CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ODA VÀ SỰ CẦN
THIẾT PHẢI THỰC HIỆN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ODA TẠI BỘ KẾ
HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) là một
trong những nguồn lực từ bên ngoài có những ưu việt nổi trội (viện trợ không hoàn
lại hoặc cho vay ưu đãi) rất phù hợp để hỗ trợ các nước đang phát triển, nhất là các
nước nghèo xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội. Từ giữa thế kỷ 20 việc tranh
thủ thu hút và sử dụng nguồn lực ODA đã góp phần tích cực vào việc giảm hố ngăn
cách giàu nghèo giữa các quốc gia và nâng cao đời sống cho người dân ở các nước
nghèo và nước đang phát triển.
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH
THỨC ODA
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm nguồn vốn ODA
1.1.1.1. Khái niệm
Lịch sử hình thành nguồn vốn ODA: Viện trợ phát triển chính thức đã có từ rất
lâu đời, nhưng sau chiến tranh thế giới thứ II, loại hình viện trợ này mới thực sự
phổ biến và được quốc tế hoá.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều nước bị tàn phá nặng nề về kinh tế (chủ
yếu là các nước Châu Âu), trong khi đó Mỹ không những không bị suy sụp bởi
chiến tranh mà còn giàu lên trông thấy. Với sức mạnh về mọi mặt của mình, nổi
bật nhất là về kinh tế, Mỹ đã đưa ra kế hoạch Marshall, vừa để trợ giúp các nước
Tây Âu phục hồi kinh tế, vừa để chi phối, kiểm soát các nước này và ngăn chặn
việc mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô. Trong thời kỳ từ năm 1947 đến 1951 Mỹ đã
rót khoảng 2,5% tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của mình vào công cuộc tái thiết
Tây Âu. Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước châu Âu đã đưa ra
một chương trình phục hồi kinh tế và thành lập Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Âu,
về sau trở thành Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).
Được thúc đẩy bởi những tính toán lợi ích về mặt kinh tế và chính trị, Mỹ
tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình thông qua việc tăng cường viện trợ ODA
cho các nước đang phát triển, những quốc gia ở Thế giới thứ ba trong thập niên
1950. Đồng thời, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRC), tiền thân của
hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Phát triển
Châu Phi (AfDB), Quỹ Viện trợ của OPEC; Quỹ Côoét…
Các khái niệm ODA:
Theo DAC: “Viện trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính
thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi;
ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển (và các tổ
chức nhiều bên), được các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các tổ chức liên
Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần
thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành - được tổ chức quốc tế hay
nước bạn xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một Hiệp định quốc tế được đại
diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ
này được chi phối bởi công pháp quốc tế”.
Theo WB: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức (ODF)
trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít
nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA”.
ODF là tài trợ phát triển chính thức, là tất cả các nguồn tài chính mà Chỉnh
phủ các nước phát triển và tổ chức đa phương dành cho các nước đang và kém phát
triển, loại vốn vay này gồm có ODA và các hình thức ODF khác, trong đó ODA
chiếm tỷ trọng lớn.
Theo định nghĩa của UNDP: “ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ không
hoàn lại và các khản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thể là: Do khu
vực chính thức thực hiện, chủ yếu nhằm thúc đẩy kinh tế và phúc lợi, cung cấp với
các điều khoản ưu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại
ít nhất là 25%)”.
Theo Nghị định số 17/2007/NĐ-CP ngày 04 tháng 05 năm 2001 của Chính
phủ về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức định nghĩa: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) là hoạt động hợp
tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam với Nhà tài trợ, bao gồm: Chính phủ nước ngoài và các tổ chức liên Chính
phủ hoặc liên quốc gia”.
cung cấp viện trợ đã làm giảm bớt giá trị thực sự của những khoản viện trợ này cho
các nước đang phát triển
2
. Mục đích của viện trợ có điều kiện là cho phép các nhà
sản xuất ở nước tài trợ giành được những hợp đồng trong khoản mua sắm bằng
1 Thời gian ân hạn là thời gian bên đi vay không phải trả gốc và lãi
2 Trung bình viện trợ có điều kiện làm giảm khoảng 20% giá trị của nó. Hơn nữa, các công ty của
các nước tài trợ được hưởng lợi từ việc viện trợ có điều kiện lại là những nhóm lợi ích luôn vận
động hành lang cho cho các dự án viện trợ cần nhiều đầu vào từ các nước tài trợ cho dù các dự án
này không phải là thích hợp nhất theo quan điểm của nước nhận viện trợ.
viện trợ nước ngoài. Thông thường, các nhà tài trợ thường yêu cầu các nước nhận
viện trợ phải dùng 50% viện trợ để mua hàng hoá và dịch vụ của họ. Viện trợ có
điều kiện còn mở ra cơ hội đặt hàng trong tương lai cho các nhà xuất khẩu ở nước
cung cấp ODA. Một khi nước tiếp nhận viện trợ lắp đặt máy móc thiết bị từ một
nhà cung cấp nhất định, họ chắc chắn sẽ quay lại nhà cung cấp này để mua linh
kiện, phụ tùng thay thế.
