia và các chuyên
gia sư phạm Tin học đảm nhận.
+ Nghiên cứu phương pháp dạy học trong môn Tin học:
Khi đã xác định được “dạy và học” cái gì thì hoạt động “dạy và học
như thế nào” là rất quan trọng. Bởi vì với giả định rằng, học sinh có vốn
kiến thức như chương trình bắt buộc mà không có phương pháp xây dựng
kiến thức thì họ vẫn chưa đủ để tự lực và sáng tạo trong hoạt động thực
tiễn. Do đó việc tìm kiếm phương tiện dạy học và cách thức tổ chức quá
trình dạy và học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của lí luận dạy
học Tin học ..
những thành tựu quan trọng của triết học về nhận thức đã được nêu lên
thành quy luật: “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư
duy trừu tượng trở về với thực tiễn” mà Lê nin đã tổng kết. Từ đó, vận
dụng vào quá trình dạy học để xây dựng nên những nguyên tắc cơ bản mà
chúng ta phải tôn trọng.
Trong dạy học Tin học ta còn dựa vào thế giới quan và những quy
luật biện chứng, vì vậy những luận đề Triết học duy vật biện chứng là cơ
sở của khoa học Tin học cũng như của lí luận dạy học Tin học. Nó cung
cấp cho ta phương pháp nghiên cứu đúng dắn :xem xét những hiện tượng
giáo dục trong quá trình phát triển và trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn
nhau, trong sự mâu thuẫn thống nhất, phát hiện những sự biến đổi số
lơựng dẫn tới những biến đổi chất lơựng v.v...
1.2.2 Cơ sở Tâm lí
Sản phẩm chính của Tâm lí học là những quy luật cơ bản của hoạt
động thần kinh cao cấp, là những quy luật của khoa học tư duy, của lí
thuyết nhận thức thế giới của con người, nhất là thế hệ trẻ. Những quy
7
luật này cũng là cơ sở để xây dựng những nguyên tắc của quá trình dạy
học. Phương pháp dạy học Tin học phải dựa vào những thành tựu của
Tâm lí học, đặc biệt là tâm lí học trẻ em, Tâm lí học phát triển và Tâm lí
học học tập để xác định mục đích yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy
học Tin học ở từng lớp, từng cấp...
1.2.3 Cơ sở lí luận giáo dục và lí luận dạy học đại cương
Dạy học Tin học vừa có nhiệm vụ truyền thụ tri thức Tin học, vừa
có nhiệm vụ giáo dục đạo đức tư tưởng cho học sinh. Quá trình dạy học
môn Tin học là một bộ phận của quá trình giáo dục nói chung, chịu sự chi
phối của các quy luật giáo dục nói chung. Lí luận dạy học Tin học cần
phải vận dụng những thành tựu, những kết quả nghiên cứu của Giáo dục
học và lí luận dạy học đại cương ở nước ta và trên thế giới, lấy đó làm cơ
sở để vạch ra những hình thức tổ chức nhận thức, những cách thức lựa
phải luôn luôn phát triển và ngày càng phát triển nhanh chóng để đáp ứng
được yêu cầu của xã hội, trang bị không những cho giáo viên Tin học ở
các trường phổ thông mà còn truyền thụ tri thức và rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm cho sinh viên chuyên ngành Tin học ở các trường CĐSP hoặc
ĐHSP. Vì vậy Bộ môn Phương pháp dạy học Tin học trong trường sư
phạm có các nhiệm vụ sau:
1.3.1 Trang bị cho sinh viên những tri thức cơ bản về dạy
học môn Tin học
9
Cần truyền thụ cho giáo sinh trước hết là các tri thức sau:
- Những hiểu biết đại cơưng về lí luận dạy học Tin học với tư cách
là một ngành khoa học và là một môn học trong nhà trường sư phạm.
- Những tri thức cơ bản về mục đích, nội dung, các nguyên tắc và
phương pháp dạy học Tin học, nhất là giúp các em nắm vững chương
trình và sách giáo khoa Tin học ở nhà trường phổ thông.
