THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI TỉNH HẢI DƯƠNG GIAI
ĐOẠN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
I. Các nhân tố tác động đến thu hút đầu tư nước ngoài ở tỉnh Hải Dương.
1. Nhân tố về mặt lí thuyết
Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc
đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài ở nơi nhận đầu tư. Nó bao gồm các yếu
tố: tình hình chính trị, chính sách – pháp luật, vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên,
trình độ kinh tế, đặc điểm văn hoá xã hội. Các nhóm yếu tố này có thể làm tăng
khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư.
1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận
chuyển, đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư, cung cấp đước nguồn nguyên liệu đầu
vào phong phú với giá rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn. Những yếu tố này không
những làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà đầu tư
tìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ.
1.2 Tình hình chính trị
Tình hình chính trị ổn định của nơi tiếp nhận đầu tư là cơ sở quan trọng
hàng đầu để thực hiện các cam kết bảo đảm an toàn sở hữu tài sản và các
khuyến khích đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác sự ổn định chính
trị còn là tiền đề cần thiết để ổn định tình hình kinh tế xã hội, nhờ đó giảm được
rủi ro cho các nhà đầu tư. Một nước, một vùng không thể thu hút được nhiều
đầu tư nước ngoài nếu tình hình chính trị luôn luôn mất ổn định.
1.3 Chính sách, pháp luật
Các nhà đầu tư nước ngoài rất cần một môi trường pháp lí hợp lí và ổn
định của nước chủ nhà. Môi trường này gồm những chính sách, quy định đối
với đầu tư nước ngoài và tính hiệu lực của chúng trong thực hiện. Một môi
trường pháp lí hấp dẫn đầu tư nước ngoài nếu có các chính sách, quy định hợp lí
và tính hiệu lực cao trong thực hiện. Đây là những căn cứ pháp lí quan trọng
không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn cho chính
các nhà đầu tư trong nước khi tính toán đến làm ăn lâu dài.
1.4 Trình độ phát triển kinh tế
những khó khăn, hạn chế là chủ trương của tỉnh nhằm tăng cường thu hút và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nươc ngoài mà đặc biệt là vốn FDI cho
sự phát triển nhanh chóng và bền vững của tỉnh, xứng đáng với vị trí là một tỉnh
có tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh của vùng kinh tế Bắc Bộ và
của cả nước.
2.1. Thuận lợi
2.1.1 Điều kiện tự nhiên xã hội
a. Vị trí địa lí
Hải Dương là tỉnh nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có
diện tích tự nhiên 1660,78 km
2
, toạ độ địa lý ở 20
o
57' độ vĩ bắc và 106
o
18' độ
kinh đông, gồm một thành phố và 11 huyện, dân số là 1.7 triệu người, chiếm
khoảng 2.23% dân số cả nước. Hải Dương tiếp giáp với các tỉnh: Quảng Ninh,
Bắc Giang ở phía bắc; Hải Phòng ở phía đông; Thái Bình ở phía nam và Hưng
Yên, Bắc Ninh ở phía tây. Tỉnh có 2 tuyến quốc lộ lớn chạy qua: quốc lộ 5A nối
Hà Nội với Hải Phòng và quốc lộ 18 nối Bắc Ninh với Quảng Ninh. Nằm trên
hành lang Hà Nội - Hải Phòng, Hải Dương có vị trí quan trọng trong tam giác
kinh tế trọng điểm phía Bắc.
