Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của đơn vị - Pdf 72

Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của đơn vị
I.Hoạt động sản xuất kinh doanh 2004-2007
Qua điều tra theo dõi và thu thập số liệu ở đơn vị trong quá trình thực tập em thấy
từ khi thành lập đến nay công ty đã thu được những thành tựu đáng kể ổn định tình hình
hoạt động dần đi vào hiệu quả, nâng cao đời sống người lao động.
Theo báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Chi Nhánh 4 năm trở lại ta có
bảng thống kê sau:
Bảng 2: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004-2007

Năm
Chỉ tiêu
Đ
VT
2004 2005 2006 2007
Giá trị sản
xuất
trđ 10.400 24.760 33.466 44.365
Tổng doanh
thu
trđ 6.300 25.219 30.329 31.100
Nộp Ngân
sách
1000đ 383.235 531.235 1.027.220 1.444.552
Lợi nhuận đồng 324.572.604 1.458.062.618 1.631.942.732 2.547.654
Tổng quỹ
lương
1000đ 1.879.005 3.102.951 2.830.271 4.794.065
Thu nhập
bình
quân/người/thá
ng

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về nguồn nhân lực nhưng nói chung tất cả đều cho rằng
"nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc cho tổ chức
đó." Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người. Do đó nguồn nhân lực là tổng
hợp các nguồn lực của các cá thể khác nhau trong tổ chức tham gia vào quá trình lao
động.
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của tổ chức, nó là một
trong những nguồn lực không thể thiếu của tổ chức. Mặt khác nguồn nhân lực là yếu tố
biến đổi theo thời gian. Do đó để có thể quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực
tổ chức cần thường xuyên xem xét đánh giá nguồn nhân lực của mình trên các giác độ
khác nhau. Nguồn nhân lực của tổ chức thường được đánh giá về cả lượng và chất.
Về mặt số lượng được thể hiện qua các chỉ tiêu quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng nguồn
nhân lực trong tổ chức. Các chỉ tiêu này còn tuỳ thuộc vào quy mô của tổ chức, đặc
điểm công việc và sự phức tạp của hoạt động, trình độ của nhân lực và quản lý nhân lực,
quan hệ sở hữu của tổ chức và các quan hệ giữa công nhân với lãnh đạo...Về mặt chất
lượng thì được đánh giá qua các yếu tố thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức.
2. Vai trò của nguồn nhân lực:
Con người là yếu tố đặc biệt quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá
trình phát triển. Con người là nhân tố đóng vai trò rất quan trọng trong quản trị một tổ
chức, các mục tiêu và nhiệm vụ của quản trị chỉ đạt được thông qua con người. Hay nói
một cách đầy đủ hơn: hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chỉ đạt được nếu huy động
được sự nỗ lực, nhiệt tình và tích cực của con người trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Một số người coi “vốn” là quan trọng nhất trong sự phát triển của ngành, và một số
khác lại coi “công nghệ” là yếu tố chính. Thực ra, cả hai nhân tố nói trên đều quan
trọng, nhưng nguồn vốn cũng có thể bị con người sử dụng sai, và các tiêu chuẩn cao về
công nghệ có thể sẽ không bao giờ được duy trì nếu thiếu những nỗ lực của con người
nhằm phát triển nguồn nhân lực thích hợp và nỗ lực không ngừng nhằm cải tiến các tiêu
chuẩn này. Những nỗ lực không ngừng nhằm nâng cấp tiêu chuẩn công nghệ là cực kỳ
quan trọng trong thời đại ngày nay khi mà công nghệ phát triển rất nhanh.
Ở nước ta, nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với quá trình
công nghiệp hoá, hiên đại hóa của đất nước, Nhà nước ta đã lấy việc phát huy yếu tố

