Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
lời mở đầu
Cơ chế thị trờng đã và đang mở ra một thời kỳ phát triển sôi động nhng
cũng đầy rủi ro cho nền kinh tế Việt Nam. Vì thế việc hình thành hệ thống kiểm
tra giám sát và cảnh báo tài chính đồng bộ và hiệu quả là rất cần thiết. Thực tế
đã cho thấy rằng kể từ khi ra đời đến nay, kiểm toán nói chung và kiểm toán
độc lập nói riêng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc làm lành mạnh nền
tài chính quốc gia, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính Nhà nớc, thúc đẩy các
doanh nghiệp phát triển... Nh vậy có thể nói rằng kiểm toán độc lập ra đời là
một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trờng, trớc hết là vì lợi ích của bản
thân doanh nghiệp, của các nhà đầu t trong và ngoài nớc đồng thời cũng là lợi
ích và yêu cầu của Nhà nớc.
Trong bất kỳ một cuộc kiểm toán nào hồ sơ kiểm toán cũng đóng một vai
trò quan trọng : Nó không chỉ chứa đựng những thông tin cần thiết làm căn cứ
đa ra ý kiến của kiểm toán viên mà còn là cơ sở pháp lý cho việc kiểm soát và
đánh giá chất lợng của cuộc kiểm toán, khẳng định với khách hàng về trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cũng nh chất lợng của cuộc kiểm toán, từ đó làm tăng uy
tín đối với khách hàng, mở rộng mạng lới khách hàng góp phần thúc đẩy sự
phát triển của các công ty kiểm toán.
Bên cạnh đó, hồ sơ kiểm toán còn đóng vai trò rất quan trọng trong công
tác tổ chức kiểm toán : Là căn cứ để lập kế hoạch kiểm toán cho năm sau, là cơ
sở để giám sát và kiểm tra công việc do trợ lý kiểm toán tiến hành, phục vụ cho
phân công và phối hợp kiểm toán, làm tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo...
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc lập hồ sơ kiểm toán, cùng với
những kiến thức thực tế có đợc qua thời gian thực tập tại Công ty Dịch vụ t vấn
tài chính, kế toán và kiểm toán ( AASC ) em đã chọn đề tài :
Tổ chức hệ thống hồ sơ kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
tại Công ty Dịch vụ t vấn tài chính, kế toán và kiểm toánvới mong muốn đi
sâu tìm hiểu thực tế công tác tổ chức hồ sơ kiểm toán tại Công ty cũng nh nêu
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
1
(1,2)
. Từ đó chúng ta
có thể thấy rằng kiểm toán có hai chức năng cơ bản là xác minh và bày tỏ ý
kiến về báo cáo tài chính của đơn vị kiểm toán. Để có thể thực hiện đợc chức
năng đó kiểm toán viên cần phải nắm đợc một lợng thông tin nhất định thông
qua quá trình thu thập và lu trữ. Đồng thời công việc kiểm toán cũng cần đợc
giám sát và quản lý một cách chặt chẽ vì nó là cả một quy trình phức tạp, đợc
phối hợp thực hiện bởi nhiều nhiều ngời và kết quả của nó có một vai trò rất
quan trọng đối với đơn vị khách hàng. Xuất phát từ chính yêu cầu đó hồ sơ
kiểm toán đã ra đời đáp ứng yêu cầu quản lý cũng nh chức năng của kiểm toán
nói chung và kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng.
Khái niệm hồ sơ theo nghĩa thông thờng là : Tài liệu tổng hợp có liên
quan với nhau về một ngời, một vấn đề hay một sự việc
(10, 603)
ví dụ nh hồ sơ cá
nhân, hồ sơ vụ việc,... Một hồ sơ đợc coi là hoàn thiện khi thông qua đó ngời
đọc có thể nắm đợc những thông tin liên quan đến đối tợng trong hồ sơ đó. Trên
góc độ pháp lý hồ sơ cũng đợc sử dụng nh một công cụ bắt buộc của quản lý :
Hồ sơ là tập hợp những tài liệu, văn bản hành chính hay t pháp đợc sắp xếp
thành từng loại mục, từng vấn đề, từng vụ việc để xử lý thờng xuyên, hoặc để
trình ra một cơ quan tài phán( hành chính, thơng mại, dân sự,...) hay để lu trữ
(9, 327)
.