Thành phố Hải Dương trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá khoa học kỹ
thuật của tỉnh nằm trên trục đường quốc lộ 5 cách Hải Phòng 45 km về phía
đông, cách Hà Nội 57 km về phía tây và cách Thành phố Hạ Long 80 km. Phía
bắc tỉnh có hơn 20 km quốc lộ 18 chạy qua nối sân bay quốc tế Nội Bài ra cảng
Cái Lân tỉnh Quảng Ninh. Đường sắt Hà Nội - Hải Phòng qua Hải Dương là cầu
nối giữa thủ đô và các tỉnh phía bắc ra các cảng biển. Là tỉnh nằm giữa vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hải Dương sẽ có cơ hội tham gia vào phân công lao
tương đối trung bình 85 - 87%. Khí hậu thời tiết đặc biệt thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả đặc biệt là sản
xuất cây rau mầu vụ đông và các ngành khác. Dựa vào nhiệt độ bình quân dưới
16
o
C và lượng mưa bình quân nhỏ hơn 1500 mm, khí hậu Hải Dương có thể
chia làm 2 vùng:
+ Vùng khí hậu bán sơn địa: Gồm huyện Chí Linh và các xã vùng đồi
huyện Kinh Môn, có nhiệt độ thấp hơn các huyện khác, năm rét đậm thường có
sương muối, tính chất hạn rõ ràng hơn các huyện khác.
+ Vùng khí hậu đồng bằng: Gồm các huyện còn lại của tỉnh, có nền nhiệt
lượng cao, mưa phùn đông xuân nhiều hơn.
Khí hậu của tỉnh Hải Dương không khắc nghiệt, ổn định, ít xảy ra thiên
tai như hạn hán, bão lụt, … rất thuận lợi cho đời sống và cho sản xuất. Đây là
một trong những điều kiện rất quan trọng tạo được tâm lí yên tâm cho các nhà
đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Hải Dương vì nó cho thấy mức độ rủi ro do
các yếu tố thiên nhiên khi đầu tư vào Hải Dương gần như không có. Có thể nói,
điều kiện về khí hậu chính là một lợi thế của tỉnh Hải Dương trong thu hút đầu
tư nước ngoài.
d. Thuỷ văn và nguồn nước
Hải Dương là tỉnh có hệ thống sông ngòi dày đặc với hơn 500 km sông
lớn và trên 2.000 km sông nhỏ cùng với hàng ngàn ao hồ lớn nhỏ. Mạng lưới
sông chính gồm: Sông Thái Bình có 3 nhánh là sông Kinh Thầy, sông Gùa và
sông Mía. Các sông này có đặc điểm là lòng sông rộng, độ dốc nhỏ và uốn lượn,
đáy sông thấp hơn nhiều so với mực nước biển; Sông Luộc (là một nhánh của
sông Hồng) có chiều rộng trung bình từ 150-250m, sâu từ 4-6m chạy dọc danh
giới phía nam của tỉnh.
e. Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của tỉnh Hải Dương không đa dạng về chủng loại,
từ 46,9 – 52,4%, Fe
2
O
3
từ 21 – 26,6%, SiO
2
từ 6,4 – 8,9%.
Tài nguyên khoáng sản phong phú sẽ làm giảm chi phí đầu vào, chi phí
vận chuyển, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, tạo điều kiện thuận lợi thu
hút đầu tư nước ngoài.
- Tài nguyên đất
Tỉnh Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km
2
, được chia làm 2 vùng:
vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi ở phía Bắc tỉnh, chiếm 11% diện
tích tự nhiên, gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn,
là vùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công
nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do
phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng,
sản xuất được nhiều vụ trong năm.
Trên diện tích hành chính 166.222 ha, Hải Dương bố trí sử dụng 63,1%
vào sản xuất. Đất canh tác phần lớn là đất phù sa sông Thái Bình, tầng canh tác
dày, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, độ PH từ 5 – 6,5; chủ động
tưới tiêu bằng động lực, thuận lợi cho thâm canh tăng vụ, ngoài sản xuất lúa còn
trồng rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Một số diện tích đất canh tác ở phía
bắc tỉnh tầng đất mỏng, chua, nghèo dinh dưỡng, tưới tiêu tự chảy bằng hồ đập
nước, thích hợp với cây lạc, đậu tương…
Nhìn chung, tài nguyên đất của tỉnh Hải Dương có độ phì khá lại có địa
hình đa dạng nên có thể bố trí được nhiều loại cây trồng: cây lương thực, cây ăn
quả, cây công nghiệp, rừng đa tác dụng với hệ thống canh tác khá đa dạng. Bên