Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
CIC : Credit Information Center (Trung tâm thông tin tín
dụng)
WTO : World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế
giới
LCTCTD : Luật các tổ chức tín dụng 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung
Luật các tổ chức tín dụng năm 2004
MARITIME BANK : Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
ICC : International Chamber of Commerce /Phòng thương mại
quốc tế
NHTM / NHTMNN / NHTMCP/NHNN: Ngân hàng thương mại / Ngân hàng
thương mại Nhà nước / Ngân hàng thương mại cổ phần/ Ngân hàng nhà nước
BLDS 2005 : Bộ luật Dân sự 2005
TCTD : Tổ chức tín dụng
CBCNV/CBNV : Cán bộ công nhân viên/Cán bộ nhân viên
HĐQT : Hội đồng Quản trị
PGĐ : Phó giám đốc
P.GD : Phòng giao dịch
TCKT : Tổ chức kinh tế
TPKT : Thành phần kinh tế
TMCP : Thương mại cổ phần
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá-hiện đại hoá
HC-NS : Hành chính-nhân sự
QHKH : Quan hệ khách hàng
TĐ : Thẩm định
đạt được nhiều kết quả đáng kể góp phần tích cực vào sự thành công của các giao
dịch kinh tế khẳng định chỗ đứng của nó trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, bên
cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động này cũng đang gặp phải không ít những
khó khăn bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó phải kể đến là sự điều
chỉnh của pháp luật. Chính vì vậy, việc không ngừng nâng cao pháp luật về nghiệp vụ
bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay. Làm
thế nào để hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh ngân hàng thật sự là đề tài rất đáng được
quan tâm.
Với những lý do trên nên em đã mạnh dạn chọn đề tài “Cơ sở pháp lý về bảo lãnh
ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – Chi
nhánhTrường Chinh” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên để thực tập tốt nghiệp của
mình.
Mục đích của đề tài
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
2
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
Trên cơ sở phân tích quy định hiện hành để rút ra những giải pháp kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh ngân hàng của Việt Nam phù hợp với những
yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng
Phạm vi: Nghiên cứu pháp luật bảo lãnh ngân hàng của Việt Nam và một số
kết quả thu được từ việc áp dụng pháp luật trên thực tiễn tại ngân hàng TMCP Hàng
Hải Việt Nam – Chi nhánh Trường Chinh.
Phương pháp nghiên cứu
1. Khái niệm, đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng
1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Ngày nay, bảo lãnh là một lĩnh vực đầy tiềm năng, là một phương thức tài trợ
đặc biệt dựa trên khả năng tài chính và uy tín của NHTM. Sự ra đời và phát triển của
hoạt động bảo lãnh là một tất yếu khách quan gắn liền với nhu cầu ngày càng phức
tạp và đa dạng của các quan hệ kinh tế. Bảo lãnh ngân hàng đã góp phần đa dạng hóa
các nghiệp vụ ngân hàng, giảm thiểu rủi ro hoạt động của NHTM và tài trợ (đặc biệt
là vốn) cho các doanh nghiệp một cách có hiệu quả.
Để tạo điều kiện cho các bên có thể giao kết hợp đồng mà vẫn bảo đảm được
quyền lợi của người có quyền ngay cả trong trường hợp người có nghĩa vụ không có
tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Pháp luật cho phép người thứ ba đứng ra
cam kết trước người có quyền về việc thực hiện thay nghĩa vụ cho người có nghĩa vụ.
Căn cứ Điều 361 Bộ luật dân sự 2005: “bảo lãnh là việc người thứ ba (sau
đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo
lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo
lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải
thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình.”
Xét về mặt bản chất, quy định quan hệ bảo lãnh là một quan hệ tay ba giữa
người có quyền, người có nghĩa vụ và người thứ ba. Vì vậy, chủ thể của bảo lãnh
không chỉ là các bên trong quan hệ nghĩa vụ chính. Thông qua việc cam kết giữa
người thứ ba trên cơ sở sự đồng ý của người có quyền hình thành một quan hệ.
Thực tế, Bảo lãnh ngân hàng có thể hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, sau đây
là một số định nghĩa thường được sử dụng:
Về góc độ học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức “tín dụng chữ ký –
Signature credit”, là hoạt động sinh lời mà không phải bỏ vốn của ngân hàng.
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình
tài trợ ngoại thương, nhằm phòng ngừa những tổn thất cho người thụ hưởng bảo
này.
Bảo lãnh ngân hàng là một loại giao dịch thương mại đặc thù
Bảo lãnh ngân hàng là một loại hình bảo lãnh có thu phí nhằm mục đích lợi
nhuận. Bởi lẽ, khi đứng ra bảo lãnh cho khách hàng thông qua việc phát hành thư bảo
lãnh, TCTD có tư cách là người làm dịch vụ cho khách hàng nên đương nhiên có
quyền thu phí dịch vụ bảo lãnh như một khoản tiền công dịch vụ. Cơ sở để thu phí
chính là bằng chứng về việc TCTD đã phát hành thư bảo lãnh theo đúng yêu cầu của
khách hàng như đã thoả thuận trong hợp đồng dịch vụ bảo lãnh mà không cần phải
đợi đến khi TCTD đã thực hiện nghĩa vụ tài sản thay cho khách hàng.
Bảo lãnh ngân hàng là một giao dịch thương mại đặc thù còn là vì Hoạt động
kinh doanh này thường chịu sự chi phối của một số quy tắc pháp lý đặc thù, chỉ áp
dụng riêng cho hành vi bảo lãnh có tính chất chuyên nghiệp của các tổ chức tín dụng
như quy tắc về thủ tục bảo lãnh, phí bảo lãnh, giới hạn bảo lãnh và các chế tài áp
dụng đối với bên vi phạm cam kết trong bảo lãnh ngân hàng. Mặt khác khi thực hiện
hoạt động này ngân hàng phải sử dụng đến những kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
5
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
nhằm đảm bảo sự an toàn cho đồng vốn của mình bỏ ra khi chấp nhận đóng vai trò
người thực hiện nghĩa vụ tài sản thay cho khách hàng.
Trong bảo lãnh ngân hàng, tổ chức tín dụng vừa có tư cách là người
bảo lãnh vừa có tư cách của một nhà kinh doanh ngân hàng
Việc quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng bảo lãnh trong quan hệ
bảo lãnh ngân hàng có những điểm khác so với quyền và nghĩa vụ của người bảo
tại Quy tắc 1.06, đồng thời cũng được pháp luật của nhiều nước trên thế giới công
nhận.
Tính chất không thể huỷ ngang của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở chỗ, sau khi
cam kết bảo lãnh hay thư bảo lãnh được phát hành hợp lệ bới một TCTD, không một
cơ quan nào (Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc,…) có thể lấy danh nghĩa
đại diện cho TCTD phát hành bảo lãnh để tuyên bố đơn phương huỷ bỏ cam kết bảo
lãnh, trừ khi tuyên bố này được chấp nhận bởi người nhận bảo lãnh.
Giao dịch bảo lãnh ngân hàng là một giao dịch kép
Giao dịch bảo lãnh ngân hàng không phải là giao dịch hai bên hay ba bên mà là
một giao dịch “kép”. Nghĩa là, để thực hiện được hoạt động bảo lãnh ngân hàng thì tổ
chức tín dụng phải tiến hành ký kết hai loại hợp đồng theo thứ tự: hợp đồng dịch vụ
bảo lãnh rồi đến hợp đồng bảo lãnh. Việc ký kết theo thứ tự phản ánh mối quan hệ
giữa hai hợp đồng, trong đó hợp đồng dịch vụ bảo lãnh đóng vai trò là cơ sở pháp lý
để tổ chức tín dụng ký kết hợp đồng bảo lãnh; còn hợp đồng bảo lãnh được ký kết là
nhằm thực hiện nghĩa vụ của tổ chức tín dụng đã phát sinh trong hợp đồng dịch vụ
bảo lãnh (ở đây được hiểu là nghĩa vụ phát hành thư bảo lãnh). Đây là hai hành vi
pháp lý độc lập với nhau mặc dù đều do một chủ thể là tổ chức tín dụng thực hiện
nhằm hướng tới một mục đích chung và có động cơ thống nhất.
Bảo lãnh ngân hàng là một loại hình bảo lãnh vô điều kiện
Giao dịch bảo lãnh ngân hàng được thiết lập giữa ba chủ thể: các TCTD,
khách hàng được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh trong đó TCTD là chủ thể tham gia
vào hai quan hệ: quan hệ giữa TCTD và khách hàng được bảo lãnh với quan hệ giữa
TCTD với người nhận bảo lãnh. Khi tham gia vào hai mối quan hệ pháp lý này,
TCTD không chỉ có hai tư cách pháp lý hoàn toàn độc lập nhau, xét trong từng mối
quan hệ mà còn độc lập về quyền và nghĩa vụ đối với bên đối tác trong từng mối
quan hệ.
Tính chất vô điều kiện của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở chỗ tổ chức tín dụng
bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với người nhận bảo lãnh ngay sau khi người này
đã xuất trình các chứng từ phù hợp với nội dung của thư bảo lãnh hay cam kết bảo
lãnh do tổ chức tín dụng phát hành, mà không phụ thuộc vào việc người được bảo
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
8
Ngân hàng phát
hành
Bên được bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh
Ngân hàng thông
báo
(1)
(2)
(3)
(4a)
(4b)
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
Trong đó:
(1): Người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng cơ sở, làm phát
sinh nghĩa vụ cần được bảo lãnh.
(2): Trên cơ sở hợp đồng gốc, người được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành
thư bảo lãnh và cam kết hoàn trả.
(3): Trường hợp không có ngân hàng đại lý, ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và
chuyển trực tiếp cho người thụ hưởng.
(4a): Trường hợp người nhận bảo lãnh ở nước ngoài, ngân hàng phát hành sẽ đề
nghị ngân hàng đại lý của mình có trụ sở tại nước người thụ hưởng thông báo và
chuyển nội dung thư bảo lãnh tới người thụ hưởng. Ngân hàng này gọi là ngân hàng
thông báo.
(4b): Ngân hàng thông báo thực hiện việc thông báo và chuyển nội dung thư tới
lãnh.
(3): Ngân hàng phục vụ người được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng người thụ hưởng
phát hành thư bảo lãnh kèm theo thư bảo lãnh đối ứng.
(4): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng phát hành thư bảo lãnh, thông báo và
chuyển thư bảo lãnh cho người thụ hưởng.
Trong trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh,
ngân hàng phát hành phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì ngân hàng chỉ thị phải thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng phát hành.
Bảo lãnh đối ứng được sử dụng chủ yếu trong trường hợp bên thụ hưởng là
người nước ngoài, ngân hàng phát hành là ngân hàng đại lý của ngân hàng chỉ thị tại
quốc gia của bên thụ hưởng. Hoặc bảo lãnh đối ứng được sử dụng trong trường hợp
ngân hàng phát hành do bên thụ hưởng chỉ thị nhưng lại không có quan hệ với bên
được bảo lãnh.
c. Xác nhận bảo lãnh
Căn cứ Khoản 8 Điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng quy định:
Xác nhận bảo lãnh là cam kết bảo lãnh của TCTD (bên xác nhận bảo lãnh)
đối với bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
của bên bảo lãnh đối với khách hàng.
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
10
Ngân hàng
chỉ thị
Bên được
bảo lãnh
Bên nhận
bảo lãnh
Ngân hàng phát
hành
(1)
Ngân hàng phát
hành
Bên được
bảo lãnh
Bên thụ hưởng
Ngân hàng xác
nhận
(1)
(2)
(3)
(5)
(4)
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
(5): Ngân hàng xác nhận phát hành thư xác nhận bảo lãnh cho người thụ hưởng.
Khi ngân hàng phát hành vi phạm hợp đồng bảo lãnh, ngân hàng xác nhận bồi thường
cho người thụ hưởng.
d. Đồng bảo lãnh
Căn cứ Khoản 1 Điều 12 Quy chế bảo lãnh ngân hàng quy định:
Đồng bảo lãnh là việc nhiều tổ chức tín dụng cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ
của khách hàng thông qua một tổ chức tín dụng đầu mối.
Ngân hàng đầu mối thường là ngân hàng có uy tín và giàu kinh nghiệm. Ngân
hàng này sẽ làm đại diện đứng ra phát hành bảo lãnh và trả phí cho các ngân hàng
đồng minh theo tỷ lệ. Nếu phải chi trả cho bên thụ hưởng theo các cam kết trong bảo
lãnh, ngân hàng đầu mối có thể đòi bồi hoàn từ các ngân hàng đồng minh theo tỷ lệ
tham gia của họ dựa trên các bảo lãnh đối ứng do các ngân hàng này phát hành cho
ngân hàng đầu mối. Sau đó các ngân hàng này có quyền truy đòi từ người được bảo
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
(4a), (4b): Ngân hàng chính phát hành bảo lãnh cho người thụ hưởng, chuyển trực
tiếp hoặc qua ngân hàng thông báo.
2.2 Phân loại theo mục đích sử dụng:
Căn cứ theo điều 5 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành theo Quyết định số
26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc NHNN, bảo lãnh ngân hàng gồm
có 8 loại gồm : bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo lãnh trả tiền ứng
trước, bảo lãnh đối ứng và xác nhận bảo lãnh.
2.2.1 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng:
Khái niệm: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là cam kết của ngân hàng về việc
chi trả tổn thất thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp
đồng như cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba. Các hợp đồng được bảo lãnh như
hợp đồng cung cấp hàng hoá, xây dựng, thiết kế…
Mục đích: Trong trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp
không đúng hạn, không đúng chất lượng cam kết.. thì đều gây tổn thất cho bên thứ
ba. Và bảo lãnh ngân hàng một mặt bù đắp một phần tổn thất cho bên thứ ba (Đảm
bảo cho họ tránh được rủi ro) mặt khác thúc đẩy khách hành nghiêm chỉnh thực hiện
hợp đồng.
Trị giá của bảo lãnh:
Tùy theo loại hình và quy mô hợp đồng, giá trị bảo lãnh thực hiện hợp đồng từ
10 – 15 % tổng giá trị hợp đồng. Trường hợp đặc biệt, mức bảo lãnh thực hiện hợp
đồng có thể yêu cầu trên 15% nhưng phải được người có thẩm quyền quyết định đầu
tư chấp thuận. Tuy nhiên số tiền bảo lãnh có thể giảm dần theo tiến độ thực hiện hợp
đồng.
Thời hạn hiệu lực:
cả lãi và chi phí, phải quy định rõ lãi và chi phí đã thoả thuận chưa hay còn phải tính
tiếp.
Thời hạn hiệu lực: Là thời hạn hoàn trả tín dụng đã thoả thuận, tốt nhất quy
định khoảng 10 ngày kể từ ngày nợ đến hạn.
2.2.4 Bảo lãnh dự thầu:
- Khái niệm: Là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về việc
trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định trong hợp
đồng dự thầu.
- Mục đích: Đảo bảo cho việc người dự thầu không rút lui, không ký hợp đồng
hay thay đổi ý định đã được trúng thầu. Nếu người dự thầu đã trúng thầu nhưng
không ký hợp đồng thì chủ thầu (người thụ hưởng) sẽ rút dần thanh toán từ bảo lãnh
để trang trải cho chi phí đấu thầu, thiệt hại do chậm tiến độ thi công hay chi phí để tổ
chức lại một cuộc đấu thầu khác.
- Trị giá của bảo lãnh: Thông thường có giá trị từ 1- 5% giá trị hợp đồng đấu
thầu.
- Thời hạn hiệu lực: Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh sẽ chỉ chấm dứt khi bên
được bảo lãnh (người tham gia dự thầu) không trúng thầu hoặc sau khi ký kết hợp
đồng hoặc chấp nhận ký kết hợp đồng nếu bên được bảo lãnh trúng thầu.
2.2.5 Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước:
- Khái niệm: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
14
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
bên mua người hưởng bảo lãnh) nếu bên cung cấp (người được bảo lãnh) không trả
hoặc trả không đầy đủ.
trong trường hợp, bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh và phải trả thay cho khách hàng
của bên bảo lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh.
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
15
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
Trong hình thức bảo lãnh này, cả hai bên chủ thể tham gia bảo lãnh đối ứng là
bên phát hành bảo lãnh đối ứng và bên nhận bảo lãnh đối ứng đều là các tổ chức tín
dụng được phép hoạt động bảo lãnh ngân hàng. Cả hai chủ thể này đều có chung một
khách hàng là bên được bảo lãnh, mặc dù đối tượng của hành vi bảo lãnh (nghĩa vụ
được bảo lãnh) của mỗi tổ chức tín dụng là khác nhau.
Khác với đồng bảo lãnh, trong bảo lãnh đối ứng hoàn toàn không có sự liên
đới trách nhiệm giữa hai tổ chức tín dụng tham gia bảo lãnh cho một khách hàng.
Mỗi tổ chức tín dụng này có những nghĩa vụ với các chủ nợ khác nhau trong trường
hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ được bảo lãnh.
2.2.8 Xác nhận bảo lãnh
Khái niệm : Xác nhận bảo lãnh là cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng (bên
xác nhận bảo lãnh) đối với bên nhận bảo lãnh, về việc bảo đảm khả năng thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh đối với khách hàng. Trường hợp bên được xác
nhận bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình đã
cam kết với bên nhận bảo lãnh thì bên xác nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay
cho bên được xác nhận bảo lãnh.
Trong hình thức bảo lãnh này, cả hai bên chủ thể của bảo lãnh là bên xác nhận
bảo lãnh và bên được xác nhận bảo lãnh đều là các tổ chức tín dụng được phép thực
hiện hoạt động bảo lãnh. Tuy vậy, khác với bảo lãnh đối ứng, hai tổ chức tín dụng
này khi tham gia quan hệ xác nhận bảo lãnh có tư cách pháp lý khác nhau. Tổ chức
hàng hóa, dịch vụ… Do vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn như trong cho vay
nhưng bảo lãnh ngân hàng giúp cho khách hàng được hưởng những thuận lợi về ngân
quỹ như trong trường hợp cho vay.
Nhu cầu về vốn luôn là một vấn đề cần thiết đối với mọi chủ thể khi tham gia
vào các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong các hợp đồng xây dựng hoặc hợp đồng
mua bán có giá trị lớn, thời gian thực hiện kéo dài thì vấn đề tìm nguồn tài trợ càng
trở nên bức xúc. đặc biệt là trong điều kiện các công ty khó tiếp cận được với nguồn
vốn vay từ các tổ chức tín dụng.
3.3. Bảo lãnh được dùng như công cụ đôn đốc hoàn thành hợp đồng:
Đối với bảo lãnh thì việc thanh toán được thực hiện dựa trên sự vi phạm hợp
đồng của bên được bảo lãnh. Trong suốt thời hạn hiệu lực của bảo lãnh, người thụ
hưởng luôn có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành thanh toán bảo lãnh nếu như
người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Do đó, ngân hàng luôn phải theo dõi kiểm
tra giám sát và đôn đốc việc thực hiện hợp đồng của bên được bảo lãnh. Mặt khác
trong trường hợp ngân hàng bảo lãnh phải thanh toán tiền bồi hoàn cho bên nhận bảo
lãnh thì bên được bảo lãnh cũng sẽ phải có trách nhiệm nợ và hoàn trả khoản bồi
hoàn đó cho ngân hàng bảo lãnh. Thực chất bảo lãnh là lấy tiền vi phạm trả cho
người hưởng lợi.
Người được bảo lãnh luôn bị một áp lực cho việc bồi hoàn bảo lãnh. Như vậy,
bảo lãnh có chức năng đôn đốc người được bảo lãnh thực hiện hoàn tất hợp đồng đã
ký kết. Điều này càng làm tăng thêm tính bảo đảm cho người thụ hưởng và có mối
liên quan chặt chẽ giữa chức năng bảo đảm và chức năng đôn đốc hoàn thành hợp
đồng.
3.4 Bảo lãnh có chức năng là công cụ đánh giá:
Bất kỳ một ngân hàng nào trước khi phát hành thư bảo lãnh đều cần phải kiểm
tra một cách toàn diện về bên được bảo lãnh như : Khả năng tài chính, uy tín, khả
năng thực tế của việc thực hiện hợp đồng. Mà đây là một vấn đề mà bên thụ hưởng
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
17
giúp các doanh nghiệp chọn được bạn hàng tốt, yên tâm hơn khi ký kết và thực hiện
hợp đồng mà không tốn nhiều thời gian và chi phí, đồng thời giảm rủi ro trong kinh
doanh. Mặt khác khi có rủi ro xảy ra, bên nhận bảo lãnh vẫn được đảm bảo bù đắp
mọi thiệt hại do đối tác vi phạm hợp đồng một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất để
tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình.
