GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY
MÁY XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI VIỆT NHẬT
2.1 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY MÁY XÂY
DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI VIỆT NHẬT
2.1.1 Mục tiêu kinh doanh của công ty
Đây là những thành quả, những kỳ vọng mà công ty mong muốn sẽ đạt được
trong 3 năm tới
Mục tiêu chiến lược của công ty xoay quanh ba điều sau: lợi nhuận, an toàn
và vị thế cạnh tranh: đầu tiên phải đảm bảo kinh doanh có lãi, lợi nhuận năm sau
phải cao hơn năm trước, đảm bảo đời sống công nhân viên. Tích cực tìm kiếm
khách hàng tiêu thụ, mở rộng thị trường tiêu thụ, không chỉ ở trong nước mà còn
sang các thị trường kém phát triên khác như: Lào, Campuchia, hay khu vực Châu
Phi…
Vị thế cạnh tranh hiện đang là mục tiêu lớn, bởi có nhiều công ty tham gia
vào lĩnh vực này, cùng cung cấp một loại sản phẩm là máy xây dựng, cần củng cố
vị thế đang có, tăng cường hơn nữa. Khi sản phẩm không có nhiều sự khác biệt thì
cần tạo dựng thương hiệu và cung cấp dịch vụ trước sau khi bán hàng sẽ là sức
mạnh cạnh tranh tạo dựng vị thế cho doanh nghiệp.
2.1.2 Phương hướng kinh doanh của công ty đến năm 2015
- Mục tiêu tăng trưởng nhanh: phải luôn cao hơn mức bình quân toàn ngành.
- Có vị thế cạnh tranh lớn hơn: Vượt qua đối thủ tư nhân như Trường Thành và
Đông Á….. hiện đang là các đối thủ trong cũng lĩnh vực, trở thành cái tên ưu tiên
trong danh mục các lựa chọn hãng để lấy hàng của khách hàng. Không còn bị yếu
thế về khả năng cung cấp nguồn hàng so với các doanh nghiệp nhà nước
- Tạo dựng thương hiệu Việt Nhât CMT trở thành một thương hiệu có tiếng
tăm uy tín không chỉ trong nội ngành cung cấp máy móc và thiết bị xây dựng mà
còn phấn đấu trở thành thương hiệu mạnh của thành phố Hà Nội.
- Trở thành nhà phân phối độc quyền cho hãng mãy Sumitomo và thương
thảo để trở thành đại lý phân phối cấp hai cho KOMATSU ( một thương hiệu bán
chạy hiện nay) tại Việt Nam
2.2 BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU MÁY MÓC VÀ
- Chính sách ngoại thương: các nước đó có là thành viên của các tổ chức
mậu dịch quốc tế - WTO, vùng buôn bán tự do . . . không ?, các mối quan hệ buôn
bán đặc biệt, chính sách kinh tế nói chung, chính sách ngoại thương nói riêng (chế
độ hạch toán xuất nhập khẩu, hàng rào thuế quan, các chế độ ưu đãi đặc biệt ,.v.
v. .)
- Tìm hiểu hệ thống ngân hàng, tín dụng.
- Ðiều kiện vận tải và tình hình giá cước.
Bên cạnh đó, cần nắm vững những điều kiện có liên quan đến chính
những mặt hàng dự định kinh doanh của mình trên thị trường nước ngoài như:
dung lượng thị trường, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng, các kênh tiêu thụ
(các phương pháp tiêu thụ), sự biến động giá cả .v.v . .
c) Thông tin về thương nhân
- Lịch sử hình thành, quá khứ của công ty.
- Hình thức tổ chức, địa vị pháp lý của thương nhân (công ty cổ phần, trách
nhiệm hữu hạn, tập đoàn xuyên quốc gia .v .v. .)
- Phạm vi mức độ và các mặt hàng kinh doanh.
- Thái độ cư xử và thiện chí làm ăn.
- Kinh nghiệm và uy tín.
- Phong tục tập quán trong kinh doanh cũng như trong lãnh vực khác của đời
sống xã hội.
- Phương hướng phát triển.
Ngoài ra còn thu thập thêm:
+ Thị trường bên ngoài nhìn nhận như thế nào về công ty
+ Thông tin về cạnh tranh trong và ngoài nước: quy mô, chiến lược kinh
doanh, tiềm lực, thế mạnh, điểm yếu . . .
+ Phân tích tình hình cung cầu, lạm phát, khủng hoảng, .v. v. . và đưa ra
các dự đoán
Các biện pháp chủ yếu để nghiên cứu thị trường nước ngoài
Ðầu tiên, cần tìm thông tin ngay trong cơ quan của mình, ngay trong tủ sách
thương mại của cơ quan (lập tủ sách thương mại một cách khoa học trong mỗi cơ
- Bao giờ cũng có thể nói "không" đối với một vấn đề còn đang nghi vấn.
- Trong đàm phán, thường xuyên quan sát một cách kiïn đáo và tế nhị cách
cư xử và hành động của đối tác để có thể điều chỉnh một cách kịp thời, hợp lý cách
cư xử của mình.
- Cố gắng thích ứng với nhịp độ đàm phán của đối tác.
- Hạn chế trao đổi, tranh luận riêng mang tính chất nội bộ, bởi có thể bị lộ
ý định nếu bên đối tác hiểu được tiếng nước mình. Ðồng thời, điều này còn thể
hiện sự không nhất quán giữa các thành viên trong Ðoàn.
- Nhận định kịp thời những sơ hở của đối phương.
- Nhạy bén đánh giá tình hình diễn biến của cuộc đàm phán để quyết định
ở mức nào là vừa phải do việc cương quyết giữ vững đề nghị của mình với khả
năng dối tác chấp nhận được.
- Cố gắng vận dụng các kỹ năng thương lượng, thuyết phục tích lũy được.
- Phải phát triển những kỹ năng thương lượng đã được thế giới thừa nhận.
- Phải biết nhượng bộ lúc nào, ở mức độ nào để đảìm bảo vừa có lợi cho ta
đồng thời gây được sự thỏa mãn cho đối phương.
- Phải luôn luôn cố gắng làm hết sức mình để thực hiện những điều khoản
trong hợp đồng mà bạn đã thương lượng và thỏa thuận.
2.2.3 Tăng chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng để đẩy mạnh đầu ra
Do hầu hết máy đều nhập khẩu tại các thị trường giống nhau: Nhật bản, Mỹ
… nên chất lượng máy mà công ty cung cấp so với các công ty khác cũng không
có sự khác biệt là mấy.Khách hàng quyết định mua hay không mua sản phẩm của
công ty chính là ở yếu tố dịch vụ mà cômh ty cung cấp. Bên cạnh yếu tố giá cả thì
dịch vụ là yếu tố có thể nói là rất quan trọng giúp công ty tăng khả năng bán hàng
của mình, chỉ cần có đầu ra tốt thì công ty sẽ có được một sức bật cho hoạt động
nhập khẩu tốt
Có được đầu ra tiêu thụ tốt, công ty sẽ tránh được tình trạng tồn đọng hàng,
ứ đọng vốn. Có tiền để thực hiện các tiến hành nhập khẩu máy móc, thuê được các
lao động có chất lượng cao để đảm đương công việc nhập khẩu. Tự tin trên bàn
đàm phán để ra những yêu sách cho đối tác, có tiền để bôi trơn các khâu hay gặp
nhu cầu khách hàng lớn, để đề phòng trường hợp khách hàng cần gấp có thể đến
kho bãi của công ty để xem hàng và mua luôn tại kho bãi,không phải mất thời gian