- Những tri thức cụ thể về việc lập kế hoạch dạy học, thiết kế và thi
công từng bài học.
1.3.2 Rèn luyện những kĩ năng cơ bản về dạy học môn Tin
học cho sinh viên
Rèn luyện cho sinh viên những kĩ năng:
- Tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa, sách hướng dẫn giáo viên
và các sách tham khảo.
- Lập kế hoạch dạy học, soạn giáo án cho từng tiết dạy
- Tiến hành một tiết dạy, khả năng bao quát, điều khiển của giáo
viên trong từng tiết dạy
- Kĩ năng dạy học thực hành Tin học
- Tiến hành các hoạt động ngoại khoá Tin học, bồi dưỡng học sinh
giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém.
- Tìm hiểu đối tượng học sinh, những lớp, cấp mà mình sẽ giảng
dạy
Phép biện chứng duy vật là cơ sở phương pháp luận cho mọi ngành
khoa học, trong đó có lí luận dạy học Tin học bởi nó khái quát hoá
những sự kiện từ tất cả các khoa học và trên cơ sở đó phát hiện ra những
quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng quyết
11
định những quan điểm xuất phát, chiến lược nghiên cứu, quyết định việc
lựa chọn phương pháp nghiên cứu và giải thích kết quả. Trong nghiên
cứu lí luận dạy học Tin học cần vận dụng được những tư tưởng cơ bản
của phương pháp duy vật biện chứng là:
- Xem xét những quá trình và hiện tượng trong mối quan hệ nhiều
mặt và tác động qua lại giữa chúng.
- Xem xét những quá trình và hiện tượng trong sự vận động và phát
triển, vạch ra những bước chuyển hoá từ sự biến đổi về chất sang biến đổi
về lượng.
- Phát hiện những mâu thuẫn nội tại và sự đấu tranh giữa những mặt
đối lập để tìm ra những động lực phát triển.
- Thừa nhận thực tiễn như nguồn gốc của nhận thức và tiêu chuẩn
của chân lí.
Chẳng hạn muốn nghiên cứu việc phát triển năng lực khái quát hoá
cho học sinh thông qua môn Tin học, ta không xem xet năng lực này một
cách cô lập mà phải nghiên cứu nó trong mối liên hệ chặt chẽ với các
năng lực trí tuệ khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, tương tự hoá, trừu
tượng hoá, với những đặc điểm nhân cách khác nữa như kiến thức, phẩm
chấtv.v..đồng thời cần nghiên cứu năng lực này trong quá trình vận động,
phát triển từ thấp đến cao.
1.4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp thường dùng trong nghiên cứu koa học giáo dục
nói chung và trong lí luận dạy học Tin học nói riêng là : nghiên cứu lí
luận, quan sát-điều tra, tổng kết kinh nghiệm và thực nghiệm giáo dục.
+ Nghiên cứu lí luận: Trong nghiên cứu lí luận người ta dựa vào
cứu hoặc khám phá ra những mối liên hệ có tính quy luật của những hiên
tượng giáo dục.
Những kinh nghiệm cần được đặc biệt chú ý là kinh nghiệm tiên
tiến, kinh nghiệm thành công và kinh nghiệm lặp lại nhiều lần.
13
Tổng kết kinh nghiệm không phải chỉ đơn thuần là trình bày lại
những công việc đã làm và những kết quả đã đạt được. Là một phương
pháp nghiên cứu khoa học, nó phải được tiến hành theo một quy trình
nghiêm túc.
Tổng kết kinh nghiệm phải có lí luận sói sáng thì mới có thể thoát
khỏi những sự kiện lôn xộn, những kinh nghiệm vụn vặt không có tính
phổ biến, mới loại bỏ được ngẫu nhiên, đi sâu vào bản chất của sự vật,
hiện tượng, đạt tới những kinh nghiệm có giá trị khoa học. Chỉ khi đó
tổng kết kinh nghiệm mới thực sự là một phương pháp nghiên cứu khoa
học.
