;
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------
LÊ XUÂN THỌ
QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI
HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------
LÊ XUÂN THỌ
QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI
HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã ngành: 8340410
5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................................... 5
6.KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN ................................................................................... 6
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ
KINH DOANH CÁ THỂ ................................................................................................... 7
1.1. KHÁI QUÁT VỀ THUẾ VÀ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ .......................... 7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế ................................................. 7
1.1.2. Hộ kinh doanh cá thể ................................................................10
1.1.3. Các loại thuế đối với hộ kinh doanh cá thể .................................12
1.2. QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ ...............15
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu của quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể ................................................................................................15
1.2.2. Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể..............18
1.2.3. Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu thuế đối với HKD cá thể25
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI
HỘ KINH DOANH CÁ THỂ .....................................................................................28
1.3.1. Các nhân tố chủ quan................................................................28
1.3.2. Các nhân tố khách quan ............................................................31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH
DOANH CÁ THỂ TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA ............................34
2.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI THÀNH PHỐ SƠN LA .............................34
iii
2.2. KHÁI QUÁT VỀ CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN
LA
........................................................................................................................37
3.2. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ
KINH DOANH CÁ THỂ THÀNH PHỐ SƠN LA .................................................82
3.2.1. Giải pháp về quản lý người nộp thuế .........................................82
iv
3.2.2. Giải pháp về quản lý căn cứ tính thuế ........................................84
3.2.3. Giải pháp về quản lý thu nộp tiền thuế .......................................88
3.2.4. Giải pháp về quản lý thanh tra, kiểm tra thuế .............................89
3.3. KIẾN NGHỊ...........................................................................................................92
3.3.1. Với cơ quan thuế cấp trên..........................................................92
3.3.2. Với Nhà nước ...........................................................................93
KẾT LUẬN ........................................................................................................................96
v
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Ý nghĩa
Trang
Bảng 2.1
Mức độ hài lịng của khách hàng đối với cơng tác thu thuế
56
HKD
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình
Ý nghĩa
Trang
Hình 2.1
Số lượng doanh nghiệp và HKD có nghĩa vụ nộp thuế
42
TNDN tại Chi cục thuế thành phố Sơn La
Hình 2.2
Tổng số tiền thuế thu thu được
43
Hình 2.3
Hình 2.8
Đối chiếu chỉ tiêu 𝒀𝟒 , 𝒀𝟓 và 𝒀𝟔
55
Hình 2.9
Đối chiếu các chỉ tiêu 𝒁𝟏, 𝒁𝟓 và 𝒁𝟔
57
Hình 2.10
Đối chiếu các chỉ tiêu 𝒁𝟐, 𝒁𝟑 và 𝒁𝟒
58
Hình 2.11
Cơng tác quản lý nợ thuế tại chi cục Thuế thành phố Sơn La
60
Hình 2.12
Nhóm chỉ tiêu khác
61
Ngân sách nhà nước
5
TNCN
Thu nhập cá nhân
6
UBND
Ủy ban nhân dân
Đăng kí kinh doanh
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã làm cho các thành
phần kinh tế trong xã hội có điều kiện cạnh tranh một cách lành mạnh để phát triển
và dần khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế. Kinh tế của các HKD
trong đó bao gồm các HKD hoạt động trên nhiều lĩnh vực có đóng góp to lớn vào sự
phát triển kinh tế xã hội nói chung và đóng góp vào NSNN nói riêng. Với phạm vi
hoạt động rộng lớn và mang tính chất đa dạng phong phú, bộ phận này khơng
những đạt hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà hàng năm cịn đóng
góp vào số thu của ngân sách Nhà nước một tỷ lệ khá lớn. Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển của xã hội cũng như số lượng HKD, công tác quản lý thu thuế cũng gặp
chỉ tiêu này có giảm dần qua 5 năm như sau: năm 2016 tỷ lệ nghỉ giả là 2,1%, năm
2017 là 2,3%, năm 2018 là 2,2%, nhưng năm 2019 lại tăng vọt lên 6,6%. Đây là chỉ
số đáng lo ngại. Điều này cho thấy ý thức tự giác chấp hành pháp luật về thuế của
một số hộ chưa cao, cịn cố tình lợi dụng sơ hở để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế đối
với Nhà nước. Đồng thời qua đây cung cho thấy hiệu quả của công tác tuyên truyền
còn hạn chế, các biện pháp chế tài cịn chưa đủ mạnh nên tính răn đe chưa cao.
Xuất phát từ thực tiễn, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Quản lý thu thuế
đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La".
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong thời gian qua, các cơng trình nghiên cứu về quản lý thuế nói riêng và
quản lý thu thuế HKD nói chung tại Việt Nam khá đa dạng. Tuy nhiên, đa phần các
công trình này mới đề cập đến một khía cạnh nào đó của thuế.
