THỰC TRẠNG KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN DUY NAM - Pdf 73

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN
HÀNG TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN DUY NAM.
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Doanh nghiệp tư nhân Duy Nam
Doanh nghiệp tư nhân Duy Nam có tổ chức bộ máy gọn nhẹ và làm việc có
hiệu quả cao. Với quy mô không lớn, hơn nữa Doanh nghiệp tư nhân Duy Nam
không có hoạt động sản xuất, nên thực hiện việc quản lý hoạt động kinh doanh
theo một cấp. ĐDoanh nghiệp tư nhân Duy Nam từ khi thành lập đến nay đã gần
được 10 năm. Đây là một đơn vị kinh tế hoạt động theo mô hình Doanh nghiệp tư
nhân Doanh nghiệp có vốn điều lệ ban đầu là 200 triệu đồng. Trụ sở chính của
Doanh nghiệp là số 23 Nguyễn Thị Minh Khai- Hội Hợp – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc.
Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, có con dấu riêng, có tổ chức bộ máy
kế toán phù hợp với hình thức hoạch toán theo điều lệ tổ chức và hoạt động của
doanh nghiệp, có quan hệ đối nội, đối ngoại, tự chủ về mặt tài chính, hạch toán
kinh tế độc lập dưới sự kiểm tra của Nhà nước quản lý.
Từ khi thành lập đến nay, Doanh nghiệp tư nhân Duy Nam không ngừng vươn
lên bằng các sản phẩm uy tín, các dịch vụ giao bán chu đáo cũng như hình thức hỗ
trợ thanh toán hấp dẫn. Vì thế, Doanh nghiệp đã có thị phần tương đối ổn định,
cũng như được sự tin cậy của bạn hàng. Doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên là 18
người, có phong cách làm việc chuyên nghiệp với mức lương tối thiểu là 1.500.000
đ/người và tối đa là 3.600.000. Tổng quỹ lương là 65.000.000.
ứng đầu là giám đốc công ty chỉ đạo trực tiếp các phòng, ban. Giúp việc cho
giám đốc có phó giám đốc và các phòng ban chức năng. Mối phòng ban thực hiện
các chức năng khác nhau. Cụ thể như sau:
Giám đốc: là người đứng đầu chịu trách nhiệm toàn bộ về tài chính kinh
doanh của doanh nghiệp, đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của công ty trước
pháp luật.
Phó giám đốc: Là người giúp giám đốc điều hành một số hoạt động của công
ty theo sự phân công của giám đốc công ty và chịu trách nhiệm trước giám đốc và
pháp luật về nhiệm vụ được giám đốc phân công.
Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch kinh doanh, nghiên cứu
thị trường, thành lập các kênh phân phối sản phẩm. Thực hiện việc ký kết các hợp

người mua và doanh nghiệp thu tiền về hoặc được quyền thu tiền.
Xét về góc độ kinh tế - bán hàng là quá trình hàng hoá của doanh nghiệp được
chuyển từ hình thái vi chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền).
Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương
mại nói riêng ở những đặc điểm chính sau:
- Có sự trao đổi thoả thuận giữa người mua và người bán. Người bán đồng ý
bán, người mua đồng ý mua, họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
- Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hoá người bán mất quyền sở hữu
người mua có quyền sở hữu người mua có quyền sở hữu về hàng hoá đã mua bán.
Trong quá trình tiêu thụ hàng hoá, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một
khối lượng hàng hoá và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán
hàng. Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh
mình.
1.1.1.2 Khái niệm về xác định kết quả bán hàng
Xác định kết quả bán hàng là việc so sánh giữa chi phí kinh doanh đã bỏ ra và
thu nhập kinh doanh đã thu về trong kỳ. Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thì kết quả
bán hàng là lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lỗ. Việc xác định
kết quả bán hàng thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh thường là cuối
tháng, cuối quý, cuối năm, tuỳ thuộc vào từng đặc điểm kinh doanh và yêu cầu
quản lý của từng doanh nghiệp.
1.1.1.3. Mối quan hệ về bán hàng và xác định kết quả bán hàng
Bán hàng là khâu cuối cùng của trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
còn xác định kết quả kinh doanh là căn cứ quan trọng để đơn vị quyết định tiêu thụ
hàng hoá nữa hay khong. Do đó có thể nói giữa bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh có mối quan hệ mật thiết. Kết quả bán hàng là mục đích cuối cùng của
doanh nghiệp còn bán hàng là phương tiện trực tiếp để đạt được mục đích đó.
1.1.1.4. Nhiệm vu của kế toán trong công tác bán hàng
- Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời khối lượng hàng hoá bán ra , số lượng đã
giao cho các cửa hàng tiêu thụ
- Phản anh kiểm tra tiến độ thực hiện bán hàng, kế hoạch lợi nhuận hàng bán

