PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
HỮU HÌNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU SAO VÀNG
3.1. Đánh giá khái quát thực trạng công tác hạch toán tài sản cố định hữu hình tại
công ty cổ phần cao su Sao Vàng.
Công ty cổ phần cao su Sao Vàng, tiền thân là xưởng đắp vá săm lốp ô tô, sau đó,
được đầu tư xây dựng thành nhà máy cao su Sao Vàng. Trải qua quá trình vận động của
lịch sử, cộng thêm sự phấn đấu nỗ lực của các thế hệ cán bộ công nhân viên của nhà máy,
hiện nay, công ty đang là một trong 3 doanh nghiệp đứng đầu trong lĩnh vực sản xuất các
sản phẩm công nghiệp cao su của nước ta. Sự lớn mạnh của công ty thể hiện ở công tác
quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng đã không ngừng được hoàn thiện, thực sự
trở thành một công cụ đắc lực phục vụ cho yêu cầu ra quyết định trong thời kỳ mới, thời kỳ
của bùng nổ thông tin.
Trong điều kiện hiện nay, sản phẩm của công ty đang chịu sự cạnh tranh rất lớn từ
các doanh nghiệp khác ở cả trong và ngoài nước. Do đó, để tiếp tục tồn tại và phát triển,
công ty đã đầu tư đổi mới trang thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm. Công tác đầu tư
mua sám, tính toàn và phân bổ khấu hao cũng như việc sử dụng hiệu quả tài sản cố định
luôn được quan tâm hàng đầu. Đặc biệt, với đặc thù là một doanh nghiệp sản xuất, số
lượng tài sản cố định hữu hình là rất lớn, chiếm tới hơn 95% giá trị tài sản của toàn doanh
nghiệp. Do đó, công tác quản lý và kế toán tài sản cố định hữu hình luôn được công ty
quan tâm đặc biệt.
Qua quá trình thực tập chuyên đề tại công ty cổ phần cao su Sao Vàng, bằng những
kiến thức đã được học, và bằng những quan sát thực tế thu thập được ở công ty, em xin
mạnh dạn đưa ra một số ưu điểm và nhược điểm trong công tác quản lý, cũng như công
tác kế toán như sau:
3.1.1. Ưu điểm
3.1.1.1. Những ưu điểm trong công tác quản lý và sử dụng tài sản cố định hữu hình tại
công ty
Công tác mã hóa tài sản cố định hữu hình
Tài sản cố định hữu hình trong công ty là rất nhiều, trong đó, máy móc thiết bị chiếm tỷ
trọng khá lớn. Công ty đã sử dụng phương pháp mã hóa để quản lý toàn bộ các tài sản đó.
Việc mã hóa này giúp nhận biết một cách dễ dàng tài sản cố định hữu hình đó thuộc nhóm
Hiện nay , phòng kế toán của công ty có 14 người, với trình độ 100% đại học, cao
đẳng trở lên. Đây là một thuận tiện cho công tác kế toán tài sản cố định. Hiện tại, công tác
kế toán tài sản cố định tại công ty do 1 người đảm nhiệm. Xét trong cơ cấu nhân sự của
toàn phòng kế toán thì đây là một sự phân công hợp lý. Vừa đảm bảo được yêu cầu cung
cấp thông tin về tài sản cố định cho quản lý, đồng thời, cũng giảm bớt áp lực công việc cho
các bộ phận kế toán khác. Đồng thời, cách tổ chức nhân sự như thế này hoàn toàn phù hợp
với mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung, vừa phân tán.
Về công tác vận dụng chế độ kế toán
Về chứng từ kế toán: Qui trình hạch toán ban đầu của công ty được tiến hành một
cách chặt chẽ, phản ánh kịp thời và đầy đủ những nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Các chứng
từ được lập một cách hợp pháp, đúng tiêu chuẩn của bộ tài chính, và phản ánh đầy đủ nội
dung kinh tế của nghiệp vụ, cũng như thể hiện đầy đủ các bước của công tác kiểm soát
trong nghiệp vụ đó. Đảm bảo gắn trách nhiệm vật chất, trách nhiệm pháp lý đầy đủ cho các
bên liên quan. Đồng thời, cũng phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc lập, luân chuyển cũng
như lưu trữ và bảo quản chứng từ, cũng như thuận lợi cho công tác kiểm tra trên sổ kế
toán.
