Tiểu luận:" Giá và phương pháp tính giá bán sản phẩm của công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông " - Pdf 72



TRƯỜNG..........................
KHOA……………………
TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI
Giá và phương pháp tính giá
bán sản phẩm của công ty
bóng đèn phích nước Rạng
Đông 1

LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi kinh tế Việt Nam chuyển mình sang nền kinh tế thị trường đã
có rất nhiều sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm của mỗi doanh nghiệp nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Giờ đây, doanh nghiệp phải tự mình vật lộn để
tồn tại, phát triển trong một môi trường cạnh tranh đầy gay go không kém
phần quyết liệt. Để tồn tại và phát triển một cách bền vững, không còn cách
nào khác là doanh nghiệp phải tự hoàn thiện mình, hoàn thiện cách thức và
phương pháp sản xuất kinh doanh sao cho đạt hiệu quả nhất. Muốn đạt được
như vậy, doanh nghiệp phải không ngừng lập và thay đổi các chiến lược sản
xuất kinh doanh sao cho phù hợp với từng thời kỳ khác nhau của nền kinh tế.

triển cơ chế thị trường có sự quản lí và điều tiết của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Một trong những vấn đề quan tâm của cơ chế thị
trường là giá cả. Giá cả chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau như giá
trị, quan hệ cung- cầu, sức mua của tiền…Nhưng giá cả cũng tác động tới sản
lượng, cung- cầu cũng như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Trong mỗi một doanh nghiệp, giá cả của hàng hoá bán ra là yếu tố
quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp đó. Nếu giá cả của doanh nghiệp
đưa ra mà được thị trường chấp nhận điều đó có nghĩâ là thị trường chấp nhận
hàng hoá của doanh nghiệp, hàng hoá của doanh nghiệp sẽ bán được, doanh
nghiệp sẽ thu được lợi nhuận hay sẽ thực hiện được mục tiêu kinh doanh của
mình, có thể cạnh tranh được trên thị trường đó. Ngược lại, nếu giá cả bán
hàng hoá của doanh nghiệp không được thị trường chấp nhận, điều đó có
nghĩa là doanh nghiệp đang tiến gần hơn một bước tới sự phá sản.
2. Lí luận chung về giá bán sản phẩm
Giá cả là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triển cùng
với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá. Giá cả là biểu hiện bằng tiền
của giá trị hàng hoá, đồng thời cũng biểu hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế
như cung- cầu hàng hoá, tích luỹ và tiêu dùng, cạnh tranh…
Giá trị hàng hoá là giá trị thị trường, giá trị được thừa nhận của người
mua. Giá trị luôn quyết định giá cả thị trường, là nội dung, là bản chất của giá 3
cả. Ngược lại, giá cả là hình thức, là hiện tượng của giá trị. Giá cả là quan hệ
về lợi ích kinh tế, là tiêu chuẩn để các doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng kinh
doanh.
Hiện nay trên thị trường, ngoài cạnh tranh bằng giá cả, có các loại cạnh
tranh khác tiên tiến hơn như cạnh tranh bằng chất lượng, bằng dịch vụ nhưng
giá cả vẫn có một vai trò quan trọng. Hàng hoá sẽ không tiêu thụ được nếu
như không được người tiêu dùng chấp nhận. Người tiêu dùng luôn quan tâm