Bảo lãnh ngân hàng còn giúp các doanh nghiệp có thể ký kết và thực hiện hợp
đồng ngay cả khi chưa đủ uy tín và lòng tin đối với bên đối tác. Bảo lãnh giúp các
doanh nghiệp nhận được nguồn tài trợ từ đối tác (đối với bảo lãnh tiền ứng trước),
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
18
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
hoặc từ các tổ chức tín dụng khác (bảo lãnh vay vốn), lúc đó sẽ giúp các doanh
nghiệp có đủ khả năng tài chính để thực hiện hợp đồng, tham gia giao dịch và ký kết
hợp đồng.
b) Đối với Ngân hàng:
Bảo lãnh nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân hàng trên thị trường
đặc biệt là thị trường quốc tế. Thông qua bảo lãnh ngân hàng tạo được thế mạnh, uy
tín giúp tăng khách hàng và lợi nhuận.
Bảo lãnh ngân hàng đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng thông qua phí bảo
lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản không nhỏ, nó
chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay. Ngoài việc
đem lại một khoản thu nhập thì nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng còn góp phần không
nhỏ trong việc mở rộng quan hệ của ngân hàng với khách hàng.
Nghiệp vụ bảo lãnh hỗ trợ cho nghiệp vụ tín dụng qua bảo lãnh vay vốn nước
ngoài tức là ngân hàng không dùng vốn của mình cho doanh nghiệp vay mà chỉ dùng
những nguồn vốn rẻ cả trong và ngoài nước khi có được sự bảo lãnh của ngân hàng.
Đối với nền kinh tế Việt Nam điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đặc
điểm của nền kinh tế nước ta là phát triển theo hướng kinh tế thị trường, nghiệp vụ
bảo lãnh thúc đẩy quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế thông qua các quan hệ
Hàng – Tiền, góp phần tăng tổng sản phẩm quốc dân. Bảo lãnh giúp tạo dựng uy tín
cho các Doanh nghiệp Việt Nam, giúp cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường ra
nước ngoài, tăng vị thế của hàng Việt Nam, đồng thời tạo được nguồn thu ngoại tệ,
giúp cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, ổn định giá trị đồng tiền.
II. Chế độ pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo lãnh của ngân hàng
1. Pháp luật Việt Nam về hoạt động bảo lãnh ngân hàng
1.1 Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động bảo lãnh
Nhận thức được vai trò quan trọng của tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế,
việc tổ chức và quản lý các hoạt động của tổ chức tín dụng đã được Nhà nước ta quy
định thành văn bản luật.
Ngày 25/05/1990 Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh ngân hàng, hợp
tác xã tín dụng và công ty tài chính nhằm tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động
của các tổ chức tín dụng, ngân hàng và công ty tài chính. Pháp lệnh này được thay thế
bằng Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 quy định
về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ
chức khác (sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật các tổ chức tín dụng ngày 15/06/2004).
Sau khi Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực, Thống đốc NHNN đã ban hành
Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 về việc ban hành Quy chế bảo
lãnh ngân hàng. Quyết định này được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số
386/2001/QĐ-NHNN ngày 11/4/2001 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều trong Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định
số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000; Quyết định số 1348/2001/QĐ-NHNN
ngày 29/10/2001 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi một số quy định liên quan
đến thu phí bảo lãnh của các tổ chức tín dụng; Quyết định số 112/2003/QĐ- NHNN
ngày 11/2/2003 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy
Quy chế đấu thầu dự án tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí
- Nghị định 111/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/9/2006 về việc hướng
dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng.
- Nghị định 151/2006/NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng
xuất khẩu của nhà nước.
- Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/11/2006 về giao dịch
bảo đảm. (sau đây gọi là Nghị định 163/2006/NĐ-CP)
- Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 ban hành Quy định về
tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD (được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết
định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007).
- Thông tư 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23 tháng 4
năm 2001 của NHNN Việt Nam - Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Bộ Tài chính - Tổng
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
21
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
cục Địa chính hướng dẫn việc xử lý tài sản đảm bảo tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ
chức tín dụng (sau đây gọi là Thông tư 03);
- Thông tư 07/2003/TT-NHNN ngày 19 tháng 5 năm 2003 của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay
của tổ chức tín dụng.