phải tự học; và cũng có cả những trường hợp những người có bằng cấp nhưng khả năng
lại rất hạn chê hoặc những người mua bằng cấp. Vì vậy khi đánh giá trình độ văn hóa
của người lao động doanh nghiệp không chỉ xét đến bằng cấp mà còn phải tính đến khả
năng thực tế của người lao động.
+ Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Là những kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về một
lĩnh vực nào đó. Trình độ chuyên môn kỹ thuật thể hiện khả năng ứng dụng các lý
thuyết đã học vào thực tế, hay nói cách khác nó thể hiện khả năng làm việc của người
lao động có hiệu quả hay không. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ có thể được đánh giá
qua các bằng cấp chuyên môn vùa người lao động. Như đối với công nhân kỹ thuật trình
độ chuyên môn nghiệp vụ thể hiện qua bậc thợ, đối với lao động quản lý là các bằng cấp
chuyên ngành đại học, cao đẳng…
Hiện nay trong điều kiện nền kinh tế hội nhập khi nói đến trí lực của người lao động
các doanh nghiệp còn xét đến trình độ tin học và tiếng anh( đặc biệt là với lao động
quản lý, lao động chuyên môn).
* Thể lực của người lao động:
Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ,
mức sống, thu nhâp, chế độ ăn uống nghỉ ngơi...Người lao động chỉ làm việc hiệu quả
nhất khi có sức khoẻ tôt, do đó nên thể lực là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưỏng đến
năng suât lao động.
*Phẩm chất đạo đức của người lao động được thể hiện thông qua tính cách ý thức
chấp hành kỷ luật, các mối quan hệ với các đồng nghiệp trong tổ chức, đạo đức nghề
nghiệp…Ngày nay phẩm chất đạo đức vẫn là một yếu tố không thể thiếu khi đánh giá
chất lượng lao động. Vì nếu không có đạo đức tốt thì dù có tài đến mấy thì cũng không
đem lai lợi ích của doanh nghiệp. Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “ có tài mà
không có đức thì là người vô dụng…”.
Ba yếu tố trí lực, thể lực, phẩm chất đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ, có tác động
qua lại lẫn nhau; với nó kết hợp với nhau cho thấy cái nhìn chính xác nhất về chất lượng
nguồn nhân lực. Một lao động chỉ làm việc tốt nhất hiệu quả nhất khi họ có đủ cả trình
độ, sức khoẻ, đạo đức tốt. Dù có tri thức mà không có sức khẻo thì những tri thức đó
cũng hữu dụng. Phẩm chất đạo đức giúp trí lực và thể lực được phát triển và tăng hiệu

T
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
I.Tổng số
nhân viên
N
gười
120 180 287 331
-Biên chế N
gười
34 36 81 84
-Hợp đồng
dài hạn
N
gười
50 70 106 99
-Hợp đồng
ngắn hạn
N
gười
36 74 100 148
( Nguồn phòng kế hoạch kỹ thuật)
Qua bảng báo cáo tăng giảm lao động ta thấy lao động của chi nhánh có xu hướng
tăng trong những năm gần đây chứng tỏ quy mô sản xuất kinh doanh của chi nhánh

1 Lao động gián
tiếp
người 44 40 42 90,9 105
2 Lao động trực tiếp người 296 291 309 98,3 106,2
3 Tổng quân số người 3
40
3
31
352 97,4 106,3
4 Tỷ lệ trực tiếp
Tổng quân số
% 87,1 87,92 87,94 100,94 100,02
(Nguồn phòng kế hoạch kỹ thuật)
Từ bảng số liệu trên ta thấy, do đặc điểm của ngành xây dựng các hoạt động chủ
yếu diễn ra trên công trường, cần nhiều lao động trực tiếp thi công công trình, nhiều
công nhân làm việc trong các đội các phân xưởng là nhiều nên tỷ lệ lao động trực tiếp
khá cao chiếm đến 87,92% tổng số lao động và tỷ lệ này có xu hướng tăng theo thời
gian. Theo kế hoạch số lao động trực tiếp năm 2008 sẽ tăng 6,2 % và tỷ lệ lao động trực
tiếp/ tổng số lao động tăng 0,02% so với năm 2007, điều này cho thấy nhu cầu lao động
trên công trường của doanh nghiệp ngày càng tăng do tình hình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp ngày càng mở rộng. Trong khi đó lượng lao động gián tiếp theo kế hoạch
năm 2008 lại giảm 5% so với thực tế năm 2007.
1.3.Theo giới tính:
(Nguồn phòng kế hoạch kỹ thuật)
Qua biểu đồ cơ cấu lao đông theo giớssi tính cho thấy số lao động nữ ít hơn hẳn
so với lao động nam. Cụ thể số lao động nữ chỉ có 10 người chỉ chiếm 3% tổng số lao
động, và số lao động này chủ yếu làm những công việc văn phòng và tạp vụ. Trong
khi đó số lao động nam là 321 người chiếm tới 97% tổng số lao động. Có đièu này là
do doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng một lĩnh vực chủ yêu hoạt dộng
trên công trình công việc nặng nhọc thường xuyên di chuyển không phù hợp vơí lao