Khi xác định được chính xác và quản lí được chi phí, các nhà quản lí có
thể tìm ra các giảI pháp thay đổi, hạ thấp chúng để gia tăng lợi nhuận, điều
chỉnh giá một cách chủ động, tránh mạo hiểm.
3.3. Các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Mỗi một doanh nghiệp trong từng giai đoạn kinh doanh khác của mình
thì có giá bán sản phẩm khác nhau. Nếu như mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp là dẫn đầu thị phần thì giá bán sản phẩm của doanh nghiệp sẽ hạ hơn
so với giá bán của đối thủ cạnh tranh, nếu như mục tiêu dẫn đầu về chất lượng
( hoặc đôi khi là tối đa hoá lợi nhuận) thì giá bán sản phẩm của doanh nghiệp
thường cao…..
3.4. Các yếu tố khác
Ngoài các yếu tố trên, giá bán sản phẩm của doanh nghiệp thường chụi
ảnh hưởng một số yếu tố khác bên trong doanh nghiệp, đó có thể là
- Chu kì sống của sản phẩm
- Tính phân biệt của sản phẩm
- Tính dễ hư hỏng hay tính theo mùa của sản phẩm
II. Lí luận chung về định giá bán sản phẩm
1. Tầm quan trọng của công tác định giá bán sản phẩm của một doanh
nghiệp 5
Giá bán sản phẩm, hàng hoá là nhân tố có ảnh hưởng lớn, trực tiếp tới
doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp. Nền kinh tế thị trường với các qui luật
vốn có bản chất của nó như qui luật cung- cầu, qui luật cạnh tranh, qui luật
giá trị… đã làm cho nhiều người lầm tưởng không cần qui định giá bán cho
sản phẩm. Bởi họ quan niệm rằng đó là do thị trường tự điều tiết bởi cung-
cầu, do sự thoả thuận giữa người mua và người bán. Điều đó mới chỉ đúng
phần nào. Với các doanh nghiệp nếu chỉ mặc thác cho quan niệm đó thì khó
có thể tồn tại được nói gì tới nhu cầu phát triển để mà cạnh tranh, đứng vững

như: tính độc đáo của sản phẩm, khả năng thay thế của sản phẩm không cao;
giá mua quá thấp so với tổng thu nhập; do tính đồng bộ trong tiêu dùng;
không có khả năng dự trữ.
 Chi phí sản xuất sản phẩm
Chi phí là một yếu tố đặc biệt quan trọng cần được xem xét khi định
mức giá. Trong các điều kiện bình thường mức giá dù tính theo cách nào cũng
phải đảm bảo lớn hơn chi phí để có lợi nhuận.
Để tổ chức quản lý chi phí và có cơ sở định giá người ta phân loại chi
phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Song có những loại chi phí rất quan trọng cần phải tính đến khi định giá như:
tổng chi phí cố định, tổng chi phí biến đổi, tổng chi phí sản xuất sản phẩm, chi
phí bình quân của một đơn vị sản phẩm.v.v…
 Đối thủ, trạng thái cạnh tranh và quan hệ cung cầu trên thị trường
Ngoài thị trường độc quyền, các doanh nghiệp khi định giá bán sản
phẩm không thể không nghiên cứu giá bán trên thị trường và những đối thủ
cạnh tranh của mình. Nghiên cứu thị trường giúp cho doanh nghiệp nắm bắt
được cung cầu trên thị trường, mức giá mà thị trường có thể cháp nhận được.
Mặt khác người làm giá phải phân tích giá thành, giá cả và hàng hoá của đối
thủ cạnh tranh, để từ đó có hướng co việc xây dựng giá hàng hoá của doanh
nghiệp. Việc định giá cao hay thấp của đối thủ cạnh tranh còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố.
 Các yếu tố về luật pháp, xã hội 7
Khi định giá bán sản phẩm một yếu tố cần phải xem xét đó là tính hợp
pháp của giá. Các mức giá đặt ra không được vi phạm các qui định của hệ
thống pháp luật và không được làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của các
doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng.
3. Các mục tiêu định giá

