THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TSCĐ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSCĐ
TẠI CÔNG TY IN BƯU ĐIỆN
----------***---------
I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH
DOANH VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
1) Quá trình hình thành và phát triển :
Công ty in Bưu điện Gia Lâm Hà Nội là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh,
là đơn vị thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công Ty Bưu Chính Viễn Thông Việt
Nam được phê chuẩn tại nghị định 51/CP ngày 01/08/1995 của chính phủ. Công ty in Bưu
điện Gia Lâm Hà Nội là một bộ phận cấu thành của hệ thống tổ chức thuộc Tổng Công ty
hoạt động trong chuyên ngành in nhằm tăng cường, tập trung, phân công chuyên môn hoá và
hợp tác sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu kế hoạch nhà nước do Tổng Công ty giao.
Công ty in Bưu điện Gia Lâm - Hà Nội ra đời ngày 01/05/1957 lúc đó Công ty chỉ là một
xưởng in Bưu điện trực thuộc phòng cung ứng Tổng cục Bưu điện đóng tại số nhà 100- phố
Hàng Trống- Hà Nội.
Tháng 10/1959 Phòng cung ứng vật tư Bưu điện chuyển xưởng in sang kho Bưu điện
Trung ương quản lý và chuyển cơ sở sản xuất về 64 Trần Phú- Hà Nội.
Tháng 3/1962 Xưởng in tách khỏi cục Bưu điện Trung ương để trở thành đơn vị hạch
toán độc lập trực thuộc Cục vật tư Bưu điện và đơn vị chuyển về 14 - Trần Hưng Đạo - Hà
Nội.
Năm 1965 xưởng chuyển sang Yên Viên- Gia Lâm làm việ. Cục vật tư quyết định sát
nhập xưởng in với Kho Bưu điện Trung ương, sau đổi tên thành
Xí nghiệp cung tiêu Bưu điện.
Tháng 12/1966 Xưởng in Bưu điện được tách khỏi Kho Bưu điện Trung ương thành một
đơn vị trực thuộc Công ty vật tư Bưu điện.
Năm 1980 Xưởng chuyển về Đặng Xá- Gia Lâm và được đổi tên thành Xưởng in và may.
Tháng 8/1985 lãnh đạo Tổng cục quyết định tách Xưởng in ra khỏi Công ty Vật tư với
tên gọi "Xí nghiệp in Bưu điện "
Năm 1988 Xí nghiệp lại có quyết định sát nhập với trung tâm thông tin xuất bản và có
tên gọi Trung tâm thông tin xuất bản và Bưu điện.
Năm 1991 do đòi hỏi của kinh tế thị trường, các đơn vị phải hạch toán kinh doanh. Lãnh
vì vậy cũng như nhiều doanh nghiệp nhà nước cùng thời, công ty chưa phát huy hết sức
mạnh của mình dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời gian này chưa cao.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường cùng nới sự phát triển của năng lực sản
xuất xã hội, công ty đã không ngừng biến đổi để theo kịp với tốc độ đó. Dù hoạt
động trong thị trường với tính cạnh tranh ngày càng khốc liệt song hiện tại công ty
có quy mô khá lớn với 5 phân xưởng sản xuất chính, 3 địa điểm kinh doanh với
hiệu quả kinh doanh tốt. Điều này chính là nhờ việc định hướng phát triển đúng
đắn qua từng giai đoạn, cùng với việc tự chủ trong xây dựng kế hoạch trên cơ sở
nghiên cứu rõ thị trường cùng với việc chú trọng đầu tư vào nguồn nhân lực công
ty đã có sự tiến bộ vượt bậc.
Điều này được khẳng định bằng một số chỉ tiêu đạt được qua các năm.
T
T
Chỉ tiêu ĐVT
Năm
2000 2001 2002 2003
1 Sản lượng T.trang 1.150 1.800 2.200 3.420
2 Giá trị tổng sản lượng 1000đ 33.200.000 43.000.000 73.500.000 144.447.000
3 Doanh thu 1000đ 32.081.000 41.922.000 71.900.000 140.000.000
4 Lợi nhuận 1000đ 1.083.000 1.286.000 1.650.000 3.500.000
5 Nộp NS 1000đ 978.100 1.286.000 1.350.000 5.000.000
6 Lao động Người 203 257 370 482
7 Tiền lương bình quân đồng 1.320.000 1.450.000 1.653.000 1.752.000
Qua biểu trên cho ta thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm tăng
lên rõ rệt. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã mở rộng được quy mô sản xuất, tăng được
năng suất và chiếm lĩnh được thị trường.
2) Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty in bưu điện
Bộ máy quản lý hoạt động sản xuất của công ty gồm các phòng ban chuyên môn và
chuyên viên giúp giám đốc về việc quản lý điều hành công việc chịu trách nhiệm trước giám
đốc về nhiệm vụ nội dung được giao.
- Giám đốc công ty do hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật
theo đề nghị của Tổng giám đốc. Giám đốc là đại diện pháp luật về quản lý, điều hành hoạt
động của công ty trong phạm vi quyền hạn các văn bản quy định của Tổng công ty. Giám
đốc là người có quyền quản lý và điều hành cao nhất của công ty. Sự giám sát theo dõi
những quyết định của giám đốc dựa trên báo cáo chứng từ của các phòng ban mà đứng đầu là
các trưởng phòng.
- Phó giám đốc là người giúp giám đốc quản lý, điều hành một số lĩnh vực hoạt động
của công ty theo phân công của giám đốc. Chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về
nhiệm vụ được phân công.
- Phòng Tổng hợp : Giúp giám đốc trong công tác tổng hợp, đánh gía tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty, công tác kiểm toán nội bộ theo quy định của nhà
nước, công tác tổ chức bộ máy hoạt động của công ty nói chung và của các đơn vị nói riêng,
công tác lao động, tiền lương và công tác y tế, an toàn vệ sinh cho người lao động.
- Phòng tài chính kế toán : Xây dựng chiến lược để tổ chức công tác tài chính, kế toán,
tín dụng. Giúp giám đốc công ty tổ chức và chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế
toán, thông tin kinh tế, tổ chức hạch toán kinh tế trong toàn bộ công ty theo chế độ, chính
sách, pháp luật của nhà nước và điều lệ tổ chức hạch toán kế toán, về tổ chức quản lý tài
chính của công ty.Phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện kịp thời các chế độ, chính sách,
pháp luật về tài chính kế toán của nhà nước và của công ty.Tham mưu cho giám đốc công ty
dự thảo các quy định về quản lý kinh tế, tài chính, kế toán, tín dụng và kiểm tra việc thực
hiện quy định đó.
Phân xưởng cơ điện Trung tâm chế bản
- Phòng kế hoạch sản xuất : Xây dựng kế hoạch xản xuất, chiến lược kinh doanh dài
hạn, trung hạn, ngắn hạn cho công tác SXKD và hệ thống giá bán sản phẩm của công ty.Điều
hành toàn bộ dây chuyền sản xuất sản phẩm của công ty.
- Trung tâm kinh doanh tiếp thị : tiêu thụ các loại sản phẩm do công ty sản xuất ra, kinh
doanh các loại vật tư hàng hoá theo giấy phép của công ty. Xúc tiến và tìm kiếm cơ hội kinh
doanh trong và ngoài nước. Nâng cao chất lượng dịch vụ để thúc đẩy sản xuất phát triển,
nâng cao uy tín của công ty.
- Phòng kỹ thuật vật tư : Thiết kế các khuôn mẫu và chịu trách nhiệm gia công sản xuất
vụ cho ngành Bưu điện như báo Bưu chính, tạp chí Bưu chính, thông tư bưu điện, các loại
sách phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập các quy chế văn bản của ngành
Bưu điện. Các loại giấy tờ quảng cáo, quản lý phục vụ cho công tác kinh doanh của ngành
như danh bạ điện thoại và tất cả các loại ấn phẩm của ngành phục vụ cho công tác kinh
doanh khai thác Bưu chính viễn thông. Ngoài ra để đảm bảo cho sự phát triển đi lên của công
ty, tận dụng hết khả năng công suất thiết bị, không ngừng nâng cao đời sống của cán bộ công
nhân viên trong công ty, công ty còn hợp đồng cả các ấn phẩm ngoài ngành phục vụ cho nhu
cầu của xã hội.
Từ năm 2000 trở lại đây, công ty đã đầu tư dây chuyền công nghệ và đưa vào sản xuất
sản phẩm thẻ viễn thông cao cấp, tạo bước đột phá mới về công nghệ in mã hoá bảo mật.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất là nhân tố cơ bản ảnh
hưởng trực tiếp đến công tác tổ chức bộ máy quản lý nói chung và công tác tổ chức hạch
toán kế toán nói riêng. Việc nghiên cứu đặc điềm quy trình công nghệ sẽ giúp các doanh
nghiệp phát hiện những khâu mạnh, khâu yếu trong năng lực sản xuất từ đó có phương
hướng đầu tư thích hợp, đồng thời giúp cho doanh nghiệp phát hiện ra các chi phí sản xuất có
điểm nào hợp lý, điểm nào chưa hợp lý, có góp phần nâng cao chất lượng, hạ giá thành đơn
vị sản phẩm hay không. Do vậy cần phải xem xét quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm in
của công ty in Bưu điện.