+ Thực nghiệm giáo dục: Thực nghiệm sư phạm cho phép ta tạo nên
những tác động sư phạm, từ đó xác định và đánh giá kết quả của những
tác động đó. Đặc trưng của thực nghiệm giáo dục là nó không diễn ra một
cách tự phát mà là dưới sự đều khiển của nhà nghiên cứu. Nhà giáo dục
tổ chức quá trình giáo dục một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch,
tự giác thiết lập và thay đổi những điều kiện thực nghiệm cho phù hợp
với ý đồ và nghiên cứu cuả mình.
Trong những điều kiện cho phép, thực nghiệm giáo dục, cho phép ta
khẳng định hoặc bác bỏ một giả thuyết khoa học đã nêu.
Thực nghiệm giáo dục là một phương pháp nghiên cứu rất hiệu quả
song cũng rất công phu, vì thế ta không nên lạm dụng nó. Khi nghiên cứu
một hiện tượng giáo dục, trước hết có thể dùng những phương pháp
không đòi hỏi nhiều công sức, ví dụ như nghiên cứu lí luận, quan sát,
tổng kết kinh nghiệm. Chỉ ở những chỗ những phương pháp này chưa đủ
sức thuyết phục, chỉ ở một số khâu mấu chốt, ta mới dùng đến thực
phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công
15
nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác
phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, là những người
thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng, vừa chuyên như lời căn dặn
của Bác Hồ”.
Luật giáo dục nước ta cũng đã cụ thể hoá tại chương II, mục 2 điều
23 là: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản nhằm
hình thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư
cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Môn Tin học, cũng như mọi môn học khác, căn cứ vào mục tiêu trên
để xác định ra những nhiệm vụ cụ thể của môn học, tổ chức hoạt động
đào tạo góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và nhà nước đẫ
đề ra.
2.1.2 Đặc điểm môn Tin học
Việc xác định mục tiêu dạy học môn Tin phải căn cứ đặc điểm môn
Tin học, bao gồm:
Đặc điểm thứ nhất là tính trừu tượng cao độ và tính thực tiễn phổ
dụng:
Tính trừu tượng của Tin học là ở chỗ nó nghiên cứu các phương
pháp công nghệ và kĩ thuật xử lí thông tin một cách tự động. Bản thân
khái niệm thông tin đã là trừu tượng, quá trình xử lí thông tin (thu nhập,
lưu trữ, biến đổi và truyền nhận) dựa trên những thành tựu của những
ngành khoa học mang tính trừu tượng cao như Vật lí, Toán học, Lí thuyết
thông tin,... vì thế Tin học mang đặc điểm trừu tượng hoá cao độ.
Sự trừu tượng hoá trong Tin học diễn ra trên những bình diện khác
nhau. Có những khái niệm Tin học là kết quả của sự trừu tượng hoá
những đối tượng vật chất cụ thể, chẳng hạn khái niệm biến, khái niệm về
thử với một số tập dữ liệu. Tuy nhiên giáo trình Tin học phổ thông cũng
17
vẫn mang tính logic, hệ thống: trí thức trước chuẩn bị cho tri thức sau, tri
thức sau dựa vào tri thức trước.