1 Tài chính, kế toán 6 6
2 kỹ thuật cơ khí 2 2
3 Y sỹ 2 1 1
4 Giao thông, xây dựng 11 11
IV THỢ CÁC LOẠI 277 7 270
1 Lái xe 10 3 7
2 Sửa chữa ôtô 2 2
3 Lái máy 6 6
4 Sản xuất đá 14 14
5 vận hành máy 3 3
6 thợ nề 242 242
TỔNG CỘNG 331 12 4 315
(Nguồn phòng kế hoạch kỹ thuật)
Bảng tổng hợp trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho thấy, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của người lao động trong doanh nghiệp là không cao không có lao động nào
có trình độ trên đại học, số lao động có trình độ đại học chỉ có 23 người chiếm tỷ lệ
6,9%, trình độ cao đẳng là 7 người tức 2,8%, trình độ trung cấp là 21người chiếm 6,3%.
Tuy nhiên số lao động kỹ thuật chiếm tỷ lệ khá lớn 277 người tức 84%. Qua đây cho
thấy trình độ chuyên môn cùa người lao động trong doanh nghiệp chưa cao điều này làm
ảnh hưởng đến chất lượng hoàn thành công việc của người lao động. Mặc dù vậy là một
doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dụng thì cơ cấu lao động với tỷ lệ thợ các loại
chiếm 84% là khá phù hợp với tình hình và tính chất lĩnh vực sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Trước tình hình này doanh nghiệp phải chú trọng công tác đào tạo nâng
cao trình độ chuyên môn hay nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
3.Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nhân lực:
-Ngành xây dựng đang từng bước khẳng định vai trò là một trong những ngành kinh
tế phát triển hàng đầu ở nước. Đồng thời toàn ngành còn phải tích cực chuẩn bị đón
nhận nhiệm vụ nặng nề hơn trong thập kỷ sắp tới nhằm đưa nước ta trở thành nước công
nghiệp hoá về cơ bản. Các mặt chuẩn bị đó bao gồm cả công tác phát triển nguồn nhân
lực vì rằng nguồn nhân lực phát triển đi trước một bước thì mới trở thành nhân tố tạo

sống của ngày càng ổn định. Khi cuộc sống đầy đủ hơn không còn phải lo từng đồng,
nguời lao động bắt đầu chú trọng đến việc nâng cao trình độ của mình để hoàn thiện bản
thân và làm việc có hiệu quả hơn đông thời cũng là để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị
trường lao động. Do đó doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho người lao động học tập để
vừa nâng cao trình độ chuyên môn của họ vừa là để nâng cao chất lượng của nguồn
nhân lực của doanh nghiệp, để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
4.Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực
4.1.Các yếu tố khách quan:
-Các yếu tố kinh tế, chính trị:
+Yếu tố kinh tế là một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Kinh tế lien quan đến hoạt động sản xuất và phân
phối có thể tuân theo có chế thị trường hoặc kế hoạch háo tập trung. Trình độ phát triển
của nền kinh tế và cách làm ăn kinh tế ảnh hưởn rất lớn đến cách thức sinh hoạt, làm
việc, ứng xử của con người trong xã hội. Nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status