CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 72

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Khi nói đến DNNVV là nói đến quy mô của doanh nghiệp. DNNVV là
những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
DNNVV có thể chia thành 3 loại cũng căn cứ vào quy mô, đó là doanh nghiệp siêu
nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng
Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10
người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến 50 người, còn doanh
nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước người ta có tiêu chí riêng để
xác định DNNVV ở nước mình. Có thể một doanh nghiệp đối với quốc gia này là
doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng đối với nước khác là doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên
không thể áp dụng khuôn mẫu cho tất cả các nước mà còn tuỳ vào sự phát triển
kinh tế của nước đó, tuỳ từng lĩnh vực ngành nghề và tuỳ từng giai đoạn nhất định.
Có thể đưa ra khái niệm chung nhất về DNNVV như sau: “ DNNVV là những cơ
sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi
nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các
tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kì
theo quy định của từng quốc gia.”
Theo Điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-CP, ngày 23/11/2001 của Chính phủ về
trợ giúp phát triển DNNVV thì “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh
doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký
không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
người”. Theo cách xác định trên thì hiện nay nước ta có khoảng 270.000 doanh
nghiệp và hộ kinh doanh cá thể là DNNVV, chiếm tới 90% tổng số doanh nghiệp
trên toàn quốc.
Theo Nghị định 90/CP thì DNNVV gồm các loại sau: Doanh nghiệp tư nhân,
Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã, hộ kinh

của DNNVV đòi hỏi nguồn vốn bổ sung không nhiều lại có thể thu hồi vốn nhanh.
Lợi thế này giúp cho các DNNVV nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá bán giúp
tồn tại trên thị trường. Tuy nhiên do tài chính thấp nên các DNNVV khó có thể tiếp
cận được với công nghệ mới, các sản phẩm đưa ra thị trường không có tính cạnh
tranh.
* Năng lực quản trị điều hành của chủ DNNVV kém, còn thói quen điều
hành quản trị theo kiểu gia đình. Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ
ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá
trình sản xuất. Các chủ doanh nghiệp thường là những người chưa được qua đào
tạo về quản lý, phần lớn thiếu hiểu biết về pháp luật. Một số Luật nhiều doanh
nghiệp không nắm được như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng,
Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh. Chính vì vậy nhiều doanh nghiệp vi phạm
pháp luật mà cán bộ quản lí không biết.
1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế.
Vai trò của DNNVV được thể hiện trên các mặt sau:
* DNNVV góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm mới cho người lao
động, giảm bớt áp lực về việc làm và thất nghiệp. Hiện nay, giải quyết việc làm
cho người lao động góp phần ổn định trật tự xã hội là vấn đề nan giải và cấp thiết
cho nhiều quốc gia. Tỷ lệ lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước và cơ quan
hành chính sự nghiệp có chiều hướng giảm. Trong hoàn cảnh này các DNNVV
ngoài quốc doanh trở thành nơi giải quyết nhu cầu về việc làm cho số lao động
được tinh giảm trong các doanh nghiệp và hệ thống hành chính Nhà nước. Các
DNNVV còn là nơi tạo ra việc làm cho số lượng lớn những người mới tham gia
vào lực lượng lao động hàng năm. Nhìn chung các DNNVV là nguồn chủ yếu tạo
ra việc làm trong tất cả các lĩnh vực. Các DNNVV thường được dễ dàng thành lập
với quy mô vốn không lớn, mặt khác nó có khả năng đáp ứng được nhu cầu thay
đổi của thị trường. Vì thế, tuy số lượng lao động trong các DNNVV là ít nhưng
theo quy luật số đông với số lượng rất lớn các DNNVV như vậy đã tạo ra công ăn
việc làm cho hàng triệu người lao động.

thu nhập lớn cho doanh nghiệp, đồng thời thu về một khối lượng lớn ngoại tệ cho
dự trữ ngoại hối quốc gia.
* Bên cạnh đó, DNNVV còn góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn
đầu tư trong dân cư, đồng thời khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực của
địa phương. Với quy mô hoạt động nhỏ và vừa thì DNNVV là mô hình đầu tư phù
hợp cho những chủ thể có nguồn vốn và trình độ hạn chế muốn tham gia kinh
doanh. Trong quá trình hoạt động của mình, các DNNVV có khả năng huy động
vốn từ họ hàng, người thân, từ bạn bè...đây được coi là phương tiện hiệu quả trong
việc huy động vốn từ các tầng lớp dân cư. Số lượng các DNNVV đông và thường
phân tán ở hầu khắp các địa phương, chính vì thế sẽ tận dụng được lao động,
nguyên nhiên vật liệu, các sản phẩm phụ, phế liệu ở các địa phương.
1.1.2 Tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2.1 Khái niệm
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người
sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định quay về với một lượng giá
trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Trên cơ sở khái niệm tín dụng có thể khái niệm về tín dụng ngân hàng như
sau: Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân
hàng thương mại hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân,
doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản
cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi
vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi
đến hạn thanh toán.
1.1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
a. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của
doanh nghiệp trong đó có các DNNVV. Tuy nhiên khu vực này đang gặp khó khăn
về vốn. Đa phần các DNNVV có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ lại luôn trong
tình trạng thiếu vốn, “khát vốn” cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư
cải tiến máy móc, trang thiết bị mới. Nhưng vốn huy động từ các dự án, hay nguồn

to lớn với mức lãi suất phù hợp đảm bảo cho doanh nghiệp kinh doanh có lãi, giúp
doanh nghiệp thực hiện được mục đích của mình, mở rộng sản xuất kinh doanh,
chiếm lĩnh thị phần.
b. Đối với sự phát triển kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày
càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nước trên thế giới
ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc qia
luôn gắn chặt với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành
nên sự phát triển đó. Vì vậy, nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập với
nền tài chính quốc tế và ngân hàng thương mại cùng các hoạt động kinh doanh của
mình đã đóng một vai trò quan trọng trong sự hoà nhập này.Với các hoạt động kinh
doanh của mình, ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương
không ngừng được mở rộng. Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh
ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại nước ngoài, hệ thống
ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù
hợp với nền tài chính quốc tế.
Bên cạnh đó, bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng
thương mại trong hệ thống, các ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng khối
lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các
ngành trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng
tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu
quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô: “ Nhà nước điều tiết ngân hàng,
ngân hàng dẫn dắt thị trường”.
Tín dụng ngân hàng còn là kênh tài trợ vốn cho nền kinh tế. Muốn có nhiều
vốn phải tăng thu nhập quốc dân và có mức độ tiêu dùng hợp lý. Để tăng thu nhập
quốc dân tức là phải mở rộng quy mô theo chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và
lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế và
muốn làm được điều đó cần thiết phải có vốn. NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu
cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế và thông qua hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status