nhuận cao nhất khi bán hàng. Để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận có
thể có các con đường khác nhau. Người ta có thể đặt giá ở mức cao nhất cho
sản phẩm dịch vụ khi có điều kiện (giá hớt váng đối với sản phẩm mới thành
công, giá đàu cơ đối với sản phẩm khan hiếm khi ccàu lớn hơn cung mà
khong cóa sản phẩm tốt thay thế).Thị trường tối đa hoá lợi nhuận bằng cách
này có thể phải trả giá bởi phản ứng của xã hội, qui định của pháp luật và làm
xấu đi hình ảnh của doanh nghiệp. Tối đa hóa lợi nhuận không phải cũng thực
hiện được trên cơ sở giá đắt. Trong nhiều trường hợp, giá cao khong đồng
nghĩa với việc tổng số lợi nhuận cao. Có thể tìm lợi nhuận tối đa (lãi tối ưu)
trên cơ sở ghái tối ưu.Giá tối ưu được xác định trên cơ sở mối quan hệ tương
thích giữa giá với số lượng sản phẩm bán được- tổng thu nhập – tổng chi phí
và lợi nhuận tương ứng với nó. Để có lợi nhuận tối đa, người ta không lựa
chọn mức giá đưa đến doanh số bán lớn nhất mà chọn mức giá mang lại lợi
nhuận tối ưu cho doanh nghiệp.
3.3. Định giá nhằm mục tiêu doanh số bán hàng
Theo mục tiêu này, mức giá được xác định sao cho có thể đạt đến một
mức bán hàng nào đó (thường là cao nhất) mà doanh nghiệp mong muốn.
Trong trường hợp này, trọng tâm cần đáp ứng là số lượng (doanh số) bán
hàng được hoặc tăng khả năng bán hàng còn lợi nhuận ít dược quan tâm. Theo
đuổi mục tiêu này, người ta thường dựa trên ý tưởng: doanh số cao sẽ có lợi
nhuận cao. Nhưng không phải lúc nào cũng có sự trùng khớp giữa doanh số
và lợi nhuận. Tăng doanh số không có nghĩa là tăng lợi nhuận. Thậm chí tăng
doanh số kèm theo sự giảm sút về lợi nhuận bởi sự vận động không tương
thích giữa việc giảm giá bán để tăng khối lượng bán và chi phí 9
3.4. Định giá nhằm phát triển các phân đoạn thị trường
Trọng tâm cần đáp ứng của giá theo mục tiêu này là giúp cho doanh
nghiệp có khả năng đứng vững, mở rộng hoặc kiểm soát tốt các thị trường