Trong lĩnh vực kiểm toán hồ sơ kiểm toán là một thuật ngữ thông
dụng và hồ sơ kiểm toán đợc coi là một công cụ hữu hiệu phục vụ cho yêu cầu
quản lý và chức năng xác minh của công việc kiểm toán.
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
3
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
Trớc hết, xét về mặt thực hiện chức năng chung của kiểm toán, kiểm toán
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
4
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
phải bao gồm tất cả các thông tin mà kiểm toán viên cho là cần thiết để tiến
hành quá trình kiểm tra đầy đủ và cung cấp căn cứ cho báo cáo kiểm toán.
(3, 49)
Dựa trên Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế cũng nh thực tế tại Việt Nam Bộ
Tài chính đã ban hành Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 230 quy định : Hồ
sơ kiểm toán là tài liệu do kiểm toán viên lập, thu thập, phân loại, sử dụng và lu
trữ. Tài liệu trong hồ sơ kiểm toán đợc thể hiện trên giấy, trên phim ảnh, phơng
tiện tin học hay bất kỳ phơng tiện lu trữ nào khác theo quy định của pháp luật
hiện hành
(2, 27)
.
Nh vậy, các khái niệm đều nêu lên đợc những nét chung nhất về bản chất
cũng nh những chức năng cơ bản của hồ sơ kiểm toán và đã có nhiều cố gắng
hoàn thiện cho phù hợp với thực tế. Qua đó chúng ta có thể định nghĩa: Hồ sơ
kiểm toán chính là tập hợp tất cả các giấy tờ làm việc của kiểm toán viên chứa
đựng những thông tin mà kiểm toán viên thu thập đợc, những thủ tục mà kiểm
toán viên đã áp dụng và những kết luận mà kiểm toán viên đã đạt đợc trong quá
trình kiểm toán để làm cơ sở cho việc quản lý công việc kiểm toán cũng nh làm
cơ sở để đa ra ý kiến của mình thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý
kiến. Yêu cầu chung đối với một hồ sơ kiểm toán là phải đầy đủ và chi tiết sao
cho một kiểm toán viên khác hoặc ngời kiểm tra, soát xét không tham gia vào
quá trình kiểm toán khi đọc hồ sơ kiểm toán có thể hiểu đợc một cách dễ dàng.
Nhng mặt khác các khái niệm này cũng chỉ ra rằng kiểm toán viên không thể và
không phải thu thập mọi tài liệu liên quan đến cuộc kiểm toán mà chỉ thu thập
và lu trữ những thông tin nào kiểm toán viên cho là cần thiết và có liên quan
trực tiếp đến kết luận của kiểm toán viên mà thôi. Nh vậy, hồ sơ kiểm toán chứa
đựng tất cả các bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên đã thu thập đợc để
bộ.
- Phơng pháp, kỹ thuật kiểm toán đợc sử dụng trong quá trình kiểm toán.
- Nhu cầu về hớng dẫn, kiểm tra và soát xét những công việc do trợ lý
kiểm toán và cộng tác viên thực hiện trong một số trờng hợp cụ thể.
Để có thể tổ chức một hệ thống hồ sơ kiểm toán bảo đảm cơ sở pháp lý
cho ý kiến của kiểm toán viên và phục vụ tốt cho yêu cầu của quản lý thì hồ sơ
kiểm toán không chỉ cần phải đầy đủ và hợp lý về mặt nội dung mà cần phải
khoa học về mặt hình thức. Một hồ sơ kiểm toán đợc sắp xếp có hệ thống, có đề
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
6
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
mục rõ ràng sẽ rất thuận tiện cho việc lu trữ bảo quản cũng nh tra cứu tài liệu
trong hồ sơ đó. Đồng thời cũng bảo đảm cho công việc kiểm tra, soát xét có
hiệu quả. Chính vì vậy khi thiết lập hệ thống hồ sơ kiểm toán trong kiểm toán
báo cáo tài chính các kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần phải tuân thủ
một số yêu cầu chung về hồ sơ kiểm toán sau :
a. Hồ sơ kiểm toán phải có đề mục rõ ràng :
Để nhận dạng, phân biệt dễ dàng cho từng cuộc kiểm toán, từng khoản
mục, nội dung đợc kiểm toán. Đề mục thờng đợc đặt ở đầu hồ sơ kiểm toán, bao
gồm những nội dung sau :
- Tên đơn vị đợc kiểm toán.
- Đối tợng kiểm toán ( tài khoản, tiểu khoản, chỉ tiêu,..)
- Kỳ kiểm toán ( ngày kết thúc niên độ kế toán).
Số hồ sơ kiểm toán cũng đợc ghi chú ở một góc của hồ sơ để thuận tiện
cho việc tra cứu.
b. Hồ sơ kiểm toán phải có đầy đủ chữ ký của kiểm toán viên :
Các kiểm toán viên thực hiện hồ sơ kiểm toán phải ký tên và ghi ngày
tháng hoàn thành trên hồ sơ đó. Trong trờng hợp hồ sơ đợc thực hiện bởi đơn vị
đợc kiểm toán, kiểm toán viên vẫn cần phải ký vào sau khi đọc lại và kiểm tra
các thông tin trong đó. Để phân biệt, trong kiểm toán độc lập ngời ta ghi chú
Nh vậy không có một quy định chung cho hình thức của hồ sơ kiểm toán
mà việc lập và sắp xếp tuỳ theo điều kiện và yêu cầu của kiểm toán viên và
công ty kiểm toán sao cho phù hợp với từng khách hàng và từng hợp đồng. Việc
sử dụng các tài liệu theo mẫu quy định ( bản câu hỏi, mẫu th, cấu trúc hồ sơ
mẫu,...) giúp cho kiểm toán viên nâng cao hiệu quả trong việc lập và kiểm tra
hồ sơ, tạo điều kiện cho việc phân công công việc và kiểm tra chất lợng kiểm
toán.
d. Hồ sơ kiểm toán phải đợc chú thích đầy đủ về nguồn gốc dữ liệu, ký
hiệu sử dụng,...
- Về nguồn gốc dữ liệu, kiểm toán viên cần chú thích rõ chúng đợc lấy
từ nguồn dữ liệu nào (sổ cái, nhật ký, hoá đơn...), nơi lu trữ tài liệu, bộ
phận hoặc ngời chịu trách nhiệm kiểm toán tài liệu ( nếu cần), cách
hình thành số liệu của đơn vị...Chú thích này là cơ sở để truy cập dữ
liệu khi cần thiết.
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
8
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
- Kiểm toán viên cũng cần chú thích về các công việc kiểm toán viên đã
làm hoặc các kết quả đã đạt đợc, thí dụ đã đối chiếu với chứng từ gốc,
đã đối chiếu với sổ cái, đã kiểm tra cộng dồn.. Vì sự thuận tiện của nó
nên các ký hiệu đợc sử dụng rất rộng rãi bởi các kiểm toán viên. Để
không gây hiểu lầm, kiểm toán viên phải chú thích rõ về ý nghĩa của
từng ký hiệu ở bên dới hồ sơ kiểm toán.
- Ngoài ra kiểm toán viên cũng cần chú thích tóm tắt về những vấn đề
mà ngời đọc có thể không rõ khi sử dụng hồ sơ kiểm toán.
e. Hồ sơ kiểm toán phải đầy đủ, chính xác và thích hợp :
Hồ sơ kiểm toán không thể và không phải thu thập tất cả mọi tài liệu,
thông tin liên quan đến cuộc kiểm toán nhng phải bảo đảm đầy đủ cơ sở để
kiểm toán viên đa ra ý kiến của mình. Một hồ sơ kiểm toán đợc coi là đầy đủ
khi bao gồm các nội dung sau :
Hồ sơ kiểm toán nên viết trên một mặt giấy để tránh bị bỏ sót trong quá
trình đọc.