ODA còn như một công cụ để thực hiện ý đồ chính trị đối ngoại, xác định
vai trò và ảnh hưởng chính trị của các nước phát triển tại các quốc gia và khu vực
tiếp nhận. Như Mỹ là một trong các quốc gia thường xuyên sử dụng các điều kiện
chính trị để “mặc cả” với các quốc gia tiếp nhận viện trợ. Nhật Bản dùng ODA để
bình thường hoá quan hệ với các nước Đông Nam Á, mở rộng giao lưu chính trị -
văn hoá với các nước này nhằm tìm kiếm sự ủng hộ cho tham vọng trở thành trung
tâm văn hoá - chính trị của thế giới.
Ngoài ý đồ chính trị, các quốc gia phát triển còn gắn viện trợ với việc giải
quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo.
ODA có khả năng tạo thành gánh nợ. Do tính chất ưu đãi của ODA nên khi
sử dụng nó người ta không ý thức ngay được gánh nặng nợ nần trong tương lai.
Nhiều dự án ODA thường không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh,
nhất là cho xuất khẩu. Chính vì thế, những nước sử dụng ODA không có hiệu quả
có thể có sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian sẽ rơi vào cảnh nợ nần
các vấn đề xã hội ở nước nhận viện trợ…
Viện trợ không hoàn lại được thực hiện dưới 2 dạng: Hỗ trợ kỹ thuật (các tổ
chức tài trợ thực hiện việc chuyển giao công nghệ, hoặc truyền đạt những kinh
nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật… cho nước nhận ODA) và Viện trợ nhân đạo bằng
hiện vật (các nước tiếp nhận ODA dưới hình thức hiện vật).
+ Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi), chiếm tỷ trọng cao
trong tổng số vốn ODA trên thế giới: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản
tiền (tuỳ theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả
nợ thích hợp. Tín dụng ưu đãi là nguồn thu phụ thêm để bù đắp thâm hụt Ngân
sách Nhà nước, vì vậy nó được sử dụng dưới hình thức tín dụng ưu đãi đầu tư cho
các dự án có khả năng thu hồi vốn, hoàn trả lại cho Nhà nước cả vốn và lãi để trả
nợ nước ngoài.
Tín dụng ưu đãi thường để ưu tiên đầu tư cho các chương trình quốc gia, đặc
biệt là các dự án và chương trình xây dựng hoặc cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
thuộc các lĩnh vực: năng lượng, giao thông vận tải, nông nghiệp, thuỷ lợi, thông tin
liên lạc, thúc đẩy đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước; bù đắp thâm hụt cán cân
thanh toán quốc tế… hoặc hỗ trợ để Chính phủ nước tiếp nhận quản lý tốt hơn
ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính hay chuyển đổi hệ thống kinh
tế (điều chỉnh cơ cấu) hoặc dùng để xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện thuận lợi
cho nước nhận ODA phát triển mạnh hơn cả về kinh tế và đời sống kinh tế - xã hội.
Những điều kiện ưu đãi thường là: Lãi suất thấp, thời hạn vay nợ dài (từ 20
– 30 năm), có thời gian không trả lãi hoặc hoãn trả nợ (thời gian ân hạn) từ 10 – 12
năm.
+ ODA cho vay hỗn hợp: Kết hợp một phần ODA không hoàn lại và
một phần tín dụng ưu đãi theo các điều kiện của bên cung cấp; hoặc kết hợp tới 3
loại hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần vốn vay ưu đãi và một
phần tín dụng thương mại.
Căn cứ theo mục tiêu sử dụng: Có 4 loại:
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán (thường là viện trợ nhân đạo bằng hiện
vật – còn gọi là viện trợ hàng hoá): Gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ Ngân
trợ mà các sản phẩm của họ đang mất địa vị cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Xu hướng hiện nay là loại hình ODA có ràng buộc đang tăng lên, thường có
3 loại ràng buộc: Ràng buộc về chính trị (nước cung cấp muốn nước tiếp nhận đi
theo đường lối đối nội, đối ngoại mà nước cung cấp đặt ra); Ràng buộc về điều
kiện kinh tế (những điều kiện ràng buộc được đưa ra nhằm mục đích đảm bảo lợi
ích kinh tế của nước cung cấp như: Bên nhận phải ưu tiên cho các công ty bên cấp
ODA trong việc nhận thầu các công trình sử dụng vốn ODA hoặc nước nhận ODA
phải dành phần lớn hoặc hầu hết vốn viện trợ để chi tiêu cho các khoản ở nước
cung cấp như mua hàng hoá, dịch vụ, thiết bị…; Ràng buộc về điều kiện kinh tế -
chính trị (nước cấp ODA đưa ra những điều kiện nhằm mục đích tác động đến
chính sách kinh tế - xã hội của nước nhận theo chiều hướng mà bên cung cấp mong
muốn).
+ ODA đa phương: Là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế
(IMF, WB, ADB…) hay tổ chức khu vực (KFAED - Quỹ phát triển kinh tế Ảrập
của Côoet – Kuwait Fund for Arab an Economic Development, EU…) hoặc của
Chính phủ một nước dành cho Chính phủ một nước nào đó, nhưng thực hiện
thông qua các tổ chức đa phương như UNDP, UNICEF… Có thể các khoản viện
trợ của các tổ chức tài chính quốc tế được chuyển trực tiếp cho bên nhận viện trợ.