Tổng quan về tranh chấp thương mại quốc tế và một số tranh chấp liên
quan đến Việt Nam
Trong 10 năm qua, WTO đã chứng kiến khoảng 2.100 vụ tranh chấp về bán
phá giá, 180 vụ kiện chống trợ cấp và hàng chục vụ liên quan đến tự vệ
thương mại giữa các thành viên. Trong bối cảnh đó, cơ chế giải quyết tranh
chấp (DSM) của Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) của WTO là một
trong những nền tảng của trật tự thương mại đa phương ngày nay.
1. Các khái niệm chung:
Tranh chấp thương mại quốc tế là một hiện tượng song hành với sự gia tăng
các luồng giao thương trên phạm vi toàn cầu. Tranh chấp diễn ra khi một nước
cho rằng một nước khác vi phạm thỏa thuận đã cam kết. Các tranh chấp thương
mại đưa ra giải quyết tại WTO xoay quanh ba nội dung chính là các biện pháp
chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.
Bán phá giá là hiện tượng một loại hàng hóa được xuất khẩu với giá thấp hơn
giá bán tại thị trường nước xuất khẩu. Hiểu một cách đơn giản, nếu giá xuất
khẩu của một mặt hàng thấp hơn giá nội địa của nó thì sản phẩm đó được coi là
bán phá giá tại thị trường nước nhập khẩu sản phẩm.
Trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức
công mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất. Các khoản hỗ trợ này
được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực
hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại…bình
thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương
mại thông thường).
Bán phá giá và trợ cấp được coi là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay
không công bằng của hàng hóa nhập khẩu. Trong khi biện pháp chống bán phá
giá là để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị
trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh thì biện pháp chống trợ cấp
được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa
trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu.
Biện pháp tự vệ: Khác với hai biện pháp chống bán phá giá và chống trợ
cấp, biện pháp tự vệ thường được nói đến như một công cụ bảo vệ ngành sản
hoặc gián tiếp) đến quyền lợi của mình, họ có quyền nêu vấn đề với DSB.
Trình tự giải quyết 1 vụ tranh chấp thông thường trải qua các bước cơ bản sau:
- Hòa giải: DSB khuyến khích hòa giải nhằm giải quyết tranh chấp, nếu hòa giải
thất bại, ban sơ thẩm (panel) sẽ được thành lập.
- Sơ thẩm: Ban sơ thẩm thông thường gồm 3 chuyên gia (có chuyên môn, kinh
nghiệm về luật thương mại quốc tế) từ các nước không liên quan đến vụ kiện, sẽ
hoàn thành công việc của mình trong vòng 6 tháng (trong một số trường hợp
khẩn cấp, phải giải quyết trong 3 tháng). Báo cáo (phán quyết) của Ban sơ thẩm
sẽ được DSB thông qua (hoặc phủ quyết) trên cơ sở đồng thuận trong thời hạn
60 ngày. Nếu một bên có liên quan trong vụ kiện không chấp nhận phán quyết,
quá trình phúc thẩm sẽ bắt đầu.
- Phúc thẩm: Phúc thẩm là nội dung mới trong quá trình giải quyết tranh chấp
thương mại trong WTO. Ban phúc thẩm (appellete body) gồm 7 thành viên, có
thời hạn tối đa 60 ngày để hoàn thành công việc. Báo cáo của Ban phúc thẩm,
sau khi được DSB thông qua trên cơ sở đồng thuận, sẽ được các bên trong vụ
kiện chấp thuận không điều kiện và có tính ràng buộc pháp lý, trừ khi DSB bỏ
phiếu đồng thuận phủ quyết (negative consensus). Các bên có liên quan trong vụ
kiện sẽ thông báo với DSB về kế hoạch thực hiện phán quyết, và DSB sẽ thực
hiện chức năng giám sát quá trình thực hiện phán quyết cho đến khi tranh chấp
được giải quyết.
Sau khi có phán quyết cho tranh chấp, các bên liên quan sẽ đàm phán để đạt
được giải pháp về đền bù (cho bên chịu thiệt hại trong tranh chấp). Nếu không
đạt được đền bù, DSB cho phép nước đi kiện trả đũa thông qua việc chấm dứt
ưu đãi dành cho bên kia, thông thường trong cùng lĩnh vực với vụ kiện. Tuy
nhiên, nước đi kiện cũng có thể trả đũa trong lĩnh vực khác, ví dụ, trong vụ kiện
về chuối giữa Ecuador với EU, khi được xử thắng kiện và được phép trả đũa,
Ecuador đã chấm dứt việc áp dụng các ưu đãi trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với
EU.
3. DSM với các nước đang phát triển và Việt Nam
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO được coi là một trong những biện pháp
định cuối cùng. Phương thức giải quyết như vậy đã gây nhiều thiệt hại đối với
các ngành kinh tế xuất khẩu của ta.
Trong thời gian tới, cùng với việc gia nhập WTO để mở rộng và phát triển một
cách bền vững các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, việc vận dụng cơ chế giải
quyết tranh chấp (DSM) của WTO để giải quyết các tranh chấp thương mại với
các đối tác nước ngoài là hết sức cần thiết. Việc nắm vững cơ chế vận hành của
DSM và học hỏi kinh nghiệm vận dụng của các nước đang phát triển (ĐPT) là
rất cần thiết, nhằm hỗ trợ việc bảo vệ lợi ích của ta khi xảy ra tranh chấp./.
Như chúng ta đã biết, một cơ quan giải quyết tranh chấp hiệu quả là yếu
tố quyết định đối với hoạt động của một tổ chức được vận hành trên cơ
sở những giàng buộc mang tính pháp lý quốc tế được thoả thuận trước.
Cơ sở pháp lý của Cơ quan giải quyết tranh chấp hiện nay của
WTO (sau đây gọi tắt là DSU) là Thoả thuận về giải quyết tranh chấp
của WTO và cơ chế này được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển
án lệ của GATT 1947 dựa trên Điều XXII và XXIII Hiệp định GATT 1947.
DSU có vai trò là một loại cơ quan tài phán quốc tế theo nghĩa là một cơ quan có thẩm
quyền đưa ra những quyết định có tính chất ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên
tranh chấp. Khác với ICJ nơi mà các quốc gia có toàn quyền chấp nhận hoặc không chấp
nhận thẩm quyền tài phán của ICJ, tại WTO tất cả các thành viên đều phải chấp nhận
quyền tài phán của Cơ quan giải quyết tranh chấp. DSU có 2 cấp gồm Ban hội thẩm
(Panel) và Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body).
Đại hội đồng của WTO (sau đây gọi tắt là DSB), cơ quan có quyền quyết định cao nhất của Tổ
chức này trong thời gian giữa các Hội nghị Bộ trưởng. Tất cả các thành viên của WTO
đương nhiên cũng là thành viên của DSB và có quyền tham dự vào tất cả các hoạt động
của DSB. Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO thì những chức năng chính thức
quan trọng nhất thuộc về DSB. DSB có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua báo
cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm, duy trì giám sát việc thực hiện các phán
quyết và khuyến nghị, cho phép tạm hoãn những ưu đãi và các nghĩa vụ khác theo các
hiệp định có liên quan.
DSB không trực tiếp tham gia vào quá trình xét xử tranh chấp mà chỉ là nơi đưa ra quyết