Nội dung của hồ sơ kiểm toán :
Không có bất cứ một Chuẩn mực chung hay một quy định chung nào về
cách tổ chức các tài liệu trong hồ sơ kiểm toán mà công việc này đợc tiến hành
khác nhau ở những đơn vị kiểm toán khác nhau tuỳ thuộc vào quy định của mỗi
công ty kiểm toán và quyết định của kiểm toán viên. Mặc dù vậy, hồ sơ kiểm
toán bao giờ cũng gồm 2 loại : Hồ sơ kiểm toán thờng trực và hồ sơ kiểm toán
hiện hành.
Hồ sơ kiểm toán th ờng trực (hồ sơ kiểm toán chung) : Là hồ sơ kiểm
toán chứa đựng những thông tin chung về khách hàng liên quan đến hai hay
nhiều cuộc kiểm toán trong nhiều năm tài chính của khách hàng. Hồ sơ này
nhằm lu trữ những dữ kiện có tính chất lịch sử hoặc tính liên tục thích hợp với
quá trình kiểm toán đợc quan tâm thờng xuyên qua nhiều kỳ.
Hồ sơ kiểm toán thờng trực gồm những tài liệu sau :
- Các trích đoạn hoặc các bản sao những chứng từ có tầm quan trọng
liên tục nh bản điều lệ công ty, các văn bản dới luật, các giao kèo trái
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
10
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
khoán và các hợp đồng. Mỗi loại chứng từ này đều rất quan trọng với
kiểm toán viên trong nhiều năm khi chúng còn có hiệu lực.
- Các quá trình phân tích từ các năm trớc, các tài khoản có tính quan
trọng liên tục đối với kiểm toán viên. Những tài khoản này thờng bao
gồm các tài khoản nh nợ dài hạn, vốn cổ đông, tài sản cố định... các
thông tin này trong hồ sơ kiểm toán thờng trực giúp kiểm toán viên
tập trung phân tích những biến động của số d năm hiện hành trên cơ
sở có xem xét lại kết quả của các lần kiểm toán năm trớc.
- Thông tin có liên quan đến hiểu biết về cơ cấu kiểm soát nội bộ và
quá trình rủi ro kiểm soát. Thông tin này bao gồm sơ đồ tổ chức, sơ
kiểm toán viên sẽ phát hiện các sai sót trong số liệu kế toán của đơn
vị, đối với các sai sót trọng yếu thì kiểm toán viên sẽ đa ra các bút
toán điều chỉnh lại cho đúng. Việc điều chỉnh này thờng phải đợc đa
ra thảo luận và đợc sự đồng ý của khách hàng. Nếu khách hàng không
đồng ý thì tuỳ thuộc vào mức độ trọng yếu mà kiểm toán viên có thể
phát hành loại báo cáo kiểm toán thích hợp.
Trong một số trờng hợp, sổ sách kế toán ghi chép đúng nhng việc thể
hiện chúng trên báo cáo tài chính thì không chính xác. Thí dụ : đơn vị thể hiện
số d đã bù trừ giữa bên nợ và bên có của các tài khoản thanh toán lên trên bảng
cân đối mà thực chất là phải phản ánh riêng số d nợ lên tài sản có và số d có lên
tài sản nợ, nghĩa là không đợc bù trừ cho nhau. Trong trờng hợp này, kiểm toán
viên không cần phải yêu cầu sửa lại sổ sách, mà chỉ điều chỉnh lại báo cáo tài
chính. Các bút toán điều chỉnh này đợc tập hợp trên một bảng gọi là Bảng
tổng hợp các bút toán điều chỉnh lại khoản mục.
