Thực trạng công tác tổ chức và xây dựng hệ thống
kiểm soát chất lợng tại công ty dịch vụ t vấn tài
chính kế toán và kiểm toán
I. KHái quát về Công ty dịch vụ t vấn tài chính kế toán và kiểm
toán (AASC)
1. lịch sử hình thành và phát triển
Nh đã trình bày ở Chơng I, mục I.1.2 về Kiểm toán độc lập: từ khi nền kinh tế
Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, cùng với việc
đa dạng hoá hình thức sở hữu, đa phơng hoá đầu t, các hoạt động kinh tế đa dạng
đòi hỏi phải có dịch vụ kiểm toán. Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh
tế: Bộ trởng Bộ tài chính đã ký quyết định thành lập Công ty Dịch vụ kế
toán(ASC) theo Quyết định số164/TC/QD/TTCB ngày 13 tháng 5 năm 1991.
Trong những ngày đầu mới thành lập, Công ty chỉ cung cấp một số dịch vụ
chủ yếu là: dịch vụ kế toán, dịch vụ t vấn và bồi dỡng nghiệp vụ đã giúp cho việc
thực hiện chế độ kế toán mới nhanh chóng và hiệu quả.
Đầu thập kỷ 90, nhu cầu đầu t phát triển kinh tế cùng sự lớn mạnh về năng lực
hoạt động nghiệp vụ dẫn đến yêu cầu đổi mới hệ thống quản lý nền kinh tế quốc
dân. Công ty lại đứng trớc thách thức mở rộng loại hình dịch vụ đáp ứng sự phát
triển. Nhận ra bức xúc đó, Ban lãnh đạo Công ty đã nhanh chóng quyết định xin
Bộ tài chính bổ sung thêm một số loại hình dịch vụ: Kiểm toán và công nghệ
thông tin theo quyết định số 639TC/TCCB ngày 14/09/1993 của Bộ trởng Bộ tài
chính, Công ty đợc đổi tên thành Công ty Dịch vụ T vấn Tài chính Kế toán và
Kiểm toán với tên giao dịch quốc tế là Auditing and Accouting Financial
Consultancy Service Company gọi tắt là AASC và đó đã trở thành tên giao dịch
chính thức của Công ty cho đến nay. Ngày 29/04/1993 đợc trọng tài kinh tế Hà
Nội cấp giấy phép kinh doanh số 109157, Công ty đã chính thức đi vào hoạt động.
AASC trở thành một trong hai tổ chức hợp pháp đầu tiên và lớn nhất của Việt Nam
hoạt động độc lập trong lĩnh vực dịch vụ về kiểm toán, kế toán và t vấn tài chính
11
với sự đa dạng về dịch vụ cung cấp : Kiểm toán, kế toán, Công nghệ thông tin, t
22
nghiệp. Hiện nay, Công ty đã có hơn 600 khách hàng thờng xuyên, ổn định, hoạt
động trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và thuộc nhiều thành phần
kinh tế. Các khách hàng tín nhiệm cao của AASC gồm: các Doanh nghiệp Nhà n-
ớc, Doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các chơng trình dự án đợc tài trợ bởi các
tổ chức tài chính quốc tế, Ngân hàng, Bảo hiểm và Dịch vụ tài chính, Năng lợng,
Dầu khí, Viễn thông, Điện lực, Công nghiệp, Nông nghiệp, Giao thông, Thuỷ lợi,
- Các lĩnh vực hoạt động của AASC: Hoạt động dịch vụ của Công ty cung
cấp cho khách hàng phong phú và tơng đối toàn diện trong lĩnh vực tài chính kế
toán và kiểm toán. Các dịch vụ bao gồm: dịch vụ kiểm toán (Kiểm toán các Báo
cáo tài chính; kiểm toán các hoạt động dự án; kiểm toán Báo cáo quyết toán công
trình xây dựng cơ bản; kiểm toán xác định vốn liên doanh; giám định tài liệu kế
toán, tài chính); dịch vụ kế toán (Hớng dẫn áp dụng chế độ kế toán tài chính;
Xây dựng các mô hình tổ chức bộ máy tổ chức công tác kế toán; Mở và ghi sổ
kế toán, lập các Báo cáo tài chính; Lập hồ sơ đăng ký chế độ kế toán); T vấn về
thuế; T vấn quyết toán tài chính và quyết toán vốn đầu t; Hớng dẫn các thủ tục
đăng ký kinh doanh; ); Đào tạo cán bộ và ứng dụng tin học. Các dịch vụ chuyên
ngành của AASC có thể khái quát qua sơ đồ 2.(Xem trang 40)
- Kết quả hoạt động kinh doanh của AASC
Khi mới thành lập, số vốn ban đầu của Công ty khoảng hơn 200 triệu đồng và
đội ngũ nhân viên là 5 ngời do Tiến sỹ Phạm Huy Đoán làm Giám đốc. Đến nay
số vốn đó đã tăng lên đáng kể vào khoảng trên 20 tỷ đồng và số nhân viên trên 250
ngời.
Hơn mời năm qua, Công ty đã thực hiện hàng nghìn hợp đồng dịch vụ kiểm
toán, t vấn tài chính - kế toán cho mọi đối tợng trong các thành phần kinh tế với
doanh thu tăng trởng không ngừng. Nếu nh năm 1992 chỉ đạt 840 triệu đồng thì
đến năm 2000 đã là 17,4 tỷ đồng, năm 2002 đạt 21 tỷ và năm 2003
Sơ đồ 2: Các dịch vụ chuyên ngành của AASC
44
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2002 và năm 2003 AASC)
Tổng doanh thu năm 2003 của Công ty tăng so với năm 2002 là 20% đợc tổng
hợp từ các phần tăng đều của các dịch vụ mà Công ty không ngừng phát triển và
nâng cao chất lợng phục vụ. Cơ cấu doanh thu theo loại hình dịch vụ của AASC
năm 2003 đợc thể hiện qua biểu số 3 nh sau:
- Kiểm toán: 20.5 tỷ đồng, chiếm 81% tổng doanh thu.
- Kế toán: 2.1 tỷ đồng, chiếm 8% tổng doanh thu.
- Khác: 2.6 tỷ đồng, chiếm 11% tổng doanh thu.
Biểu số 3: Cơ cấu dịch vụ tính trên doanh thu năm 2003
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2003 AASC)
Có đợc bớc phát triển lớn mạnh nh vậy, AASC đã phải trải qua rất nhiều thử
thách. Với tinh thần nỗ lực phấn đấu, Công ty đã từng bớc khắc phục những tồn tại
trong từng khâu, từ những khó khăn về thị trờng đến những trở ngại bỡ ngỡ trong
chuyên môn để khẳng định hơn nữa vị trí của mình: là một trong những Công ty
kiểm toán-kế toán đầu ngành của Việt Nam.
Nhờ vậy, AASC đã trở thành Công ty kiểm toán đầu tiên đợc Chủ tịch nớc
trao tặng Huân chơng Lao động hạng 3 vào ngày kỷ niệm 10 năm thành lập
(14/09/2001) QĐ số 586/KT/CT và đợc Thủ tớng Chính phủ có quyết định số
922/QĐ/TTg tặng cờ thi đua và Bằng khen cho nhiều tập thể cá nhân của Công ty
vào ngày 27/07/2001.
3. Đặc điểm tổ chức bộ máy hoạt động của AASC
3.1Hệ thống phòng ban
Bộ máy quản lý của Công ty đợc tổ chức theo mô hình chức năng gồm có:
Ban Giám đốc quản lý điều hành Văn phòng chính và các Phó giám đốc quản lý và
điều hành các chi nhánh của Công ty.
Hiện tại, Công ty có văn phòng chính ở Hà Nội cùng 5 chi nhánh đặt ở:
Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Hải Phòng. Cơ cấu
tổ chức các phòng ban của Văn Phòng chính tại Hà Nội đợc thể hiện qua sơ đồ 3
Văn phòng chính
CN. Vũng
Tàu
CN.