Các khả năng cạnh tranh với đối thủ được thực hiện trên cơ sở đưa ra các sản
phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt nhất, đáp ứng đồng bộ nhu cầu của khách
hàng, đúng thời gian, đúng địa điểm… Trong trường hợp này, giá có thể xác
định ở mức cao khi đưa sản phẩm chất lượng cao (chiến lược giá cao/ chất
lượng cao); giá có thể hỗ trợ bởi các chính sách xúc tiến bán…
4. Các chính sách định giá
Nhằm đạt được mục tiêu đã xác định cho giá, doanh nghiệp cần đưa ra
các quyết định rõ ràng về chính sách giá của mình. Các chính sách giá đúng
cho phép doanh nghiệp có thể định giá và quản lý giá có hiệu quả trong kinh
doanh. Chính sách định giá thể hiện sự lựa chọn đúng đắn các tình huống cần
giải quyết khi đặt mức giá và ra quyết định mua sắm của khách hàng được dễ
dàng hơn. Các chính sách giá chính thường được áp dụng là:
4.1. Chính sách về sự linh hoạt giá
Chính sách sự linh hoạt của giá phản ánh cách thức sử dụng mức giá
như thế nào đối với các đối tượng khách hàng. Doanh nghiệp phải lựa chọn
giữa chính sách một giá hay chính sách giá linh hoạt
 Chính sách một giá: Đưa ra một mức giá đối với tất cả các khách hàng
mua hàng trong cùng các điều kiện cơ bản và cùng khối lượng.
Chính sách này yêu cầu hàng được bán ra theo giá niêm yết, không có
mặc cả giá, cho phép có thể đảm bảo được thu nhập dự tính, duy trì uy tín
trong khách hàng, rút ngắn thời gian bán, định giá và quản lý giá khá dễ dàng.
Tuy nhiên, có thể dẫn đến trạng thái cứng nhắc về giá, kém linh hoạt và cạnh
tranh khi đặt giá cao hơn đối thủ cạnh tranh mà không kịp thời điều chỉnh.
 Chính sách giá linh hoạt: Đưa ra cho khách hàng khác nhau các mức
giá khác nhau trong cùng điều kiện cơ bản và cùng khối lượng.
Chính sách giá này cho phép bán hàng ở các mức khác nhau xoay
quanh giá niêm yết. Khách hàng được mặc cả giá. Người bán được quyền tự
quyết định về mức giá cụ thể trong khung giá “trần – sàn” nên có khả năng hỗ 12
 Chính sách giá “theo thị trường”: Đưa ra mức giá trên cơ sở phân tích
các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Chính sách này không chỉ căn cứ vào
mục tiêu của doanh nghiệp và phân tích khách hàng mục tiêu, quyết định vê
giá “cao” hay “thấp” còn tuỳ thuộc vào đặc điểm cạnh tranh trên thị trường.
Mặt bằng giá thị trường (hình thành nên bởi các đối thủ cạnh tranh, cung –
cầu) sẽ dẫn đến quyết định cạnh tranh đối đầu hay cạnh tranh bằng các yếu tố
khác của marketing hỗn hợp trên các phân đoạn khác nhau của thị trường.
4.3. Chính sách giá theo chi phí vận chuyển
Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng, sản phẩm phải được vân chuyển
đến địa điểm sử dụng theo yêu cầu của họ. Chi phí vận chuyển có thể là rất
cao: đối với một sô sản phẩm chi phí vận chuyển có thể chiếm đến 50 – 60%
giá trị được giao của hàng hoá. Điều này yêu cầu cần tính đến một cách
nghiêm túc và sáng tạo chi phí vận chuyển khi xác định mức giá: giá công bố
bao hàm cả chi phí vận chuyển không? nên tính như thế nào? ai trả chi phí
vận chuyển?.
Việc tính toán chi phí vận chuyển vào giá công bố một cách linh hoạt
và đúng đắn có thể tạo ra cơ hội tốt hơn cho bán hàng và cạnh tranh của
doanh nghiệp trên một số khu vực thị trường. Cần có chính sách đúng đắn để
lựa chọn phương án đặt giá hợp lý bởi trong thực tế kinh doanh có rất nhiều
khả năng lựa chọn các biến thái khác nhau về chi phí vận chuyển khi hình
thành nên các mức giá.
Các mức giá dựa trên chính sách về chi phí vận chuyển thường được
xác định dựa trên ba loại chính sách chính:
 Giá giao hàng theo địa điểm
Điểm giao hàng và chi phí vận chuyển liên quan đến nó là cơ sở để
xem xét giá. Loại giá này lấy địa điểm giao hàng cụ thể giữa bên mua và bên
bán làm căn cứ để xác định mức giá hàng hoá.

Thông thường, doanh nghiệp (bán) đưa ra giá công bố theo địa điểm
giao hàng đã được xác định trước của mình. Địa điểm này có thể là ở (1) – nơi
sản xuất hoặc kho trung tâm, hoặc ở (2) – các điểm bán hàng của doanh
nghiệp trong mạng lưới kinh doanh (kho trung gian). Mọi chi phí vận chuyển
từ (1) đến (2) đương nhiên được tính trong mức giá như một khoản chi phí
kinh doanh của doanh nghiệp. Tại đây, người bán chịu trách nhiệm trả chi phí
bốc xếp hàng hoá lên phương tiện vận tải, quyền sở hữu hàng hoá được
Nơi xuất
phát (điểm
gốc)
Điểm bán (xuất hng)
của doanh nghiệp …
Điểm bán (giao
hng) của khách
Nơi sử dụng
(điểm cuối) 15
chuyển ngay cho người mua. Người mua chịu trách nhiệm chi phí vận chuyển
tiếp theo và tổn thất hàng hoá trong quá trình vận chuyển (khoản chi phí vận
chuyển bên B do khách hàng chịu).
+) Địa điểm giao hàng được xác định theo yêu cầu của khách
Liên quan đến chi phí vận chuyển từ (2) đến (3) hoặc từ (2) đến (4).
Người mua có thể yêu cầu người bán giao hàng tại địa điểm cụ thể nào đó (3)
hoặc (4) theo hợp đồng. Trong trường hợp này toàn bộ chi phí vận chuyển
phát sinh sẽ do bên bán chịu trách nhiệm trả và được tính vào giá bán hàng
hoá. Các khoản B và C do bên người bán chịu. Giá công bố cần tính khoản
chi phí này.
Cả hai trường hợp trên đều có ưu điểm và nhược điểm riêng cần được

hút khu vực thị trường mới.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể bug đắp một phần chi phí
vấn tải cho hành khách ở xa bằng cách cắt giảm giá công bố. Lợi nhuận ròng
của mỗi một lần bán giảm nhưng bù lại doanh nghiệp có thể có được khách
hàng (thị trường) mới và tổng số lợi nhuận có thể tăng.
4.4. Chính sách hạ giá và chiếu cố giá
Các mức giá trường được hình thành theo các điều kiện (tiêu chuẩn)
xác định trước. Trong kinh doanh, có thể các điều kiện này thay đổi theo các
trường hợp cụ thể, không kể luôn luôn bán hàng theo các điều kiện đã tính
trước. Bởi vậy, xuất hiện các yêu cầu điều chỉnh giá. Nếư điều kiện ban đầu
thay đổi một cách cơ bản có thể dẫn đẽn việc phải tính toán lại mức giá.
Nhưng trong các trường hợp chỉ có sự thay đổi ở một số khía cạnh nào
đó (khối lượng mua, điều kiện thanh toán, chất lượng hàng…) thì giá ssẽ được
điều chỉnh lại theo mức chiếu cố giá và hại giá.
Cơ sở để nghiên cứu chính sách hạ giá và chiếu cố giá là gí công bố của
doanh nghiệp. Nhưng khi xem xét vấn đề này trong chuỗi lưu thông thì cơ sở
của nó là giá công bố cơ bản. Giá công bố cơ bản thường được đặt ra bởi nhà
sản xuất. Đó cũng là mức giá cuối cùng mà người mua hay người sử dụng
bình thường được yêu cầu trả khi mua sản phẩm. 17
Hạ giá là sự giảm giá công bố- giá mà người bán thông báo cho người
mua. Việc giảm giá không chỉ nhằm để bán được hàng mà còn đáp ứng được
các mục tiêu đặt ra cho việc kinh doanh và bán hàng. Có nhiều trường hợp
khác nhau cần xem xét về vấn đề quyết định giảm giá:
Hạ giá theo khối lượng nhằm khuyến khích mua nhiều
Khách hàng thường mong muốn mua được rẻ hơn trong khi doanh nghiệp lại
mong muốn bán được nhiều hàng hơn. Để đáp ớng được các mong muốn
nàycó thể đưa ra các chính sách hạ gí theo khối lượng mua của khách hàng.