Nghiên cứu kinh điển về vấn đề này có thể kể đến Joseph (1995, sửa đổi
2017). Tác giả này đã hệ thống các lý thuyết về ngân sách nhà nước, nguồn thu
ngân sách nhà nước và quản lý thu ngân sách nhà nước từ thuế của Mỹ và một số
nước châu Âu. Một trong những kế thừa lớn của ông là đã tổng hợp các lý thuyết đi
trước, bao gồm lý thuyết của Adam Smith, Keynes và Semuelson về động viên tiền
của nền kinh tế vào ngân sách nhà nước, từ đó nêu ra một số cách quản lý nguồn
3
này và sử dụng vào các dự án phát triển. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của
nghiên cứu này là mang tính sách giáo khoa quá nhiều, và được coi là một nguồn lý
thuyết gốc cho các nghiên cứu tiếp theo chứ không tập trung cụ thể vào nguồn nào,
cũng như không đưa ra được một nghiên cứu cụ thể về quản lý thuế - đặc biệt là
thuế thu nhập doanh nghiệp.
Kế thừa và phát triển học thuyết của Joseph thì có thể kể đến các nghiên cứu
khác trên thế giới như của Cuttaree (2016). Tác giả này nghiên cứu đến nguồn tài
trợ cho các dự án phát triển tại Mexico và Chile – chủ yếu bằng nguồn hình thành từ
Nguyễn Thanh Phong (2018), Nguyễn Minh Ánh (2017), Phạm Xuân Hòa (2014)
đều đã tìm hiểu các nghiên cứu về quản lý thuế tại Việt Nam, và đi từ góc độ định
tính đến định lượng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế. Đặc
biệt, Phạm Xuân Hòa (2014) đã đánh giá được tác động của từng yếu tố được nêu
trong nghiên cứu của Banks (2008) đến hệ thống thuế Việt Nam, từ đó đưa ra một
số hàm ý chính sách đối với các cơ quan quản lý. Tuy nhiên, tác giả này để ngỏ một
phần hàm ý chính sách và thực tiễn tại các vùng biên giới, vốn được coi là phức tạp
và có nhiều đối tượng trong nền kinh tế hoạt động.
Khoảng trống nghiên cứu: từ các nghiên cứu nước ngồi và nghiên cứu trong
nước, có thể thấy, cịn một số hướng nghiên cứu để lại, đó là nghiên cứu về quản lý
các nguồn hình thành thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập
cá nhân tại các nước đang phát triển, hoặc các nước sau hội nhập. Một vấn đề cũng
đáng lưu tâm là hiện tại, quá trình hội nhập đang diễn ra rất mạnh mẽ, và những yêu
cầu về tránh đánh trùng thuế cũng đang để lại nhiều yêu cầu cấp bách. Tóm lại, các
nghiên cứu trước đây tại trong nước và quốc tế đã đề cập đến nhiều lĩnh vực trong
quản lý thuế, song khơng có nghiên cứu nào đề cập sâu đến vấn đề tăng cường thu
thuế thu nhập doanh nghiệp, nhằm tránh thất thốt. Do đó, đề tài của tác giả chọn
nghiên cứu là đề tài mới, không trùng lắp với các vấn đề đi trước.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu: đề xuất được một số giải pháp và kiến nghị có cơ sở khoa
học và thực tiễn để hoàn thiện và tăng cường quản lý thu thuế đối với HKD tại chi
cục thuế thành phố Sơn La.
5
Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống những vấn đề lí luận cơ bản về quản lý thu thuế
đối với HKD tại 1 đơn vị hành chính cấp thành phố. Phân tích thực trạng quản lý
thu thuế đối với HKD dựa trên những nội dung quản lý và chỉ tiêu đánh giá, từ đó
đánh giá xem chi cục thuế thành phố Sơn La đã làm được những vấn đề gì đối với
Chương 1: Lý luận chung về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Chương 2: Thực trạng quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa
bàn Thành phố Sơn La
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá
thể trên địa bàn Thành phố Sơn La
7
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.1. KHÁI QUÁT VỀ THUẾ VÀ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế
Khái niệm về thuế
Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước và ngân sách của địa
phương. Mặc dù đã ra đời từ lâu, song rất khó có một định nghĩa chung nhất về thuế
cho tất cả các quốc gia trên thế giới.
Joseph (1995) cho rằng: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể
nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định
nhằm sử dụng cho mục đích cơng cộng”. Đây là quan điểm tổng quát nhất về thuế,
nhưng gây ra cảm giác hiểu lầm là thuế có thể hồn trả. Do đó, các quan điểm về
sau thường cho rằng: phải thêm tính chất hồn trả của vấn đề vào định nghĩa thuế.