2.1.3 Vị trí môn Tin học
Môn Tin học là môn học công cụ. Do tính trừu tượng cao độ, Tin
học có tính thực tiễn phổ dụng. Những tri thức và kĩ năng Tin học cùng
với những phương pháp làm việc trong Tin học đã trở thành công cụ để
học tập những môn học khác trong nhà trường, là công cụ của nhiều
ngành khoa học khác, là công cụ để hoạt động trong đời sống thực tế và
vì vậy là một thành phần không thể thiếu của trình độ văn hoá phổ thông
của con người mới. Về mặt tri thức và kĩ năng, môn Tin học trong nhà
trường cần làm cho tất cả mọi học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học
đều nắm được những yếu tố cơ bản của Tin học, có khả năng ứng dụng
công nghệ thông tin như công cụ học tập và hoạt động, có thể nhanh
chóng bước vào những ngành nghề đòi hỏi sử dụng công nghệ này. Cụ
thể là học sinh có những hiểu biết về Tin học và máy tính điện tử, có khái
niệm về thuật giải và làm quen với tư duy thuật giải. Học sinh biết lập
trình để giải những bài toán đơn giản, trước hết là những bài toán trong
sách giáo khoa Toán, Lí, Hoá,... từ đó chuẩn bị những tri thức kỉ năng và
phong cách làm việc cần thiết để sau này có thể đi sâu hơn về lĩnh vực
lập trình. Học sinh biết làm việc với một số hệ điều hành, một số phần
mềm như soạn thảo văn bản, bảng tính điện tử, hệ quản trị cơ sở dữ liệu.
Ngoài việc tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh những tri thức và
kỉ năng Tin học cần thiết, môn Tin học còn có tác dụng góp phần phát
triển năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá,
khái quát hoá,... rèn luyện những đức tính, phẩm chất của người lao
động mới như tính cẩn thận, chính xác, tính kỉ luật, tính phê phán, tính
sáng tạo. Học sinh thấy rõ hiệu lực mạnh mẽ của công nghệ thông tin và
nhận thức được cần có những phẩm chất nào của người lao động trong
theo những quy luật tự nhiên. Vì vậy thông qua việc dạy Tin học mà hình
thành cho học sinh những quan niệm, những phương thức tư duy và hoạt
động đúng đắn, phù hợp với những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Đồng thời phải làm cho học sinh biết sử dụng các tri thức Tin học
để làm bằng chứng kiểm nghiệm những quan điểm đó. Từ đó có được
19
nhân sinh quan khoa học trong lối sống, trong sự xây dựng nhân cách của
người lao động, đạo đức phẩm chất của người chiến sĩ đấu tranh cho sự
nghiệp giải phóng con người khỏi sự mù quáng, lạc hậu. Đây chính là
nhiệm vụ giáo dục của bộ môn Tin học.
+ Cuối cùng bộ môn Tin học phải đảm bảo chất lượng phổ cập,
đồng thời phải có nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tin
học, cung cấp cho đất nước những nhân tài trong lĩnh vực công nghệ
thông tin.
Sau đây sẽ đi sâu phân tích những nhiệm vụ cụ thể đã nêu trên:
2.2 PHÂN TÍCH CÁC NHIỆM VỤ
2.2.1 Truyền thụ hệ thống tri thức, kỉ năng Tin học-nhiệm
vụ giáo dưỡng của bộ môn Tin học
Hệ thống tri thức Tin học của nhân loại rất phong phú, đa dạng và
ngày càng được phát triển. Các nhà khoa học và sư phạm Tin học đã căn
cứ vào yêu cầu của xã hội và năng lực nhận thức của học sinh theo từng
lứa tuổi và vào chính cấu trúc của Tin học để xây dựng nên chương trình
bộ môn Tin học ở trường phổ thông.
Từ chương trình này, với các sách tham khảo, sách hướng dẫn giảng
dạy, giáo viên căn cứ vào điều kiện cụ thể của trường lớp mà mình công
tác để truyền thụ cho học sinh một hệ thống vững chắc những tri thức Tin
học cơ bản, cơ sở, hiện đại theo tinh thần giáo dục kĩ thuật tổng hợp,
trau dồi cho họ những kỉ năng sử dụng những phần mềm, khả năng vận
dụng những hiểu biết Tin học vào việc học tập các môn học khác, vào
thực tiễn đời sống; đồng thời cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ
rèn luyện kỉ năng, tri thức giá trị làm nền tảng cho việc giáo dục chính
trị.