Quảng Ninh
Phòng tài
chính
kế toán
Phòngc
ông
nghệ
thông
tin
Phòng
kiểm
toán các
ngành
sản xuất
vật chất
Phòng t
vấn kiểm
toán
Phòng
kiểm
toán th-
ơng mại
dịch vụ
Phòng
kiểm
toán dự
Phòng kiểm soát chất l ợng : Đây là phòng mới đợc Ban giám đốc quyết định
thành lập vào đầu năm 2002 để phục vụ cho công tác KSCL cho các dịch vụ mà
Công ty cung cấp với nhiệm vụ chính là soát xét lại các Báo cáo Kiểm toán đã đợc
lập.
Các phòng nghiệp vụ trên đều cung cấp nghiệp vụ chuyên môn theo đúng chỉ
tiêu Công ty giao cho. Các dịch vụ này phải đảm bảo cung cấp kịp thời và chất l-
ợng, tuân thủ theo đúng các chuẩn mực quốc tế đợc thừa nhận.
88
Các chi nhánh của Công ty dịch vụ t vấn tài chính kế toán và kiểm toán: đợc
xây dựng có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ của Công ty tại địa bàn của mình để
hạn chế tối đa chi phí đi lại cho nhân viên trong Công ty, đảm bảo các dịch vụ mà
Công ty cung cấp luôn đáp ứng kịp thời yêu cầu của các khách hàng trong và
ngoài nớc. Các chi nhánh này hạch toán độc lập và Công ty thực hiện Báo cáo tài
chính theo hình thức hợp nhất các Báo cáo tài chính.
3.2Tổ chức phân công, phân nhiệm
Khi mới thành lập, Công ty chỉ gồm 8 thành viên, nhng đến nay toàn Công ty
có hơn 250 thành viên trong đó có 79 KTV đợc cấp chứng chỉ CPA. Đội ngũ nhân
viên của AASC đợc đào tạo một cách có hệ thống, hầu hết các nhân viên đều đã
tốt nghiệp đại học trong và ngoài nớc. Công ty thờng xuyên trang bị cho nhân viên
đợc tiếp cận với những kĩ năng và kiến thức mới nhất nhằm đáp ứng mọi nhu cầu
của khách hàng
Hiện tại, Ban giám đốc lãnh đạo toàn Công ty gồm 4 thành viên: 1 Giám đốc
và 3 Phó Giám đốc giúp việc.
* Giám đốc Công ty: Ông Ngô Đức Đoàn
Quản lý chung các mặt hoạt động của Công ty, trực tiếp phụ trách các chi
nhánh của Công ty. Phụ trách việc xây dựng các dự án chiến lợc, đa dạng hoá các
loại hình dịch vụ, các hoạt động có quy mô lớn, chỉ đạo thực hiện trong lĩnh vực
đào tạo và bồi dỡng toàn Công ty.
* 3 Phó Giám đốc giúp việc: - Ông Tạ Quang Tạo
kiểm toán Việt Nam hoà nhập với thị trờng khu vực ASEAN cũng nh thị trờng
quốc tế tiến tới sự công nhận của quốc tế. Nh vậy, xu thế này tạo ra cơ hội lớn cho
sự phát triển của các Công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam nhng đồng thời cũng
đặt ra thách thức cạnh tranh ngặt nghèo cho họ.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ hớng phát
triển các ngành nghề kinh tế nớc ta trong thời gian tới tập trung vào: phát triển thị
trờng công nghệ thông tin, các dịch vụ thông tin, t vấn, tiếp thị, pháp lý, ngân
hàng, kiểm toán, bảo hiểm . Cho đến nay, Việt Nam có khoảng 5000 doanh
nghiệp Nhà nớc và theo kế hoạch đổi mới doanh nghiệp tiến tới cổ phần hoá hoặc
chuyển đổi hình thức sở hữu, đây là thị trờng đầy tiềm năng cho kiểm toán độc
lập. Tuy nhiên, ngành kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng ở nớc ta
1010