Quy trình công nghệ của công ty là một quy trình đơn giản khép kín, sản xuất sản phẩm
diễn ra một cách liên tục khép kín từ khâu đầu đến khâu cuối cùng. Dựa trên nhu cầu thị
trường trong từng thời điểm phòng kế hoạch lập kế hoạch sản xuất và trình giám đốc. Khi có
lệnh sản xuất thì phòng kế hoạch chuyển xuống xưởng sản xuất tiến hành sản xuất đúng kế
hoạch .
Gồm các công đoạn sau: Chế bản - Bình bản - phơi bản - Chuẩn bị giấy - In - Hoàn chỉnh
sản phẩm.
Có thể khái quát quy trình công nghệ chung sản xuất sản phẩm :
Tuy nhiên với mỗi sản phẩm cụ thể tuỳ đặc tính kỹ thuật, khuôn khổ và với các khách
hàng khác nhau mà mỗi sản phẩm có trình tự công nghệ sản xuất có khác nhau.
4) Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty in Bưu điện
a) Tổ chức bộ máy kế toán
Kế toán trưởng
Thủ
quỹ
Kế
toán
thanh
toán
Kế
toán
công
nợ
Kế toán
nguyên
vật liệu
Kế
toán
tổng
hợp
Kế
toán
bán
h ng à
KT ở các phân xưởng, nh máy à
+ Có nhiệm vụ thường xuyên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho ban lãnh đạo
công ty. Cuối kì báo cáo kết hợp phân tích đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị
và lập kế hoạch sản xuất kỳ sau.
+ Chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về công tác kế toán tài chính của công ty
cũng như số liêụ trên các báo cáo tài chính.
- Thủ quỹ
+ Căn cứ vào phiếu thu, chi được giám đốc , kế toán trướng kí duyệt làm thủ tục thu , chi
+ Lên báo cáo về tình hình nhập, xuất, tồn vật tư cho kế toán trưởng.
+ Đối chiếu số liệu với các bộ phận khác.
+ Các báo cáo phải lập:
Báo cáo nhập xuất tồn nguyên vật liệu.
Bảng giá nguyên vật liệu xuất kho.
- Kế toán bán hàng
Có nhiệm vụ theo dõi tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, công tác nhập hàng, xuất
kho hàng hoá thành phẩm và hàng hoá tồn kho của công ty. Cập nhật hóa đơn bán hàng và
chuyển cho kế toán tổng hợp. Theo dõi tình hình giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại.
- Kế toán công nợ
+ Có nhiệm vụ theo dõi tình hình công nợ của công ty và báo cáo công nợ cho kế toán
trưởng.
+ Lập bảng phân tích tình hình công nợ.
* Liên hệ với tổ chức quản lý chung:
Cùng với bộ máy quản lý của toàn công ty, bộ máy kế toán cũng có mô hình tổ chức tập
trung có sự quản lý thống nhất từ trên xuống.
Vượt qua thử thách đổi mới cơ chế quản lý chuyển từ hành chính tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước XHCN, công ty đã có sự phát
triển vượt bậc. Cùng với sự phát triển này phòng kế toán cũng từng bước phát triển hoàn
thành tốt chức năng vai trò quan trọng của mình. Sự phát triển của phòng kế toán cũng góp
phần không nhỏ trong qúa trình phát triển của cả công ty
b) Tổ chức hạch toán kế toán
- Quản lý và sử dụng chứng từ
Công ty in bưu điện là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong ngành Bưu chính
viễn thông dưới sự quản lý cuả nhà nước và tuân theo luật doanh nghiệp. Bởi vậy công tác kế
toán ở công ty được thực hiện theo chế độ kế toán hiện hành của bộ tài chính. Hầu hết chứng
từ do công ty sử dụng đều tuân thủ theo đúng quy định của nhà nước và được lập theo đúng
biểu mẫu in sẵn của Bộ Tài chính.
- Tài khoản sử dụng:
Hiện nay công ty đang tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán Doanh nghiệp
quỹ
Chứng từ ghi sổ
Sổ Cái
Bảng
tổng
hợp chi
tiết
Bảng cân đối
SPS
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Kiểm tra, đối chiếu
II – TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ KẾ TOÁN TSCĐ
TẠI CÔNG TY IN BƯU ĐIỆN
1) Đặc trưng về TSCĐ của Công ty :
Công ty in Bưu điện là một doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất kinh
doanh với chức năng chính là sản xuất và cung cấp ấn phẩm phục vụ cho mạng
lưới khai thác kinh doanh Bưu chính viễn thông của ngành nên TSCĐ của công ty
có những đặc trưng riêng biệt. TSCĐ của công ty đa dạng và chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng tài sản, trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, bao gồm
các nhóm :
Nhóm máy móc thuộc giai đoạn công nghệ in: Máy in offset 4 mầu kỹ thuật
số, dây chuyền sản xuất và in giấy vi tính, máy in nhãn bưu phẩm, máy in nhiệt mã
vạch,...
