CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI.
1.1. Khái niệm, Đặc điểm, vai trò của quy hoạch đất đai.
1.1.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đấi đai.
a. Bản chất quy hoạch sử dụng đất đai:
Trước tiên ta có thể đặt câu hỏi quy hoạch đất đai là gỡ? Thật vậy về mặt
thuật ngữ quy hoạch là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động
như phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức một đối tượng nào đó nhằm sử dụng theo
như mong muốn. Cũn “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định, có vị trí hình
thể, diện tích với những tính chất tự nhiên theo thời gian hoặc mới tạo thành (
đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất thảm thực vật ... ) tạo ra những
điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.
Muốn sử dụng đất phù hợp với từng mục đích phải trải qua một quá trình
nghiên cứu lao động sáng tạo, nhằm xác định ý nghĩa, mục đích của từng phần
lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định, đó cũng là nội dung của
quy hoạch sử dụng dất đai.
Về mặt bản chất cần được xác định dựa trên quan điểm nhận thức đất đai là
đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất đai ( gọi là
các mối quan hệ đất đai ) và việc tổ chức sử dụng đất (coi đất đai như là tư liệu
sản xuất đặc biệt ) gắn chặt với phát triển kinh tế- xã hội. Mọi hoạt động sản
xuất sinh hoạt của con người đều gắn với một đơn vị lãnh thổ nhất định. Điều
này cũng đồng nghĩa với quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế xã
hội thể hiện đồng thời ba tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế.
-Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất.
-Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật trong điều tra
khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định xử lý số liệu ...
-Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo
quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo đúng pháp luật.
-Từ đó có thể đưa ra định nghĩa: “ Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các
biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng và
quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả caonhất thông qua việc
phân bổ quỹ đất đai ( khoanh định cho các mục đích và các ngành ) và tổ chức sử
trên một đơn vị đất đai nào đó, luôn gắn với đất đai nên mỗi ngành không thể thiếu
quy hoạch sử dụng đất đai cho ngành mình, nhằm đảm bảo cơ cấu sử dụng đất hợp
lý trong mỗi ngành. Tuy nhiên khi quy hoạch phải có sự phối hợp của nhiều ngành.
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất trong
phạm vi ranh giới đã được xác định rõ mục đích cho từng ngành ở các cấp lãnh thổ
tương ứng.
Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ và theo ngành có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -xã hội mang tính chiến lược,
xác định mục tiêu phát triển nhiều ngành. Các ngành chức năng căn cứ vào quy
hoạch tổng thể này để xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai cho ngành mình.
Như vậy quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có định hướng cho
quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành.
Quy hoạch sử dụng đất đai có nhiệm vụ xác định cơ cấu sử dụng đất đai và
vị trí những khoanh đất dùng cho các mục đích khác nhau và là một trong những
yếu tố chủ yếu xác định bố cục không gian của khu vực đô thị.
1.1.3. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai.
- Quy hoạch sử dụng đất đai là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế
hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân. Thể hiện ở các điểm sau:
(1). Tính lịch sử- xã hội.
Xã hội loài người từ trước tới nay, Mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có một
phương thức sản xuất nhất định, đặc trưng bởi mối quan hệ giữa người với sức tự
nhiên và quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất. Trong quy hoạch
sử dụng đất đai luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai- là sức tự nhiên
thông qua việc đo đạc khoanh định, thiết kế ... và mối quan hệ giữa người với
người ( xác nhận bằng văn bản- giấy CNQSDĐ ). Quy hoạch sử dụng đất đai vừa
thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển các mối
quan hệ sản xuất. Do đó nó luôn là một bộ phận quan trọng của phương thức sản
xuất xã hội.
Nội dung của quy hoạch sử dụng đất đai luôn phát triển, biến đổi và hoàn thiện
phù hợp với từng giai đoạn phát triển lịch sử-xã hội đáp ứng cho các nhiệm vụ kinh
vệ quỹ đất đai trong thời gian trước mắt và lâu dài.
Quy hoạch sử dụng đất đai nhằm dự báo cơ cấu đất đai, nó liên quan chật
chẽ với chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai, dự báo sử dụng các nguồn tài
nguyên như tài nguyên nước, tài nguyên rừng, phát triển các công trình thuỷ lợi,
giao thông. Chính vì vậy việc dự báo sử dụng đất đai với mục tiêu cơ bản là xác
định tiềm năng để mở rộng diện tích và cải tạo đất nông nghiệp- lâm nghiệp, xác
định định hướng cho các mục đích chuyên dùng khác phải được xem xét một
các tổng hợp cùng với các dụe báo về phát triển khoa học, kỹ thuật, dân số,xã
hội. Trong cùng một hệ thống thống nhất về dự báo phất triển kinh tế xã hội của
cả nước.
(4). Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô.
Đây là đặc điểm do đặc tính trung và dài hạn của giai đoạn quy hoạch quy định.
Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương hướng, cơ
cấu và phân bố sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương
hướng, cơ cấu và phân bố sử dụng đất ở mức độ khái quát. Vì vậy quy hoạch sử
dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu quy hoạch mang tính
vĩ mô. Do khoảng thời gian dự báo dài, khó xác định các yếu tố ảnh hưởng nên chỉ
tiêu quy hoạch càng khái quát thì quy hoạch sẽ càng ổn định và có tính thực tiễn
cao.
(5). Tính chính sách.
Khi xây dựng phương án quy hoạch phải quán triệt các chính sách và quy định
có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước. Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu
khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái.
(6). Tính khả thi.
Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất
sang trạng thái mơí thích hợp hơn trong một thời kỳ nhất định. Sự biến động của
các nhân tố trong quy hoạch sử dụng đất theo nhiều phương diện khác nhau ta
không dự báo trước được và khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật tiến bộ, những
dự báo trước đây không còn phù hợp thì phương án quy hoạch sẽ được chỉnh sửa,
bổ sung và hoàn thiện. Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là một quy hoạch động,
- Thu thập các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên có
liên quan đến việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương theo nội dung:
tăng trưởng kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực trạng phát triển các ngành kinh
tế; dân số, lao động, việc làm…; cơ sở hạ tầng kỹ thuật về giao thông thuỷ lợi, điền,
…; văn hoá giáo dục, y tế, thể dục thể thao.
1.2.Thu thập các thông tin về quy hoạch, kê hoạch sử dụng đất của huyện đã
được xét duyệt có liên quan đến việc lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết của xã.
1.3.Thu thập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa chính của xã.
Bước 2: Đánh giá tình hình sử dụng đất và biến động sử dụng đất của địa phương
đối với giai đoạn 10 năm trước theo các mục đích sử dụng gồm đất trồng lúa nước,
đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất, đất rừng
phũng hộ, đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông
nghiệp khác; đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; đất xây dựng trụ sở cơ quan và
công trỡnh sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phũng, an ninh; đất sản xuất,
kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng vào mục đích công cộng; đất sông, ngũi,
kờnh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa
trang, nghĩa địa; đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có
rừng cây.
Bước 3: Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so
với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triển kinh tế - xó hội, khoa học -
công nghệ theo quy định sau: