CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
I. Những vấn đề cơ bản về bảo lãnh ngân hàng.
1. Khái niện về bảo lãnh ngân hàng, đặc điểm và vai trò của hoạt động bảo lãnh
ngân hàng.
1.1. Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh là khái niện có từ rất xa xưa trong xã hội loài người, cho đến nay bảo
lãnh không những tồn tại mà còn phát triển phong phú bao trùm trên mọi lĩnh vực của
đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của mỗi quốc gia. Vậy bảo lãnh là gì?
Trong xã hội phong kiến người ta đã biết đến khái niệm lý tưởng và những
người có thế lực bảo lãnh cho tù nhân trong thời gian thi hành án, cha mẹ bảo lãnh cho
con. Sau đó bảo lãnh được phát triển sang lĩnh vực dân sự và nhiều lĩnh vực khác của
đời sống kinh tế xã hội. Bảo lãnh được phân ra hai hình thức dựa vào tính chất và đối
tượng của bảo lãnh đó là : “ Bảo lãnh đối nhân” [
1
] và “ Bảo lãnh đối vật” [
2
]. Cùng với
lịch sử phát triển của đời sống kinh tế xã hội thuật ngữ bảo lãnh được hiểu nhiều cách
khác nhau như trong từ điển pháp luật của Mỹ thì : “ Bảo lãnh là sự thoả thuận, mà theo
đó người bảo lãnh chấp thuận nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ; là
việc bên bảo lãnh đảm bảo hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong
trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện” [
3
]. Theo pháp luật dân sự Việt Nam thì :
“ Bảo lãnh là việc người thứ 3 ( sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (
sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( sau
đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên
bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình” [
4
hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng”[
6
]. Theo quan
điểm của các nhà làm luật thì : “ Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của các
tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận
nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay” [
7
]. Cũng theo quy định tại
khoản 1 Điều 2 của Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành theo Quyết định số
26/2006/QĐ – NHNN ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam ( gọi tắt là Quy chế bảo lãnh ) thì bảo lãnh ngân hàng được hiểu là : “ Cam
kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng ( bên bảo lãnh) với bên có quyền về việc thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng ( bên được bảo lãnh) khi khách hàng khôn
5[ ]Ngô Quốc Kỳ, “Một số vấn đề pháp lý cơ bản về hoạt động của Ngân hàng”, NXB Chính trị Quốc Gia,
1995, trang 67 – 77.
6[ ]Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2007
7[]Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2007
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết đối với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức số tiền đã trả thay”.
2. Đặc điểm, chức năng, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh ngân
hàng.
2.1. Đặc điểm, chức năng của bảo lãnh ngân hàng.
2.1.1. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng.
Xét về bản chất, bảo lãnh ngân hàng là hình thức bảo đảm nghĩa vụ (giao dịch
đảm bảo) mang tính phái sinh, tức khi ngân hàng thực hiện bảo lãnh thì các quan hệ sau
nảy sinh :
- Thứ nhất, quan hệ giữa ngân hàng với bên có quyền ( bên nhận bảo lãnh).
- Thứ hai, quan hệ dịch vụ bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng với khách hàng ( bên
có nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh) phát sinh do thoả thuận giữa các bên trong việc tổ
phải là chủ thể thuộc cấu trúc chủ thể của hợp đồng bảo lãnh, nên họ không có các
quyền và nghĩa vụ tương ứng như trong quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo
lãnh. Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thì tư cách của họ
không phải là tư cách của các bên ký hợp đồng bảo lãnh, mà là tư cách của chủ thể quan
hệ hợp đồng có nghĩa vụ của người bảo lãnh được đảm bảo bằng biện pháp bảo lãnh.
- Tính độc lập : Đây là đặc tính rất quan trọng của bảo lãnh ngân hàng. Mặc dù
mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn những thiệt hại từ việc không thực hiện
hợp đồng hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của bên được bảo lãnh cho bên nhận bảo
lãnh. Tính độc lập thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng, trách nhiệm
này hoàn toàn độc lập với ngân hàng và người được bảo lãnh.
Về tính độc lập của bảo lãnh, tại khoản b, điều 2 của “ Quy tắc thống nhất về
bảo lãnh theo yêu cầu - Ấn bản số 458 của Phòng thương mại Quốc tế ICC -1992”
[
10
]có nêu : “ Về bản chất thì bảo lãnh là những giao dịch riêng biệt với các hợp đồng
hoặc điều kiện dự thầu mà những điều kiện này có thể là cơ sở của bảo lãnh. Người bảo
lãnh trên mọi phương diện không liên quan đến hoặc bị ràng buộc vào các hợp đồng
như thế hoặc các điều kiện dự thầu, dù cho trong bảo lãnh có tham chiếu đến chúng.
Trách nhiệm của người bảo lãnh là thanh toán những số tiền hay số tiền đã được quy
định trong bảo lãnh khi xuất trình văn bản yêu cầu thanh toán và những chứng từ khác
thể hiện trên bền mặt của chúng hoàn toàn phù hợp với điều kiện bảo lãnh”. Từ quy
định này ta có thể thấy, một khi bảo lãnh được ký kết thì ngân hàng buộc phải thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ của mình, tuy nhiên khi có tranh chấp phát sinh giữa bên nhận bảo lãnh và bên
được bảo lãnh về nghĩa vụ đó thì ngân hàng không liên quan đến tranh chấp đó. Tuy
nhiên, bảo lãnh khác với thư tín dụng chứng từ (L/C) ở chỗ bảo lãnh mang chức năng
đảm bảo, trả tiền theo yêu cầu đầu tiên, và có phạm vi nhất định còn thư tín dụng chứng
từ mang chức năng thanh toán, trả tiền khi người thụ hưởng xuất trình chứng từ phù
hợp, thanh toán khi hoàn thành nghĩa vụ.
2.1.2. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng.
muốn người được bảo lãnh thực hiện hợp đồng chứ không mong chờ ở khoản bồi hoàn
tài chính từ bảo lãnh.
2.2. Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến bảo lãnh ngân hàng.
2.2.1. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng.
Hiện nay bảo lãnh đã phát triển rộng rãi trên hầu hết các lĩnh vực. Bảo lãnh
không chỉ hỗ trợ cho các hợp đồng thương mại mà cả giao dịch phi thương mại, tài
chính. Bảo lãnh không chỉ là một động lực tạo sự phát triển của ngân hàng mà còn có
vài trò quan trọng đối với các doanh nghiệp. Theo tiêu chí đăng ký vốn kinh đăng ký
kinh doanh qui định tại Nghị định số 90/2001/NĐ – CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của
Chính Phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ thì số lượng và tỷ lệ doanh
nghiệp không chỉ có 91% các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 20% doanh nghiệp Nhà
nước và 30% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp vừa và nhỏ[
11
].
Do đó, bảo lãnh ngân hàng đối với các doanh nghiệp này có ý nghĩa rất quan trọng nó
tạo động lực để các doanh nghiệp này cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
đồng thời tạo nền tảng để các doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng sự hợp tác với các đối
tác nước ngoài khác.
Đối với doanh nghiệp, vai trò của bảo lãnh ngân hàng thể hiện : Thúc đẩy cạnh
tranh, mở rộng sản xuất. Sở dĩ vậy do bắt nguồn chức năng của bảo lãnh ngân hàng, tạo
điều kiện cho bên nhận bảo lãnh tìm kiến đối tác, tham gia ký kết và thực hiện hợp
đồng không tốn nhiều thời gian và kinh phí , đồng thời hạn chế rủi do đến với bên nhận
bảo lãnh. Mặt khác đối với các doanh nghiệp khi được ngân hàng bảo lãnh thì phải chụi
một khoản phí bảo lãnh, đó là khoản chi phí của doanh nghiệp do đó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có biệm pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn một cách có hiệu quả, từ đó
sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Đối với ngân hàng, vai trò bảo lãnh ngân hàng được thể hiện : trước hết bảo lãnh
ngân hàng đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng thông qua chi phí bảo lãnh, phí này
đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng phí
- Trình độ và chất lượng của lao động : Nhân tố con người chính là yếu tố quyết
định quan trọng đến sự thành bại trong bất kỳ hoạt động nào của ngân hàng. Việc sử
dụng nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn giỏi sẽ giúp cho ngân hàng tạo lập
được những khách hàng chung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thể xảy ra và đây
cũng là nhân tố giúp ngân hàng giảm thiểu được chi phí hoạt động.
(2) Nhóm nhân tố khách quan : Đây là nhóm nhân tố bên ngoài có tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của ngân hàng, các nhân tố này có thể là : môi trường
kinh tế, chính trị và xã hội; môi trường pháp lý.
- Môi trường kinh tế, chính trị và xã hội : Đây là nhân tố có ảnh hưởng không
nhỏ đến các hoạt động của ngân hàng, vì nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn
định nó sẽ là điều kiện làm cho quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình
thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp do đó nó
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng. Ngược lại, khi môi trường kinh tế,
chính trị và xã hội trở nên bất ổn định thì lại là nhân tố bất lợi cho hoạt động của ngân
hàng như : nhu cầu vay vốn giảm, nguy cơ nợ quá hạn và nợ xấu tăng làm giảm hiệu
quả hoạt động của ngân hàng.
- Môi trường pháp lý : Đây là nhân tố có vai trò hết sức quan trọng đối với nền
kinh tế nói chung và đối với hoạt động của ngân hàng nói riêng, nó là cơ sở tiền đề để
ngân hàng phát triển nhanh và bền vững. Thực tiễn cho thấy, nếu hệ thống pháp luật
được xây dựng không đồng bộ, phù hợp với phát triển của nền kinh tế thì nó sẽ là rào
cản cho quá trình phát triển nền kinh tế. Mặt khác, nếu hệ thống pháp luật hoàn chỉnh sẽ
tạo nên môi trường pháp lý để giải quyết các tranh chấp khiếu nại, nảy sinh trong hoạt
động kinh tế xã hội từ đó đảm bảo được lợi ích chung của xã hội nói chung và lợi ích
của các ngân hàng nói riêng trong quá trình phát triển của nền kinh tế.
3. Phân loại bảo lãnh ngân hàng.
Tuỳ theo tiêu chí khác nhau mà bảo lãnh ngân hàng được chia thành các loại
khác nhau.
3.1. Theo phương thức phát hành có 3 loại:
- Bảo lãnh trực tiếp[
13
13[] Lê Trung Thành, Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Trường Đại học Đà Lạt, 2002, trang 142.
14[]Lê Trung Thành, Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Trường Đại học Đà Lạt, 2002, trang 143.
15[]Lê Trung Thành, Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Trường Đại học Đà Lạt, 2002, trang 144.
16
[]
Khoản 1 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng .
17
[]
Khoản 2 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng .