CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH - Pdf 72

Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK Hà Nội
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH
TÀI CHÍNH
I. Giới thiệu chung về hoạch định tài chính
1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp
với các chủ thể khác trong nền kinh tế, bao gồm: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà
nước (quan hệ này phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà
nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp); quan hệ giữa doanh nghiệp với thị
trường tài chính (phát sinh khi doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ hay khi
doanh nghiệp mang tài sản nhàn rỗi đi đầu tư); quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp (là
mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh,giữa quyền sử dụng vốn và quyền
sở hữu vốn) và quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác như thị trường
hàng hoá dịch vụ, thị trường lao động…
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Nói cách khác, tài chính
doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với công việc tổ chức, huy động,
phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong kinh doanh.
Thông qua các thị trường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hoá dịch vụ cần cung ứng.
Trên cơ sở đó kết hợp với năng lực hoạt động của bản thân, doanh nghiệp có thể tiến
hành lập kế hoạch sản xuất, xác định được ngân sách đầu tư cho các kế hoạch hoạt
động. Việc này đòi hỏi phải được tài trợ bằng một lượng vốn nhất định và để ước
lượng được lượng vốn đó là bao nhiêu, doanh nghiệp sẽ tiến hành huy động bằng
hình thức nào (đi vay hay phát hành cổ phiếu…) thì các nhà lập kế hoạch thực hiện
hoạch định tài chính.

2. Hoạch định tài chính doanh nghiệp
1
Lê Thị Thảo Lớp TCKT -K48

để làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu đặt ra, giúp
doanh nghiệp tận dụng được các lợi thế, nắm bắt các cơ hội và khắc phục hoặc tránh
được các khó khăn có thể sẽ gặp phải.
2
Lê Thị Thảo Lớp TCKT -K48
2
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK Hà Nội
Hoạch định tài chính giúp các nhà quản lý tài chính đưa ra được những dự
đoán có tính khoa học và logic về vị thế tài chính trong tương lai của doanh nghiệp
dựa trên những cơ sở lý thuyết đã được nghiên cứu và được chấp nhận rộng rãi.
Hoạch định tài chính doanh nghiệp gắn với sự điều khiển các hoạt động kinh
tế của từng phòng ban chức năng, từng bộ phận, đơn vị sản xuất kinh doanh, đồng
thời nó là công cụ hữu hiệu để liên kết các hoạt động của các phòng ban, các đơn vị
sao cho việc sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả và hiệu quả cao nhất.
3. Phương pháp sử dụng để hoạch định tài chính:
Hiện nay có 3 phương pháp hoạch định tài chính doanh nghiệp: phương pháp
tỷ lệ % doanh thu, phương pháp phân tích hồi quy và phương pháp lập dự toán tổng
hợp. Phương pháp thường sử dụng là phương pháp hoạch định theo % doanh thu.
Phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu là phương pháp khá đơn giản. Phương
pháp này giả thiết rằng tất cả các chi phí thành phần sẽ chiếm một tỷ lệ ổn định trong
doanh thu bán tương lai, không thay đổi so với tỷ lệ của chúng trong quá khứ. Các số
liệu quá khứ được sử dụng là tỷ lệ trung bình của những năm gần nhất. Thông thường
lấy tỷ lệ trung bình của hai năm gần nhất để tính toán ra tỷ lệ trung bình.
Sau khi tính toán ra tỷ lệ phần trăm trung bình so với doanh thu và dự toán
được doanh thu tương lai ta nhân doanh thu dự toán với tỷ lệ phần trăm trung bình để
ra được giá trị của các khoản mục. Nếu doanh nghiệp phân chia lợi tức cổ phần thì
còn tuỳ thuộc vào quyết định của hội đồng quản trị nên không dựa trên số liệu quá
khứ.
Thực chất của phương pháp này là lập các bảng cân đối dự toán (các báo cáo
tài chính trong tương lai) của doanh nghiệp và dự kiến các biện pháp cần thiết để làm

