THỰC TRẠNG RỦI RO THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
I.Tổng quan về hoạt động TTQT của Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt,
giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp dịch vụ ngân hàng phục vụ lĩnh vực đầu tư và phát triển
ở Việt Nam và là một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất tại Việt Nam.
Ngày 26/04/1957, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 177/Ttg thành lập
“Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam” tại Bộ Tài chính, thay thế cho “Vụ cấp phát vốn kiến
thiết cơ bản”. Nhiệm vụ ban đầu của Ngân hàng là thanh toán và quản lý vốn do Nhà nước
cấp cho xây dựng cơ bản nhằm thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ
công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Nhằm cải tiến cơ chế hoạt động của Ngân hàng, ngày 24/06/1981, Chính phủ đã có
Quyết định số 259/CP về việc chuyển Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ tài
chính thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước.
Cùng với việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế
thị trường, sau khi 02 Pháp lệnh về Ngân hàng ra đời, ngày 14/10/1990 Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng đã ra Quyết định số 401/CP thành lập Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
thay thế Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Ngày 26/11/1990, Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước đã có Quyết định số 104NH/QD phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động
của BIDV. Ngân hàng chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường, nguồn vốn ngân
sách cấp phát cho đầu tư xây dựng cơ bản giảm nhiều, Nhà nước cấp vốn đầu tư cho Ngân
hàng với yêu cầu Ngân hàng thực hiện quy chế cho vay trên cơ sở tính toán khả năng và
thời hạn hoàn trả vốn và lãi, thu hẹp dần hoạt động cấp phát.
Đến năm 1994, BIDV được thành lập lại theo Quyết định số 90/Ttg ngày 07/03/1994
của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 23/01/1995, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
Quyết định số 79 QĐ/NH5 quy định BIDV là ngân hàng thương mại nhà nước, ngoài chức
năng huy động trung, dài hạn trong và ngoài nước để đầu tư các dự án phát triển kinh tế kỹ
thuật, kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư, phát
triển, còn thực hiện các hoạt động của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp trong và
ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư.
nhiều doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Để đảm bảo đáp
ứng được nhu cầu thanh toán quốc tế của các khách hàng có quan hệ tín dụng với BIDV, từ
tháng 3 năm 1993, phòng Kinh tế đối ngoại tại Hội sở chính bắt đầu thực hiện nghiệp vụ
thanh toán quốc tế. Ban đầu do lượng khách hàng chỉ bó hẹp ở những khách hàng có quan
hệ tín dụng có nhu cầu thanh toán quốc tế, nên ngoài việc thực hiện hoạt động thanh toán
quốc tế, phòng Kinh tế đối ngoại còn đảm nhiệm các nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, mua
bán ngoại tệ, quan hệ quốc tế… Sau này, để đáp ứng được nhu cầu khách hàng sử dụng
dịch vụ này ngày càng tăng, các nghiệp vụ dần được tách riêng, và Phòng Kinh tế đối
ngoại được đổi tên thành phòng Thanh toán quốc tế, chỉ đảm nhiệm nghiệp vụ thanh toán
quốc tế.
Mô hình hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV được tổ chức theo ngành dọc. Đầu
mối thanh toán với nước ngoài của cả hệ thống là Hội sở chính. Chỉ có Hội sở chính mới
được phép đặt quan hệ đại lý và mở tài khoản Nostro tại các ngân hàng nước ngoài. Trong
hoạt động thanh toán quốc tế, các chi nhánh trong hệ thống BIDV được chia thành 2 loại:
+ Loại 1: Các chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp: là các chi
nhánh có đủ điều kiện cần thiết để trực tiếp xử lý các nghiệp vụ thanh toán quốc tế.Chi
nhánh trực tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, xử lý và chịu trách nhiệm vê các giao dịch phát
sinh với các đối tác trong và ngoài nước. Các điện giao dịch của chi nhánh sẽ được chuyển
tới Hội sở chính bằng hệ thống thanh toán điện tử T5 và SIBS (đối với các chi nhánh đã
triển khai dự án Hiện đại hoá Ngân hàng) để chuyển tiếp ra nước ngoài thông qua hệ thống
SWIFT. Định kỳ, các chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp phải báo cáo
Hội sở chính về doanh số và tình hình hoạt động nghiệp vụ thanh toán quốc tế phát
sinh tại chi nhánh.