Nhóm máy móc thuộc giai đoạn hoàn chỉnh sản phẩm sau in : Máy gia công
sản phẩm đa chức năng, máy bắt liên, máy ép sách, máy cắt 3 mặt,...
Đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây công ty đã đầu tư mở rộng vào dây chuyền
công nghệ sản xuất thẻ viễn thông cao cấp với hệ thống máy móc thiết bị hiện đại,
đặc thù và có giá trị lớn như dây chuyền sản xuất thẻ CARPHONE của CHLB Đức
Tổng cộng TSCĐHH 32.191.852.862 100
Phân loại TSCĐHH theo công dụng
Khái quát về kế toán TSCĐ :
Công tác kế toán TSCĐ tại công ty được tiến hành theo quy định của Bộ Tài
chính theo hình thức Chứng từ ghi sổ.
Trong quá trình kế toán hệ thống chứng từ mà công ty sử dụng bao gồm cả
chứng từ mệnh lệnh ( quyết định, giấy đề nghị mua TSCĐ...) và chứng từ thực hiện
(hợp đồng mua bán, hoá đơn, biên bản giao nhận...). Hệ thống tài khoản công ty sử
dụng được chi tiết theo đặc trưng kĩ thuật của TSCĐ:
TK 211 : TSCĐ hữu hình. Được chi tiết thành :
TK 2112 : Nhà cửa vật kiến trúc
TK 2113 : Máy móc thiết bị
TK 2114: Phương tiện vận tải truyền dẫn
TK 214: Hao mòn TSCĐ
TK 2141: Hao mòn TSCĐ hữu hình
TK 2142: Hao mòn TSCĐ thuê tài chính
Công ty in Bưu điện là công ty hạch toán độc lập nên việc không ngừng nâng
cao doanh thu và giảm chi phí là mục tiêu hàng đầu đảm bảo sự tồn tại của công ty.
Chính vì thế, đầu tư TSCĐ đúng thời điểm, đúng loại cùng với việc nâng cao hiệu
quả sử dụng nó là một nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm và
tăng doanh thu.
Để đảm bảo yêu cầu trên, kế toán công ty luôn chú ý đến nguyên tắc thận
trọng đảm bảo thông tin đưa ra được chính xác .
Có thể khái quát tình hình tăng giảm TSCĐ của công ty năm 2003 như sau:
Chỉ tiêu
Nhóm TS
Dư đầu kỳ Tăng trong kỳ
Giảm trong
TSCĐHH của công ty chủ yếu tăng lên do công ty tự mua sắm ngoài ra còn
do xây dựng mới, nhận điều chuyển. Nguồn vốn chủ yếu đầu tư để mua sắm TSCĐ
tại công ty là nguồn vốn tự bổ sung. Việc đầu tư, mua sắm mới chủ yếu là máy
móc thiết bị như : máy cá thể hoá thẻ viễn thông, máy phủ cào UDA-150-S, máy
tạo phoi thẻ...
Phòng kỹ thuật – vật tư của Công ty có nhiệm vụ theo dõi và kiểm tra hiện
trạng TSCĐ tại Công ty từ đó phát hiện ra nhu cầu và lập kế hoạch mua sắm, trang
bị mới TSCĐ trình lên giám đốc. Sau khi được giám đốc phê duyệt (quyết định
nguồn vốn đầu tư), phòng kỹ thuật – vật tư phôí hợp cùng với bộ phận đầu tư tiến
hành việc mua sắm : lựa chọn nhà cung cấp và ký kết hợp đồng.
Mọi trường hợp tăng TSCĐ đều được lập hồ sơ lưư trữ gồm: Quyết định của
giám đốc, hợp đồng mua bán, hoá đơn, biên bản bàn giao, biên bản thanh lý hợp
đồng mua bán,va các chứng từ kèm theo khác... Căn cứ vào bộ hồ sơ này kế toán
tiến hành ghi sổ.
Trong năm 2003 vừa qua công ty đã quyết định mua một máy ROTAKEK
MINIPRINT cho nhà máy in. Căn cứ theo quyết định của giám đốc một hợp đông
kinh tế đã được lập với công ty Hệ thống Điện tử và Tin học - SEI Co.