+ Bán hàng trả chậm: Đưa ra các mức thanh toán nhằm khuyến khích
thị thanh toán trước thời hạn qui định trong hợp đồng.
+ Bán hàng trả ngay: Thời hạn qui định là phải trả ngay lập tức, nhưng
theo yêu cầu của khách hàng thời hạn thanh toán có thể xác định lại sau 10,
20 hoặc 30 ngày. Trong điều kiện này, giá ghi trên hoá đơn là giá gốc. Nếu trả
trước 10 ngày có thể giảm 2%, nếu trước 20 ngày có thể giảm 1% và phải trả
đủ nếu trả trước 30 ngày.
Hạ giá theo đơn đặt hàng trước
Việc hạ gía này nhằm khuyến khích người mua đặt hàng trước để tạo
điều kiện thuận lợi và tránh rủi ro, khó khăn khi bán hàng. Các hợp đồng đặt
hàng trước giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm soát hoạt động của mình tốt
hơn. Nếu khách hàng ứng trước một khoản tiền nào đó để thực hiện đơn hàng
có thể giúp cho doanh nghiệp tăng được vốn kinh doanh.
Hạ giá “ ưu đãi”
Khoản hạ giá này nhằm vào củng cố mối quan hệ truyền thống, lâu dài
với các khách hàng trọng điểm cần giữ vững hoặc lôi kéo của doanh nghiệp.
Hạ giá hàng tiêu thụ tồn kho
Là khoản hạ gía ngoài mong muốn của doanh nghiệp. Mục tiêu chính
của khoản hạ giá này là nhằm giảm bớt các thiệt hại do không bán được hàng,
chi phí dự trữ và thu hồi vốn. 19
Hạ giá theo truyền thống
Khoản hạ giá này còn được gọi là khoản bớt giá trong kinh doanh dành
cho người trung gian để họ tiếp tục thực hiện nốt quá trình lưu thông hàng hoá
tới người sử dụng sản phẩm. Trên thị trường các khoản bớt giá này thường
được hình thành và thực hiện theo truyền thống. Tuỳ theo độ dài của đường
dây phân phối hàng hoá có thể hính thành nên một chuỗi bớt giá từ nhà sản
xuất đến nhà buôn đến nhà bán lẻ. Đây là khoản bớt giá khách quan từ gốc,

Như chúng ta đã biết, chính sách giá cả của người bán phụ thuộc vào
hình thái thị trường. Theo các nhà kinh tế thì có 4 kiểu hình thái thị trường,
mỗi kiểu có những vấn đề riêng về vấn đề hình thành giá cả.
+ Cạnh tranh hoàn hảo
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo bao gồm nhiều người mua, người bán
cùng một loại sản phẩm giống nhau. Không một người mua hay người bán
nào có ảnh hưởng lớn đến mức giá thị trường hiện hành của hàng hoá. Người
bán cũng không đòi hỏi giá cao hơn giá của thị trường vì người mua có thể tự
do mua một khối lượng bất kì những hàng hoá đó theo giá thị trường. Người
bán cũng không chào giá bán thấp hơn giá thị trường vì họ có thể bán tất cả
hàng hoá đó theo giá thị trường. Trong loại thị trường này, doanh nghiệp là
người chấp nhận giá và các doanh nghiệp đều phải hoạt động theo sự dẫn dắt
của bàn tay vô hình của thị trường.
+ Cạnh tranh độc quyền
Thị trường cạnh tranh độc quyền gồm rất nhiều người mua và người
bán không tuân theo giá thị trường thống nhấtmà dao động trong khoảng
rộng. Sở dĩ họ làm được như vậy là vì doanh nghiệp có thể có những phương
án hàng hoá khác nhau, sản phẩm hiện thực có thể khác nhau chất lượng, tính
chất, dịch vụ… Người mua có thể thấy sự chênh lệch về gía chào bán và sẵn
sàng mua ở các giá khác nhau. Chính sách gía trong thị trường này đặc biệt
phát huy tác dụng, ngoài ra doanh nghiệp có thể sử dụng các biện pháp yểm
trợ bán hàng khác.
+ Cạnh tranh độc quyền tập đoàn 21
Là thị trường bao gồm một số ít người bán rất nhạy cảm với chính sách
hình thành giá cả và chiến lược tiêu thụ của nhau, hàng hoá có thể giống hoặc
không giống nhau. Sở dĩ có ít người bán vì điều kiện gia nhập thị trường rất
khó khăn. Mmỗi người bán đều rất nhạy bén với chiến lược và hoạt động của


5.2.1. Lựa chọn mục tiêu định giá
Để có hiệu quả, việc định giá phải được tiến hành khi tập hợp các mục
tiêu của việc định giá phù hợp nhau và đã được phân định một cách rõ ràng:
mục tiêu định giá chủ yếu phải tương đồng với các mục tiêu chiến lược tiêu
thụ, ngoài ra có thể cần có các mục tiêu phụ. Các mục tiêu chủ yếu bao gồm
các mục tiêu như: tồn tại, tối đa hoá lợi nhuận hiện hành, dấn đầu về chỉ tiêu
thị phần, dẫn đầu về chi tiêu chất lượng, nhằm đảm bảo mức thu nhập trước,
cạnh tranh đối đầu, cạnh tranh không mang tính giá cả…
5.2.2. Phân tích sức cầu thị trường của doanh nghiệp
Mỗi mức giá của doanh nghiệp sẽ dẫn tới một mức cầu khác nhau và do
vậy, có hiệu lực của mục tiêu tiêu tụ khác nhau. Sự thay đổi của cầu thro từng
mức giá được thể hiện qua độ co giãn của đường cầu theo giá của mặt hàng
doanh nghiệp. Hệ số co giãn của cầu theo giá là tỉ lệ phần trăm thay đổi của
cầu khi có một phần trăm thay đổi về giá:
Q
1
- Q
0
P
1

giảm đi trong cầu ít hơn. Nhu cấu ít co giãn trong những trường hợp như:
- Có ít hay không có những sản phẩm thay thế hoặc đối thủ cạnh tranh.
- Người mua không để ý tới giá cao.
- Người mua chậm thay đổi thói quyen mua sắm.
- Người mua nghĩ là giá cao do có cải thiện về chất lượng.
+ Ed >1, cầu co giãn, đường cầu thoai thoải, người bán sẽ giảm giá vì điều nay
làm mức tăng của cầu lớn hưn mức tăng trong giá, và do vậy, doanh thu tăng.
+ Ed =1, cầu co giãn đơn vị, doanh thu sẽ không thay đổi khi giá thay đổi. 24
5.2.3.Lượng định chi phí và cấu trúc của nó
Chi phí tạo cơ sở cho việc định giá mặt hàng. Nếu chi phí của doanh
nghiệp cao hơn chi phí của những đối thủ cạnh tranh khi bán một mặt hàng
tương đương, doanh nghiệp sẽ phải đề ra một mức bán cao hơn đối thủ hoặc
thu lãi ít hơn, và ở thế bất lợi về cạnh tranh.
5.2.4. Phân tích giá và chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp cần biết giá và chất lượng của đối thủ cạnh tranh. Doanh
nghiệp có thể cử người đi quan sát để khảo giá và so sánh với các chào hàng
của đối thủ. Mọt khi doanh nghiệp biết rõ giá và chất lượng chào hàng của đối
thủ, doanh nghiệp có thể sử dụng nó như một định hướng cho việc định giá
của mình. Nếu chất lượng chào hàng của doanh nghiệp tương đương đối thủ,
doanh nghiệp có thể định giá thấp hơn, nếu chất lượng cao, doanh nghiệp có
thể định giá cao hơn. Tuy nhiên doanh nghiệp phải ý thức được rằng, các
đối thủ có thể thay đổi giá để cạnh tranh với sản phẩm của mình.
5.2.5. Lựa chọn các kĩ thuật định giá bán sản phẩm
Doanh nghiệp có thể chọn một số phương pháp định giá bán sản phẩm
được nêu lên dưới đây (phần 6 cùng chương).
6. Một số phương pháp tính giá bán sản phẩm
6.1. Đối tượng tính giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status