Theo Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu (2012, trang 15) thì: “Thuế là
một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và cá nhân cho nhà nước theo mức độ
và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích cơng cộng, được
nhà nước quy định bằng văn bản pháp luật và khơng mang tính hồn trả trực tiếp”.
Như vậy, về cơ bản, hoạt động đánh thuế và nộp thuế chịu sự quản lý của các cơ
quan nhà nước thông qua các văn bản pháp luật và các hướng dẫn dưới luật, nhằm
tạo nguồn để phân phối lại thu nhập trong xã hội, chi trả cho các hoạt động của
chính phủ cũng như đầu tư mới.
kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt
buộc”. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức
phân phối của Nhà nước, theo đó nhà nước sử dụng quyền lực của mình bắt buộc
người dân và các tổ chức phải chuyển giao một phần thu nhập cho Nhà nước mà
không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho NNT. Điều
này xuất phát từ quyền lực có tính chất cưỡng chế đơn phương của nhà nước. Do
việc nộp thuế mang tính bắt buộc gắn với quyền lực của Nhà nước mà NNT khơng
có quyền từ chối nộp thuế, cũng khơng có quyền tự ấn định hay thoả thuận mức
9
đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp hành. Nhờ đó, Nhà nước mới có nguồn
thu ổn định thường xuyên đảm bảo tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu công. Việc sử
dụng quyền lực nhằm cưỡng chế NNT phải tuân thủ pháp luật thuế, song việc
không tự nguyện hoặc có hành vi trốn nộp thuế cũng ảnh hưởng đến hiệu quả thu
thuế. Vì vậy, việc tuyên truyền giáo dục tâm lý chấp nhận nộp thuế và nâng cao ý
thức tuân thủ của NNT luôn được coi trọng trong cơng tác quản lý thuế.
(2) Tính khơng hồn trả trực tiếp
Tính chất khơng hồn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế không
phải là khoản thù lao mà NNT phải trả cho Nhà nước do được hưởng các hàng hố
cơng mà nhà nước cung cấp cho NNT thông qua các dịch vụ công cộng của nhà
nước. Sự khơng hồn trả trực tiếp được thể hiện cả trước, trong và sau khi thu thuế:
(i) Tại thời điểm nộp thuế, NNT khơng được hưởng bất kỳ một lợi ích nào và cũng
khơng được quyền địi hồn trả số thuế đã nộp cho nhà nước; (ii) Trước khi thu
thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT;
và (iii) Sau khi nộp thuế, cũng khơng có sự bồi hồn trực tiếp nào từ Nhà nước cho
NNT. Nhìn chung, NNT phải chấp nhận sự khơng hồn trả đó và coi đó là nghĩa vụ
thuế của mình đối với xã hội.
(3) Tính định trước trong pháp luật và tính pháp lý cao
Các khoản nộp thuế và mức nộp thuế đã được luật pháp quy định trước và
đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế
chung. Một số thuật ngữ khác được dùng để thay thế thuật ngữ “hộ kinh doanh cá
thể” là “hộ”, “hay “hộ sản xuất”.
Theo điều 106 về “Hộ gia đình”, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Hộ gia
đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp cơng sức để hoạt động
kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất,
kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự
thuộc các lĩnh vực này.”
Tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP có định nghĩa rất rõ hộ gia đình hoạt động sản
xuất kinh doanh là “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một
11
nhóm người gồm các cá nhân là cơng dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một
địa điểm, sử dụng không quá mười lao động và chịu trách nhiệm bằng tồn bộ tài
sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Do có quy mơ nhỏ nên trong trường
hợp gặp điều kiện thuận lợi, hộ có thể huy động mọi nguồn lực để đầu tư, khi gặp
điều kiện bất lợi có thể thu hẹp quy mơ sản xuất. Tuy nhiên, thiếu vốn để mở rộng
kinh doanh là một trong những vấn đề khó khăn thường thấy ở các hộ gia đình.
Chính vì vậy, việc tạo điều kiện để các hộ tiếp cận với tín dụng có vai trị quan
trọng trong việc phát triển sản xuất kinh doanh.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu rằng hộ kinh doanh cá thể là một đơn vị sản
xuất cơ bản vừa kinh doanh vừa tiêu dùng. Nó sử dụng nguồn nhân lực tự có, quy
mơ sản xuất nhỏ, ngành nghề đa dạng phong phú, và vốn kinh doanh chủ yếu từ tiết
kiệm trong hộ.
Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể
Về nhân lực: Hộ gia đình chủ yếu sử dụng nguồn lực tự có trong gia đình, bạn
bè thân thuộc. Cụ thể hơn, hộ kinh doanh cá thể mang tính chất của một hộ gia đình,
hoạt động dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của chính bản thân và những người
Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ
phát sinh trong q trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Như vậy, bản chất
của thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu. Các nhà sản xuất, kinh doanh và
cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng mới là người chịu thuế
thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ.