Về tài khoản hạch toán. Công ty đã vận dụng rất linh hoạt hệ thống tài khoản kế
toán được ban hành theo quyết định 15/2006/ QĐ – BTC ban hành ngày 20/3/2006 của Bộ
Tài Chính. Hệ thống tài khoản mà công ty sử dụng tương đối phù hợp với việc hạch toán
các nghiệp vụ liên quan đến tài sản cố định hữu hình. Tài khoản được mở chi tiết cho từng
xí nghiệp, và từng loại tài sản.
Về hình thức ghi sổ: Hiện tại công ty đang áp dụng hình thức sổ Nhật ký chứng từ.
Đây là hình thức sổ tương đối phức tạp, bộ sổ khá lớn và đồ sộ. Tuy nhiên, đây lại là một
ưu điểm của công ty, vì hình thức này tạo ra tính thống nhất cho công tác hạch toán, phù
hợp với công tác ghi chép theo đặc thù của một doanh nghiệp sản xuất.
Về hệ thống báo cáo: Cũng theo quyết định 15, công ty tiến hành lập các báo cáo
tài chính như : bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền
tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra, hàng tháng, kế toán tài sản cố định phải tiến
hành in và nộp các báo cáo như báo cáo tăng, giảm tài sản cố định, báo cáo kiểm kê tài sản
cố định,….
áp dụng khấu hao như vậy có phần chưa hợp lý. Mặc dù có ưu điểm đó là dễ tính, đơn
giản, tuy nhiên, nhược điểm của nó là chưa phản ánh đúng chi phí khấu hao bỏ ra trong quá
trình sử dụng tài sản. Theo phương pháp này, mức trích khấu hao hằng tháng là bằng nhau,
không thay đổi trong suốt thời gian hữu dụng của tài sản. Trong khi đó, khả năng kinh
doanh của tài sản ở mỗi thời điểm là khác nhau, lúc tài sản còn mới thì hiệu quả sử dụng
cao, lúc tài sản cũ kỹ lạc hậu thì hiệu quả sử dụng thấp. Đặc biệt, đối với các tái sản áp
dụng công nghệ cao, nhanh chóng bị cũ kỹ thì việc trích khấu hao theo đường thẳng là
chưa hợp lý.
Ngoài ra, trong công tác tính khấu hao công ty chưa trừ đi giá trị thu hồi ước tính
vào giá trị tính khấu hao. Do đó, khi tài sản đã được khấu hao hết, nhưng chưa được bán
thanh lý thì sẽ gây tình trạng ứ đọng vốn.
Cuối cùng, thời gian trích khấu hao công ty qui định cho một số tài sản còn chưa
hợp lý, chưa đúng với qui định công ty đưa ra. Ví dụ trong trường hợp mua sắm xe ô tô tải
phục vụ cho vận chuyển hàng hóa vào ngày 29/10/2009, công ty thực hiện thời gian trích
khấu hao là 5 năm, trong khi, thời gian hữu dụng của tài sản theo công suất thiết kế là 8
năm, và thời gian trích khấu hao tối thiểu theo qui định là 6 năm, và tối đa là 10 năm. Điều
này có thể hiểu là do công ty muốn thu hồi vốn nhanh, nhưng để thực hiện điều này, công
ty có thể áo dụng phương pháp khấu hao nhanh cho tài sản này, thay bì khấu hao theo
đường thẳng. Như vậy, vừa đúng chế độ kế toán, đồng thời cũng đẩy nhanh tốc độ thu hồi
vốn cho doanh nghiệp.
Về việc đầu tư tài sản cố định hữu hình
Hiện nay, tài sản cố định hữu hình của công ty chiếm tỷ trọng rất lớn, so với tài sản
cố định vô hình và tài sản cố định thuê tài chính. Tuy nhiên, đa số lại được công ty đầu tư
từ nguồn vốn vay ngắn hạn. Điều này là rất mạo hiểm, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế
biến động, lãi suất cho vay đang ở mức cao và có xu hướng biến đông liên tục như hiện
nay.
Về hoạt động thanh lý tài sản cố định hữu hình
Hiện nay, trong công ty vẫn còn nhiều tài sản đã được khấu hao hết, không còn phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vẫn chưa được tiến hành bán thanh lý. Gây ra tình
trạng vốn bị ứ đọng, làm chậm tiến trình hoàn vốn của doanh nghiệp.