hai trường hợp :
- Mua hàng giao bán thẳng cho người mua.
- Bán hàng giao tay ba - bên cung cấp, doanh nghiệp và người mua cùng giao nhận hàng. Trường hợp này khi bên
mua nhận hàng và xác nhận vào hoá đơn bán hàng thì hàng đó được xác nhận là tiêu thụ. Phương thức này chủ yếu
áp dụng trong các doanh nghiệp thương mại.
• Bán hàng trả góp, trả chậm :
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì số hàng đó được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mất
quyền sở hữu về số hàng đó. Người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua, số tiền còn lại người mua
chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi nhất định. Thông thường thì số tiền trả ở các kỳ sau
phải bằng nhau bao gồm một phần tiền gốcvà một phần lãi trả chậm.
• Phương thức bán hàng trao đổi hàng :
Theo phương thức này, doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng và đổi lại khách hàng giao cho doanh nghiệp
vật tư, hàng hoá tương đương. Phương thức này có thể chia làm ba trường hợp :
- Xuất kho lấy hàng ngay.
- Xuất hàng trước lấy vật tư, hàng hoá sau.
- Nhận hàng trước, xuất hàng trả sau.
Tuy nhiên trong các doanh nghiệp thương mại thì phương thức bán hàng có khác đôi chút, Bán hàng trong
doanh nghiệp thương mại chỉ bao gồm hai khâu : khâu bán buôn và khâu bán lẻ.
1.2.2. Bán buôn hàng hoá
Bán buôn hàng hoá thường được hiểu là bán với khối lượng lớn. Và trong bán buôn hàng hoá thường sử
dụng các phương thức bán hàng sau:
- Bán buôn qua kho :
Theo phương thức này, hàng hoá xuất từ kho của doanh nghiệp thương mại để bán cho người mua. Phương
thức này lại phân biệt thành hai hình thức là : Bán hàng trực tiếp qua kho và bán qua kho theo hình thức chuyển
hàng.
+ Bán trực tiếp qua kho:
Theo hình thức này, doanh nghiệp xuất hàng từ kho giao bán trực tiếp cho người mua do bên mua uỷ nhiệm
đến nhận hàng trực tiếp. Chứng từ bán hàngtring trường hợp này là hoá đơn hoặc phiếu suất kho do doanh nghiệp
lập. Hàng hó được coi là bán khi người mua đã ký nhận hàng và ký xác nhận trên chứng từ bán hàng, còn việc thanh
toán tiền hàng với bên mua tuỳ thuộc vào hợp đồng đã ký giữa hai bên.

hàng để khách hàng ra nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Cuối ca, cuối ngày nhân viên thu ngân
làm giấy nộp tiền bán hàng, nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng trả khách hoặc kiểm kê
hàng còn lại cuối ca, cuối ngày để xác định lượng hàng đã trả khách hàng, lập báo cáo bán hàng trong ca, trong
ngày. Báo cáo bán hàng được coi là căn cứ để hạch toán doanh thu và đối chiếu với số tiền đã nộp tiền trên giấy nộp
tiền.
Phương pháp này tách rời giữa người bán hàng và người thu tiền do đó tránh được những nhầm lẫn, sai sót,
mất mát. Tuy nhiên phương thức này có nhược điểm là gây phiền hà cho khách hàng. Do vậy hiện nay phương pháp
này ít được áp dụng, chủ yếu là áp dung cho những mặt hàng có giá trị lớn.
Ngoài hai phương thức trên trong bán lẻ còn có các hình thức khác như bán lẻ tự phục vụ, bán hàng tự
động....
1.3 Những khái niệm cơ bản liên quan
1.3.1 Khái niệm doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền sẽ thu được từ các hoạt động giao dịch
từ các hoạt động giao dịch như bán sản phẩm hàng hoá cho khách hàng bao gồm cả
các khoản phụ và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Doanh thu bán hàng được ghi nhận đồng thời thoả mãn bất cứ 5 điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền
sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.
- Doanh nghiệp không nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu
hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán
hàng.
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Nguyên tắc hạch toán doanh thu bán hàng
- Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, khi
viết hoá đơn bán hàng phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, các khoản phụ thu,
thuế GTGT phải nộp và tổng giá thanh toán. Doanh thu bán hàng được phản ánh
theo số tiền bán hàng chưa có thuế GTGT.
- Đối với hàng hoá chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu

- Phân bổ chi phí bán hàng cho hàng hoá bán ra trong kỳ
= + -
=x
Hạch toán chi phí bán hàng
Để hạch toán CPBH kế toán sử dụng TK 641 "chi phí bán hàng". Tài khoản
này phản ánh các chi phí liên quan và phục vụ cho quá trình tiêu thụ theo nội dung
gắn liền với đặc điểm tiêu thụ các loại hình sản phẩm.
Kết cấu tài sản:
Bên nợ: Tập hợp chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên có: Các khoản giảm chi phí bán hàng
+ Kết chuyển chi phí bán hàng vào tài khoản 911
TK 641 không có số dư và được chi tiết thành 7 TK:
TK 6411"Chi phí nhân viên bán hàng"
TK 6412 "Chi phí vận chuyển bao bì"
TK 6413 "Chi phí công cụ, dụng cụ"
TK 6414 "Chi phí khấu hao TSCĐ"
TK 6415 "Chi phí bảo hành"
TK 6416 "Chi phí dịch vụ mua ngoài"
TK 6417 "Chi phí bằng tiền khác"

Trích đoạn Hình thức kế toán trên máy vi tính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status