Là một loại thuế độc lập nên thuế giá trị gia tăng cũng có những đặc điểm
riêng biệt để phân biệt nó với các loại thuế khác như sau:
Một là, thuế giá trị gia tăng có đối tượng chịu thuế rất lớn. Đó là mọi đối
tượng tồn tại trong xã hội, kể cả cá nhân và tổ chức đều phải chi trả thu nhập của
mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho xã hội. Việc đánh thuế
trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tượng thể hiện sự công bằng của thuế, đồng thời
thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội. Đối với
trường hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế việc trả tiền thuế của người
13
tiêu dùng, Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp
nhất.
Hai là, thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa
dịch vụ. Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà khơng phải đối với tồn
bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế giá trị gia tăng áp dụng trong mỗi khâu
của quá trình lưu thơng khơng gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng.
Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế giá trị gia tăng với những loại thuế gián
thu khác. Nếu như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh một lần ở khâu sản xuất hay nhập
khẩu hàng hóa, dịch vụ; thuế xuất – nhập khẩu chỉ đánh ở khâu xuất hoặc nhập khẩu
thì thuế giá trị gia tăng lại đánh ở tất cả các khâu của q trình sản xuất, lưu thơng
hàng hóa.
Ba là, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế giá trị
gia tăng phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau.
Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thơng hàng hóa trong nước,
hơn tốc độ tăng của thu nhập.
Đối với hộ kinh doanh cá thể, khi nộp thuế giá trị gia tăng và TNCN cịn có
đặc điểm sau:
- Cá nhân nộp thuế khoán khai thuế khoán một năm một lần tại Chi cục Thuế
nơi cá nhân có địa điểm kinh doanh và khơng phải quyết tốn thuế.
- Cá nhân nộp thuế khốn sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế thì ngồi việc
khai doanh thu khốn, cá nhân tự khai và nộp thuế đối với doanh thu trên hóa đơn
theo q.
- Cá nhân kinh doanh theo hình thức hợp tác kinh doanh với tổ chức, tài sản
tham gia hợp tác kinh doanh thuộc sở hữu của cá nhân, khơng xác định được doanh
thu kinh doanh thì cá nhân ủy quyền cho tổ chức khai thuế và nộp thuế thay theo
phương pháp khốn. Tổ chức có trách nhiệm khai thuế và nộp thuế thay cho cá nhân
nộp thuế theo phương pháp khoán tại cơ quan thuế quản lý tổ chức.
15
1.2. QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu của quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá
thể
Khái niệm
Quản lý thu thuế đối với HKD cá thể là một phần của quản lý nhà nước về
kinh tế. Theo Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2008): “Quản lý nhà nước về kinh
tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc
dân, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngồi nước, các
cơ cấu có thể có để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra, trong điều
kiện hội nhập và giao lưu quốc tế”.
Theo Dương Thị Bình Minh (2005): quản lý thuế là những biện pháp nghiệp
vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách nhà nước thực hiện; là những hoạt động
thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế
đầy đủ kịp thời và đúng luật định. Như vậy, theo quan điểm này quản lý thuế là
Quản lý thu thuế đối với HKD cá thể có vai trị quyết định trong việc tổ chức,
triển khai và thực hiện hệ thống các chính sách thuế đối với HKD cá thể trong thời kỳ
đi với cuộc sống.
Quản lý thu thuế của HKD giúp các nhà lãnh đạo nhận ra điểm mạnh, điểm
yếu của bộ máy thu thuế, theo đó kịp thời xây dựng một bộ máy thu thuế khoa học,
đảm bảo tuân thủ theo các quy tắc quản lý nhà nước về kinh tế, nguyên tắc quản lý
thuế cơ bản bản như: tập trung dân chủ, cơng khai, tiết kiệm và hiệu quả, nhờ đó
cho phép hệ thổng chính sách thuế đối với HKD cá thể đặt ra hoạt động ổn định và
đạt được những mục tiêu đề ra trong thời kỳ.
Bên cạnh đó, Quản lý thu thuế đối với HKD cá thể tốt sẽ giúp cơ quan thuế
nhận ra và giải quyết các vấn đề phát sinh để tập trung và kịp thời huy động đầy đủ
số thu cho Ngân sách nhà nước.
Thêm vào đó, Quản lý thu thế TNDN tốt sẽ giúp hệ thống thế TNDN không
ngừng phát triển, nuôi dưỡng các nguồn thu, hỗ trợ người nộp thuế trong quá trình
chấp hành luật thuế TNDN, tạo ra sự công bằng, hiệu quả, minh bạch trong quá
trình quản lý thu thuế.