1.2 Chủ thể tham gia vào quan hệ bảo lãnh
Trong quan hệ bảo lãnh gồm có các bên sau đây:
- Bên bảo lãnh
- Bên được bảo lãnh
- Bên nhận bảo lãnh
22
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
Người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng có thẩm quyền ký các văn
bản bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín
dụng có thể uỷ quyền cho Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc (trong trường hợp Chủ tịch
Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật), Phó tổng Giám đốc hoặc Phó
Giám đốc, Giám đốc chi nhánh của tổ chức tín dụng ký các văn bản bảo lãnh; hoặc
quy định thẩm quyền ký bảo lãnh của tổ chức tín dụng phù hợp với quy định của
pháp luật. (Điều 14- Quy chế bảo lãnh ngân hàng).
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng thực hiện bảo lãnh quy định tại
điều 59 LCTCTD và Điều 23 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo
Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 bao gồm:
Quyền của các tổ chức tín dụng thực hiện bảo lãnh quy định cụ thể
như sau:
Căn cứ Điều 59- Luật các tổ chức tín dụng và Điều 23- Quy chế bảo lãnh ngân
hàng ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 quy
định, quyền và nghĩa vụ của TCTD thực hiện bảo lãnh bao gồm:
- Quyền yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu, thông tin về khả năng tài
chính và những tài liệu khác liên quan đến giao dịch được bảo lãnh. Quyền này nhằm
đảm bảo an toàn về phương diện quyền lợi cho tổ chức tín dụng, đồng thời nhằm
mục đích đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế và
nâng cao ý thức trách nhiệm hợp đồng cho bên khách hàng đề nghị bảo lãnh
- Quyền yêu cầu khách hàng đề nghị bảo lãnh phải có sự đảm bảo bằng tài sản
cho nghĩa vụ hoàn trả lại của họ đối với mình. Mục đích chính là để đảm bảo quyền
và lợi ích chính đáng cho tổ chức tín dụng thực hiện bảo lãnh.
- Quyền yêu cầu khách hàng được bảo lãnh thanh toán tiền phí dịch vụ bảo lãnh
khách hàng không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng cấp bảo lãnh thì
TCTD có quyền thu hồi và xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật.
- Quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật khi khách hàng, bên bảo lãnh đối
ứng vi phạm nghĩa vụ đã cam kết.
- Quyền chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của mình cho TCTD khác nếu được
các bên liên quan chấp nhận bằng văn bản. Tức là, TCTD có thể chuyển giao dịch
bảo lãnh của mình cùng các quyền và nghĩa vụ liên quan cho TCTD khác với điều
kiện phải có sự chấp nhận bằng văn bản của các bên liên quan như khách hàng, bên
bảo lãnh đối ứng, bên nhận bảo lãnh…
- Quyền được từ chối bảo lãnh đối với các khách hàng không đủ điều kiện bảo
lãnh. Điều này được quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc quyền tự do kinh doanh của
tổ chức tín dụng đồng thời đề cao tính tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong
hoạt động kinh doanh trên thương trường.
Nghĩa vụ của các tổ chức tín dụng được quy định cụ thể như sau:
Nghĩa vụ phát hành thư bảo lãnh gửi cho bên nhận bảo lãnh vì quyền lợi của
khách hàng được bảo lãnh. Đây là một nghĩa vụ cơ bản của tổ chức tín dụng thực
hiện bảo lãnh đối với khách hàng được bảo lãnh. Nghĩa vụ này nhằm phục vụ quyền
lợi của khách hàng được bảo lãnh. Chỉ khi nào tổ chức tín dụng (với tư cách là bên
cung cấp dịch vụ bảo lãnh) đã thực hiện xong nghĩa vụ này thì họ mới có quyền yêu
cầu bên hưởng dịch vụ bảo lãnh thanh toán số tiền công và dịch vụ bảo lãnh.
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
24
Trêng §HKTQD
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt
nghiÖp
- Nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ tài sản đảm bảo (nếu có) và các giấy tờ liên quan
cho khách hàng khi tiến hành thành thanh lý hợp đồng cấp bảo lãnh. Với các hợp
: Điều 8 Quy chế bảo lãnh ngân hàng
Sinh viªn: NguyÔn TiÕn Cêng Líp: LuËt
Kinh doanh K48
25