- Các Bảng kê cơ sở : Phần lớn nhất của t liệu gồm những bảng kê chi
tiết đợc kiểm toán viên lập nhằm chứng minh cho số tiền đặc thù trên
báo cáo tài chính. Có nhiều loại bảng kê đợc sử dụng và kiểm toán
viên phải sử dụng đúng ở các khía cạnh khác nhau của cuộc kiểm toán
để bảo đảm tính đầy đủ của cuộc kiểm toán.
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
12
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
- Bảng phân tích : Bảng phân tích đợc thiết kế để phản ánh hoạt động
vào tài khoản trên Bảng cân đối tài sản trong suốt kỳ kiểm tra, có kết
hợp với các số d đầu kỳ và cuối kỳ. Loại bảng kê này thờng đợc dùng
cho các tài khoản nh chứng khoán, nợ phải thu, dự phòng, bất động
sản, tài sản cố định, nợ dài hạn, vốn điều lệ. Đặc điểm chung của các
tài khoản này là ý nghĩa của hoạt động của tài khoản trong năm.
Trong hầu hết các trờng hợp, t liệu của các bảng phân tích có đối
chiếu tham khảo với các t liệu khác. Bảng này dùng để phân biệt mọi
Tuy vậy, các bảng kê phải nêu rõ kết luận khẳng định hay phủ nhận
về mục tiêu khảo sát.
- Bảng thông tin : Loại bảng kê này bao gồm thông tin với bằng chứng
kiểm toán. Nó gồm những thông tin cho bảng khai thuế, dữ kiện cho
các bảng cân đối thời gian và số giờ làm việc của khách hàng.
- Tài liệu chứng minh bên ngoài : Rất nhiều nội dung của các t liệu
gồm tài liệu bên ngoài đợc kiểm toán viên thu thập lại nh các th xác
nhận, bản sao hợp đồng của khách hàng. Mặc dù không có ý nghĩa
thực sự nh các bảng kê nhng những tài liệu này vẫn đợc đánh ký hiệu
và lu giữ giống nh các bảng kê khác.
Trên cơ sở đó Bộ Tài chính đã ban hành Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam ( VAS ) Số 230 quy định về nội dung của hồ sơ kiểm toán nh sau:
Hồ sơ kiểm toán không thể và không phải thu thập tất cả mọi tài liệu,
thông tin liên quan đến cuộc kiểm toán. Phạm vi và nội dung mỗi hồ sơ kiểm
toán đợc lập tuỳ thuộc vào sự đánh giá của kiểm toán viên. Hồ sơ kiểm toán
phải bảo đảm đầy đủ cơ sở cho kiểm toán viên đa ra ý kiến nhận xét của mình
và bảo đảm cho kiểm toán viên không tham gia vào cuộc kiểm toán và ngời
kiểm tra soát xét hiểu chi tiết cuộc kiểm toán sau khi trao đổi với kiểm toán
viên lập hồ sơ kiểm toán đó
(2)
.
Kiểm toán viên phải ghi chép và lu giữ trong hồ sơ kiểm toán của mình
tất cả các tài liệu và thông tin liên quan đến :
- Kế hoạch kiểm toán.
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
14
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
- Nội dung, chơng trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán đã đợc thực
hiện.
- Kết quả các thủ tục đã thực hiện.
khách hàng về nhân sự ; Quy định về quản lý và sử dụng quỹ lơng ;...
+ Các tài liệu về kế toán :
Văn bản chấp thuận chế độ kế toán đợc áp dụng
Các nguyên tắc kế toán áp dụng : Phơng pháp xác định giá trị hàng
tồn kho, phơng pháp tính dự phòng,...
+ Các hợp đồng hoặc thoả thuận với bên thứ ba có hiệu lực trong thời
gian dài ( ít nhất là hai năm tài chính) : Hợp đồng kiểm toán, hợp đồng cho
thuê, hợp đồng bảo hiểm, thoả thuận vay..