+ Loại 2: Các chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế gián tiếp: là các chi
nhánh có thị trường và khách hàng xuất nhập khẩu nhưng chưa đáp ứng đủ các điều kiện
để thực hiện trực tiếp nghiệp vụ thanh toán quốc tế. Tại chi nhánh cũng tiếp nhận và kiểm
tra hồ sơ do khách hàng xuất trình. Những hồ sơ này sau đó sẽ được chuyển lên Hội sở
chính để xử lý nghiệp vụ và chuyển tiếp ra nước ngoài. Hội sở chính có trách nhiệm kiểm
tra nội dung của các loại giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật, các thông lệ quốc
tế, thực hiện giao dịch theo đúng quy trình đảm bảo an toàn về vốn và uy tín cho Ngân
ký quỹ tối thiểu 5% và có các biện pháp đảm bảo cho nguồn vốn còn lại như ký Hợp đồng
tín dụng dự phòng, Bảo lãnh của bên thứ ba
Bảng số 1: Tình hình thanh toán L/C nhập khẩu Đơn vị : triệu USD
Năm 2004 2005 2006 2007 Quí I/2008
Số lượng L/C phát hành 8375 8796 9215 9648 2791
Giá trị thanh toán 3765 4752 5367 5988 1025
Nguồn : Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong doanh số và số lượng thư tín dụng phát
hành, cơ cấu hàng hoá nhập khẩu thanh toán qua BIDV cũng thay đổi qua các năm theo xu
hướng đa dạng hoá. Nếu trong những năm mới hoạt động, mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là
máy móc thiết bị do các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản nhập khẩu
để phục vụ sản xuất kinh doanh thì nay đã mở rộng thêm các mặt hàng điện tử, nguyên vật
liệu, phân bón, xăng dầu, bông sợi, hoá chất…
b. L/C xuất khẩu:
ĐốI vớI BIDV,nghiệp vụ thông báo L/C hàng xuất ngày càng phát triển qua các
năm. Để đạt được kết quả này, ngoài việc hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ngày càng
phát triển mà còn việc mở rộng quan hệ đạI lý của BIDV vớI các ngân hàng nước ngoài
trên thế giớI
Bảng số 2: Số liệu giao dịch thông báo L/C hàng xuất Đơn vị : triệu USD
Năm 2004 2005 2006 2007 Quí I/2008
Số món 5431 5786 5964 6013 1340
Giá trị thanh toán 360 378 402 441 126
Nguồn : Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
Nhằm đa dạng hoá dịch vụ cung cấp và hỗ trợ các khách hàng trong hoạt động xuất
khẩu, BIDV đã xây dựng cơ chế chiết khấu chứng từ hàng xuất có truy đòi. Chiết khấu
chứng từ hàng xuất là hình thức BIDV ứng trước trị giá bộ chứng từ cho hàng xuất khi
ngân hàng phát hành thanh toán. Nghiệp vụ này giúp cho khách hàng rút ngắn thời gian
vốn bị đọng, tăng nhanh vòng quay của vốn, đặc biệt đối với những khách hàng có trị giá
bộ chứng từ lớn như xuất than, gạo. Hiện nay BIDV đã thực hiện chiết khấu tối đa 95% trị
đòi tiền một cách nhanh nhất
2.3. Hoạt động thanh toán theo phương thức chuyển tiền.
Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó khách hàng yêu cầu
ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người thụ hưởng theo chỉ dẫn.
Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thực hiện chuyển tiền và
không chịu trách nhiệm về chỉ dẫn thanh toán.
a. Chuyển tiền đi
Nghiệp vụ chuyển đi được sử dụng rộng rãi trong hoạt động thanh toán quốc tế để
thanh toán hàng hoá nhập khẩu, chuyển tiền đặt cọc trong các hợp đồng mua bán thiết bị,
thanh toán tiền dịch vụ và các khoản chuyển tiền phi mậu dịch khác.
Nghiệp vụ chuyển tiền tại BIDV chiếm một tỷ trọng khá lớn về số món và tăng mạnh
qua các năm.
Chất lượng của nghiệp vụ chuyển tiền thể hiện ở tốc độ thực hiện giao dịch, tính chính xác
và hiểu biết về hệ thống thanh toán của các loại ngoại tệ để đảm bảo người thụ hưởng nhận
được tiền nhanh nhất với chi phí thấp nhất. Mọi khoản chuyển tiền ra nước ngoài thực hiện
tại BIDV đều tuân thủ chặt chẽ chế độ quản lý ngoại tệ ngoại hối do Nhà nước quy định
trong từng thời kỳ.
b. Chuyển tiền đến:
Tại BIDV, nghiệp vụ chuyển tiền đến được chia thành 3 loại chính, căn cứ vào mục
tiêu chuyển tiền, gồm: Chuyển tiền thanh toán hàng xuất khẩu, chuyển tiền kiều hối,
chuyển tiền phi mậu dịch khác và chuyển tiền uỷ thác đầu tư.
+ Chuyển tiền thanh toán hàng xuất khẩu: chiếm một tỷ trọng khá lớn trong doanh số
chuyển tiền đến của BIDV
+ Chuyển tiền phi mậu dịch: Trong các loại chuyển tiền phi mậu dịch, chuyển tiền kiều
hối là hình thức chính. Xác định rõ việc mở rộng hoạt động chi trả kiều hối không chỉ tăng
thu dịch vụ ngân hàng mà còn là lượng ngoại tệ tương đối lớn có thể thu hút với chi phí
thấp nên hoạt động chi trả kiều hối ngày càng được BIDV quan tâm phát triển.
+ Chuyển tiền uỷ thác đầu tư: Chuyển tiền uỷ thác đầu tư từ các tổ chức quốc tế như
WB, ADB… cho các Ban quản lý dự án tại Việt Nam là một nguồn ngoại tệ tương đối
quan trọng đối với BIDV. Các khoản chuyển tiền này thường có giá trị rất lớn hàng triệu