Nhu cầu vốn bổ sung là lượng vốn mà công ty cần huy động thêm từ bên
ngoài bằng cách vay hoặc phát hành trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu đại
chúng. Việc dự báo nhu cầu vốn bổ sung thường gồm 3 nội dung:
+ Xác định lượng vốn mà công ty sẽ phải cần đến cho một hạn định trước.
+ Xác định lượng vốn mà công ty có thể huy động nội tại từ chính hoạt động
kinh doanh của mình (vốn tự phát sinh).
+ Xác định lượng vốn mà công ty cần phải huy động từ bên ngoài.
Vốn tự phát là phần vốn mà công ty có được một cách tự động nhờ các nghiệp
vụ thường kỳ của hoạt động kinh doanh, gồm:
+ Khoản phải trả (tiền nợ bạn hàng khi mua chịu).
+ Nợ tích luỹ hay còn gọi là nợ hạn mức hoặc nợ định kỳ (trả lương, thuế và
bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội giữa các kỳ thanh toán).
Gia số lợi nhuận giữ lại: Là phần lợi nhuận hàng năm mà doanh nghiệp có thể
để lại nhằm tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
4. Căn cứ để hoạch định tài chính doanh nghiệp:
Những phân tích, dự báo về tình trạng nền kinh tế quốc gia, ngành nghề hoạt
động của doanh nghiệp.
Kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp.
4
Lê Thị Thảo Lớp TCKT -K48
4
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK Hà Nội
Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp:
+Bảng cân đối kế toán
+ Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
+ Thuyết minh báo cáo tài chính
Chính sách đầu tư của doanh nghiệp.
Các chỉ số tài chính mục tiêu của doanh nghiệp.
II. Trình tự của công tác hoạch định tài chính
1. Lập báo cáo thu nhập dự toán cho kỳ kế hoạch

BCĐKT
TSLĐ
TSCĐ
TTS
NNH (2)
NDH
CFƯĐ
CPĐC (2)
nguồn vốn
BCTN
Doanh thu
Chi bằng tiền
Khấu hao
EBIT
Lãi vay
EBT
Thuế
Lãi trước CTƯĐ
NI
CTĐT
Gia số RE
6
Lê Thị Thảo Lớp TCKT -K48
6
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK Hà Nội
(2)
(0)
NHU
CẦU
VỐN

(8)
VỊ THẾ TÀI CHÍNH TƯƠNG LAI
(9)
(8)
(9)
8
Lê Thị Thảo Lớp TCKT -K48
8
Đồ án tốt nghiệp Trường ĐHBK Hà Nội
+ Dự báo về tình hình kinh tế của quốc gia, của khu vực, ngành nghề kinh doanh và
nhu cầu thị trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp; xem xét cả nhu cầu và cạnh tranh
từ phía các nhà sản xuất khác.
Nếu dự báo doanh thu không chính xác thì sẽ kéo theo sự không chính xác hàng loạt
vì có nhiều biến số dự báo khác nhau có mối liên hệ với mức doanh thu bán hàng ước tính.
Do đó tính chính xác của dự báo tài chính tổng thể phụ thuộc phần lớn vào việc dự báo
doanh thu. Việc dự báo doanh thu sát thực sẽ giúp cho doanh nghiệp có khả năng thoả mãn
khách hàng theo hướng phục vụ mà doanh nghiệp đã chuẩn bị trước, từ đó góp phần cho
doanh nghiệp giữ được thị phần và không bỏ lỡ cơ hội làm ăn của mình. Mặt khác, việc dự
báo doanh thu tốt sẽ tránh dược những tổn thất về mặt chi phí (như chi phí cho dự trữ và
khấu hao), tránh được sự sụt giảm vị thế tài chính của doanh nghiệp.
Trong hoạch định tài chính, có nhiều phương pháp dự báo doanh thu. Các phương
pháp này chủ yếu sử dụng những kỹ năng thống kê hoặc đánh giá theo trực quan của người
làm dự báo. Một số những đặc điểm dự báo nói chung đó là:
+ Dự báo phụ thuộc vào những mối quan hệ giữa thông tin quá khứ và thông tin
hiện tại. Nếu mối quan hệ thay đổi thì dự báo sẽ không chính xác.
+Việc dự báo muốn chính xác thì cần có sự điều chỉnh thích hợp.
+ Thời gian dự báo càng dài thì độ chính xác càng giảm do có sự thay đổi của môi
trường kinh doanh.
* Một số phương pháp dự báo doanh thu:
Ngày nay, khi tiến hành dự báo, người ta ít khi sử dụng đơn lẻ từng nhóm phương

n : Số năm sử dụng
Nếu có thể gán trọng số tương ứng cho số liệu mỗi kỳ trong quá khứ để thể hiện
mức độ ảnh hưởng của nó đến kết quả dự báo thì độ chính xác của phương pháp này sẽ cao
hơn.
Khi đó:
Y
t+1
= ∑ Y
t-i
× α
t-i
α
t-i.
: Trọng số của kỳ t-i với ∑ α
t-i.
= 1
Độ chính xác của phương pháp này phụ thuộc vào việc gán trọng số cho số liệu mỗi
kỳ trong quá khứ sao cho hợp lý nhất.
- Phương pháp san bằng hàm số mũ giản đơn:

Y
t+1
= αY
t
+ (1 – α) × Y
t
Y
t
: Giá trị doanh thu kỳ hiện tại.
Y


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status