+ Các tài liệu khác : Hồ sơ kiểm toán nói chung đợc cập nhật hàng năm
khi có sự thay đổi liên quan đến các tài liệu đề cập trên đây.
Hồ sơ kiểm toán năm, thờng gồm :
+ Các thông tin về ngời lập, ngời kiểm tra (soát xét) hồ sơ kiểm toán :
Họ tên kiểm toán viên, trợ lý kiểm toán viên thực hiện kiểm toán và
lập hồ sơ kiểm toán ;
Họ tên ngời kiểm tra (soát xét), ngày tháng kiểm tra ;
Họ tên ngời xét duyệt, ngày tháng xét duyệt.
+ Các văn bản về tài chính, kế toán, thuế,... của cơ quan Nhà nớc và cấp
trên liên quan đến năm tài chính.
+Báo cáo kiểm toán, th quản lý, báo cáo tài chính và các báo cáo khác,..
( bản dự thảo và bản chính thức).
+ Hợp đồng kiểm toán, th hẹn kiểm toán, phụ lục hợp đồng ( nếu có) và
bản thanh lý hợp đồng.
+ Những bằng chứng về kế hoạch chiến lợc, kế hoạch kiểm toán chi tiết,
chơng trình làm việc và những thay đổi của kế hoạch đó ;
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
16
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
+ Những bằng chứng về thay đổi hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát
nội bộ của khách hàng.
+ Những bằng chứng và kết luận trong việc đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi
hồ sơ kiểm toán là một phần rất quan trọng đảm nhận nhiều chức năng khác
nhau. Xuất hiện từ khâu lập kế hoạch cho đến khâu kết thúc kiểm toán hồ sơ
kiểm toán là một tài liệu lu trữ bắt buộc, sử dụng nhiều năm sau ngày kết thúc
kiểm toán. Có thể khái quát các chức năng của hồ sơ kiểm toán theo sơ đồ nh
sau :
Sơ đồ số 1: Các chức năng cơ bản của hồ sơ kiểm toán
Cụ thể nội dung các chức năng của hồ sơ kiểm toán nh sau :
a. Phục vụ cho việc phân công và phối hợp kiểm toán :
Công việc kiểm toán thờng đợc tiến hành bởi nhiều ngời trong một thời
gian nhất định, do đó việc phân công và phối hợp làm việc là một yêu cầu cần
thiết. Hồ sơ kiểm toán là một công cụ hữu hiệu cho mục đích này, biểu hiện nh
sau:
- Các kiểm toán viên chính sẽ căn cứ vào chơng trình kiểm toán để lập
ra các hồ sơ kiểm toán cho mỗi công việc chi tiết, và giao cho các trợ
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
18
Các chức năng của
hồ sơ kiểm toán
Phục
vụ
cho
phân
công
và
phối
hợp
kiểm
toán
Làm
cơ sở
Làm cơ
sở cho
việc
giám sát
kiểm tra
công
việc của
các trợ lý
kiểm
toán
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
lý kiểm toán thực hiện. Những công việc do các trợ lý kiểm toán tiến
hành, và các kết quả thu đợc sẽ phản ánh trên hồ sơ kiểm toán. Nh
vậy, thông qua cách này, một kiểm toán viên chính sẽ giao việc và
giám sát công việc của nhiều trợ lý kiểm toán.
- Hồ sơ kiểm toán cung cấp thông tin giữa các kiểm toán viên để phối
hợp hoạt động. Kết quả công việc của kiểm toán viên này có thể đợc
sử dụng bởi các kiểm toán viên khác để tiếp tục công việc đó, hay
thực hiện các công việc khác có liên quan.
- Mỗi hồ sơ kiểm toán đánh dấu một bớc công việc đợc hoàn thành
trong quá trình kiểm toán. Kiểm toán viên chính căn cứ số hồ sơ kiểm
toán đã phát hành và số hồ sơ kiểm toán đã thu hồi để đánh giá tiến
độ, và tiếp tục điều hành công việc.
- Mỗi hồ sơ kiểm toán là nơi lu trữ toàn bộ thông tin về một đối tợng.