21
+ Hình thành kỉ năng trên những bình diện khác nhau: Do tính trìu
tượng nhiều bình diện của Tin học. trong dạy học Tin học cần rèn luyện
cho học sinh những kỉ năng trên những bình diện khác nhau:
- Kỉ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Tin học;
- Kỉ năng vận dụng tri thức Tin học vào những môn học khác;
- Kỉ năng vận dụng Tin học vào đời sống
Kỉ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Tin học là một sự thể
hiện mức độ thông hiểu tri thức Tin học. Chỉ khi thông hiểu những tri
thức Tin học mới có thể vận dụng chúng để làm Tin học.
Kỉ năng vận dụng tri thức Tin học vào những môn học khác thể hiện
vai trò công cụ của Tin học đối với những môn học khác, thường là
những môn khoa học tự nhiên.
Kỉ năng vận dụng Tin học vào đời sống là mục tiêu quan trọng của
môn Tin, nó cũng giúp học sinh thấy được mối liên hệ giữa Tin học với
thức tiễn đời sống
+ Làm nổi bật những mạch tri thức, kỉ năng xuyên suốt chương
trình: Dạy học môn Tin học không chỉ dừng lại việc truyền thụ những tri
thức lẻ tẻ, rèn luyện những kỉ năng riêng biệt cho học sinh như dạy một
vài phần mềm ứng dụng mà phải thường xuyên chú ý những hệ thống tri
thức, kỉ năng tạo thành những mạch xuyên suốt chương trình chẳng hạn:
- Các cấu trúc điều khiển chương trình;
- Các thuật giải sắp xếp, tìm kiếm,...
- Khai thác các tiến bộ trong Tin học.
Cách làm này giúp học sinh ý thức được toàn bộ hệ thống tri thức,
tránh tình trạng học lệch, chỉ nhìn thấy những tri thức cần thiết trước mắt.
2.2.2 Hình thành và phát triển năng lực trí tuệ chung
22
23
logic mà còn ỏ sự phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng. Muốn
khai thác khả năng này, người giáo viên cần lưu ý:
- Làm cho học sinh quen và có ý thức sử dụng những quy tắc suy
đoán như xét tương tự, khái quát hoá, quy lạ về quen,... Tuy nhiên suy
đoán phải có căn cứ, dựa trên những quy tắc, kinh nghiệm nhất định.
- Tập luyện cho học sinh khả năng hình dung được những đối tượng
và quan hệ giữa chúng và làm việc với chúng dựa trên những dữ liệu và
cách tổ chức chương trình.
+ Hình thành và phát triển những thao tác tư duy quan trọng như
:phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá,...
Phân tích là tách (trong tư tưởng) một hệ thống thành những vật,
tách một vật thành những bộ phận riêng lẽ. Tổng hợp là liên kết (trong tư
tưởng) những bộ phận thành một vật, liên kết nhiều vật thành một hệ
thống. Phân tích và tổng hợp là hai thao tác tư duy trái ngược nhau nhưng
là hai mặt của một quá trình thống nhất. Chúng là hai thao tác cơ bản của
qua trình tư duy. Những thao tác tư duy khác có thể coi là những dạng
xuất hiện của phân tích và tổng hợp.
Trừu tượng hoá là tách những đặc điểm bản chất khỏi những đặc
điểm không bản chất. Đương nhiên sự phân biệt bản chất và không bản
chất ở đây mang ý nghĩa tương đối, nó phụ thuộc vào mục đích hành
động. Khái quát hoá là chuyển từ một tập hợp đối tượng sang một tập
hợp lớn hơn chứa tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật một số trong các
đặc điểm chung của các phần tử của tập hợp xuất phát. Như vậy ta thấy
ngay rằng trừ tượng hoá là điều kiện cần của khái quát hoá.
Cùng với phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, trong
môn Tin học học sinh còn phải thường xuyên thực hiện các phép tượng tự
hoá, so sánh,... do đó có điều kiện rèn luyện cho họ những thao tác trí tuệ
này.
24