Trong quá trình kiểm toán, các thông tin đã thu thập sẽ đợc tiếp tục bổ
sung, cập nhật vào hồ sơ kiểm toán của từng đối tợng có liên quan.
b. Làm cơ sở cho việc giám sát và kiểm tra công việc của các trợ lý
kiểm toán :
Việc xem xét và kiểm tra chất lợng công việc của các trợ lý kiểm toán đ-
ợc tiến hành trên các hồ sơ kiểm toán do họ thực hiện. Việc xem xét và kiểm tra
đợc cho kỳ sau.
- Làm mẫu cho các kiểm toán viên phụ thực hiện công việc dựa vào hồ
sơ kiểm toán kỳ trớc. Nhờ đó, kiểm toán chính sẽ đỡ tốn thời gian h-
ớng dẫn cụ thể và chi tiết.
Tuy nhiên việc sử dụng hồ sơ kiểm toán của kỳ trớc đòi hỏi phải chú ý
các vấn đề nh sự thay đổi về các mặt hoạt động và hệ thống kiểm soát nội bộ
của đơn vị, khả năng nâng cao hiệu quả của công việc kiểm toán.
e. Hồ sơ kiểm toán là cơ sở pháp lý cho công việc kiểm toán.
Kiểm toán viên, nhất là kiểm toán viên độc lập phải chứng minh đợc rằng
công việc kiểm toán đã đợc tiến hành trên cơ sở tuân thủ các Chuẩn mực Kiểm
toán hiện hành thông qua các hồ sơ kiểm toán. Muốn vậy, hồ sơ kiểm toán phải
đầy đủ, rõ ràng và có tính thuyết phục, không đợc chứa đựng những vấn đề
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
20
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
không thể giải thích đợc, các lập luận thiếu vững chắc, các thay đổi không giải
thích đợc..
f. Làm tài liệu cho đào tạo.
Với những ngời mới bắt đầu bớc vào nghề kiểm toán thì hồ sơ kiểm toán
những năm trớc đợc coi là tài liệu đào tạo rất quan trọng kết hợp với sự hớng
dẫn của những kiểm toán viên có kinh nghiệm. Hồ sơ kiểm toán là những tài
liệu thực tế nhất mà ngời cộng sự mới bớc vào nghề cần phải tiếp cận để làm
quen dần với công tác kiểm toán.
Trên cơ sở những yêu cầu cả về mặt nội dung và hình thức của hồ sơ
kiểm toán Bộ Tài chính đã đa ra những quy định chung về tính bí mật, an toàn,
lu trữ và sở hữu hồ sơ kiểm toán trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 230
nh sau :
Tính bí mật, an toàn :
Hồ sơ kiểm toán lu trữ toàn bộ những tài liệu về hoạt động tài chính của
khách hàng vì vậy nó cần đợc giữ bí mật và an toàn. Và kiểm toán viên và
Trong trờng hợp có từ hai công ty kiểm toán trở lên cùng thực hiện một
cuộc kiểm toán thì hồ sơ kiểm toán đợc lập theo sự phân công công việc của
từng bên. Để tạo thành các bộ hồ sơ hoàn chỉnh làm cơ sở soát xét, phát hành
báo cáo kiểm toán và lu trữ hồ sơ, khi chuẩn bị kết thúc cuộc kiểm toán, mỗi
bên phải phô tô cho nhau các hồ sơ thuộc phần công việc của công ty mình. Nh
vậy, khi có hai hay nhiều công ty kiểm toán cùng tiến hành một cuộc kiểm toán
thì hồ sơ kiểm toán là thuộc sở hữu chung của các công ty kiểm toán đó, mỗi
công ty có một hồ sơ kiểm toán hoàn chỉnh về cuộc kiểm toán và đợc lu tại mỗi
công ty.
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
22
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
Chơng II : thực tế tổ chức hệ thống hồ sơ
kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài
chính tại Công ty dịch vụ t vấn tài chính
kế toán và kiểm toán (AASC )
I. Đặc điểm chung của Công ty dịch vụ t vấn tài
chính kế toán và kiểm toán (AASC)
1. Lịch sử hình thành và phát triển của AASC
Công ty Dịch vụ t vấn tài chính, kế toán và kiểm toán (AASC) là một
trong những tổ chức hợp pháp đầu tiên và lớn nhất của Việt Nam hoạt động
trong lĩnh vực kiểm toán, kế toán và t vấn tài chính. Công ty đợc thành lập theo
Quyết định số 164 TC/ QĐ/TCCB ngày 13 tháng 05 năm 1991 của Bộ Tài
chính. Khi mới thành lập Công ty có tên là Công ty Dịch vụ kế toán(ASC) và
chỉ cung cấp duy nhất dịch vụ kế toán. Sau đó, đợc phép của Bộ Tài chính Công
ty đợc bổ sung thêm dịch vụ kiểm toán và đổi tên thành Công ty Dịch vụ t vấn
tài chính, kế toán và kiểm toán (AASC) theo Quyết định số 639
TC/QĐ/TCCB của Bộ Tài chính và đó trở thành tên giao dịch chính thức của
Công ty từ năm 1993 đến nay.
Ngày 29 tháng 4 năm 1993 Công ty đợc Trọng tài kinh tế Hà nội cấp
Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính kế toán và kiểm toán nên
Công ty phải tuân thủ các chế độ cũng nh các Chuẩn mực nghề nghiệp. Vì vậy
việc tổ chức bộ máy quản lý của Công ty có nhiều nét đặc thù. AASC phân chia
các phòng ban theo chức năng, mỗi phòng ban chịu trách nhiệm về một lĩnh vực
riêng : Kiểm toán dự án, kiểm toán quyết toán các công trình xây dựng cơ
bản,... cùng hoạt động theo kế hoạch chung của Công ty.
Tuy nhiên, do tính chất nghề nghiệp và đặc điểm của từng loại hình dịch
vụ mà Công ty cung cấp nên các phòng ban đợc tổ chức một cách linh hoạt để
kịp thời hỗ trợ lẫn nhau đáp ứng một cách tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng.
Ví dụ đối với dịch vụ kiểm toán là loại hình dịch vụ chủ yếu chiếm khoảng 75%
doanh thu của Công ty : Công ty không phân chia lĩnh vực khách hàng cho từng
- Lớp Kiểm toán 40A - Đại học KTQD
24
Luận văn tốt nghiệp Lê Thị Hoài Thanh
phòng ban mà tất cả các phòng nghiệp vụ của Công ty đều có thể cung cấp dịch
vụ này cho khách hàng thuộc tất cả các loại hình doanh nghiệp với chất lợng
cao. Chỉ trừ phòng Kiểm toán báo cáo quyết toán các công trình xây dựng cơ
bản ( gọi tắt là phòng Kiểm toán XDCB) là hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực
kiểm toán báo cáo quyết toán các công trình xây dựng cơ bản vì đây là một lĩnh
vực phức tạp có liên quan nhiều đến kiến thức chuyên môn của ngành xây dựng
đòi hỏi phải có những chuyên gia trong lĩnh vực này.
Là một doanh nghiệp nhỏ nhng khách hàng của Công ty lại phân bố trên
phạm vi cả nớc và do đặc điểm của nghề nghiệp là phải thực hiện tại đơn vị
khách hàng vì vậy việc tổ chức bộ máy quản lý cuả Công ty phải rất khoa học
để đáp ứng một cách tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng. Ngoài trụ sở chính
tại số 1 Lê Phụng Hiểu Công ty còn có 4 chi nhánh và 1 văn phòng đại diện ở
khắp mọi miền trên toàn quốc. Bộ máy quản lý của Công ty đợc tổ chức nh sau :
Sơ đồ số 2 (trang 25)
Ban Giám đốc gồm có :
Giám đốc Ngô Đức Đoàn