THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN - Pdf 75

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG NGÀNH KIỂM SÁT
NHÂN DÂN.
I. Khái quát chung về Ngành kiểm sát nhân dân.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngành kiểm sát nhân dân.
Ngành Kiểm sát nhân dân được thành lập vào ngày 26/7/1960. Quá trình
hình thành và phát triển của Ngành kiểm sát nhân dân được chia làm 2 thời kì sau:
1.1. Viện kiểm sát nhân dân thời kì từ năm 1960 đến năm 1985.
- Trước khi Viện kiểm sát nhân dân ra đời (năm 1960), ở nước ta đã có Viện
Công tố. Năm 1946, căn cứ vào Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta, tổ chức Viện
Công tố được thành lập trong hệ thống Toà án từ cấp tỉnh trở lên và trực thuộc Bộ
Tư pháp.
- Năm 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chuẩn bị bước vào thời kỳ
xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tổ chức cơ quan tư pháp được tách ra
thành 3 hệ thống cơ quan riêng biệt đó là: Tư pháp, Công tố và Toà án từ Trung
ương đến huyện.
- Hệ thống Viện công tố được thành lập theo Nghị quyết ngày 25/1/1958 của
Quốc hội. Theo Nghị quyết này, thì Viện Công tố có nhiệm vụ sau:
+ Điều tra và truy tố những vi phạm về hình sự.
+ Giám sát việc chấp hành pháp luật của Cơ quan điều tra, trong việc xét xử
của Toà án, trong việc giam giữ và cải tạo.
Hệ thống Viện Công tố bao gồm: Viện Công tố Trung ương; Viện Công tố
phúc thẩm ở các khu vực: Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Khu tự trị Việt Bắc, Khu tự trị
Thái Mèo; Viện Công tố tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Viện Công tố khu
đặc biệt Hồng Quảng, Viện Công tố khu đặc biệt Vĩnh Linh; Viện Công tố huyện,
thị trấn lớn và tương đương.
- Trước yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, ngày
26/7/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân. Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960
đã quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành
quyền công tố nhà nước, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất”.

pháp của công dân.
Hoạt động của Viện kiểm sát quân sự trong giai đoạn này cũng được mở
rộng hơn trước, cả về địa bàn và nội dung công tác. Viện kiểm sát quân sự các cấp
đã có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống các
tội phạm về kinh tế, tội phạm về chức vụ, nâng cao sức chiến đấu của quân đội.
1.2. Viện kiểm sát nhân dân từ năm 1986 đến nay.
Từ năm 1986 đến nay, quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng tại các Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và các Nghị quyết khác của
Trung ương, các Nghị quyết của Quốc hội, ngành Kiểm sát đã có sự đổi mới về
nhận thức, về tổ chức, cán bộ và thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát. Nhờ thực
hiện chủ trương và biện pháp đổi mới đó, ngành Kiểm sát nhân dân đã đạt được
những kết quả tích cực, góp phần vào việc đấu tranh có hiệu quả với tội phạm và vi
phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nền kinh tế
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong 15 năm đổi mới, ngành Kiểm sát nhân dân đã có những biện pháp
nhằm thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động tư pháp và thực hành quyền công tố nhà nước. Viện kiểm sát các cấp đã quán
triệt các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách hình sự, tăng cường phối
hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện và xử lý nghiêm minh các loại tội
phạm. Đã tập trung lực lượng điều tra, truy tố, xét xử nhiều vụ án lớn, đặc biệt
nghiêm trọng về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội tham nhũng, buôn lậu,
tệ nạn xã hội và một số tội phạm nghiêm trọng khác, có tác dụng giáo dục, phòng
ngừa tốt, được nhân dân đồng tình ủng hộ, góp phần giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội, bảo đảm các quyền dân chủ của công dân, phục vụ có hiệu
quả công cuộc đổi mới của đất nước. Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều biện pháp
đổi mới công tác quản lý, xử lý thông tin tội phạm nên số vụ án do Viện kiểm sát
khởi tố và yêu cầu khởi tố ngày càng tăng, hạn chế được tình trạng bỏ lọt tội
phạm. Đã tăng cường hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tư
pháp, nhờ đó đã kịp thời khắc phục vi phạm của cơ quan và người tiến hành tố

tập trung thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong xây dựng kế hoạch
công tác kiểm sát đã chú ý hình thành kế hoạch kiểm sát thống nhất nên đã huy
động được cả 3 cấp cùng tiến hành kiểm sát vào một ngành, một lĩnh vực, nhằm
phát hiện các vi phạm pháp luật có tính phổ biến để kháng nghị khắc phục. Qua
thực tiễn hoạt động kiểm sát, chúng ta đã xây dựng và hoàn thiện các quy chế quản
lý và hoạt động nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát
và công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Cơ sở vật chất của ngành ngày càng được
tăng cường nhằm đáp ứng nhu cầu công tác. Mạng lưới công nghệ thông tin, cơ
yếu được trang bị theo hướng hiện đại để phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ và
công tác quản lý chỉ đạo, điều hành.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành Kiểm sát đã và đang có những biện pháp
xây dựng đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên vững vàng về lập trường chính trị, nắm
vững chuyên môn nghiệp vụ, trong sáng về phẩm chất đạo đức theo lời dạy của
Bác Hồ: "Mỗi cán bộ kiểm sát phải: Công minh, chính trực, khách quan, thận
trọng, khiêm tốn". Công tác xây dựng ngành đã thường xuyên gắn với công tác
xây dựng Đảng trong từng đơn vị kiểm sát. Lực lượng cán bộ kiểm sát ngày càng
được củng cố về mọi mặt. Phong trào học tập và rèn luyện để đáp ứng với những
yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các đơn vị
trong toàn ngành Kiểm sát.
2. Chức năng, nhiệm vụ của Ngành kiểm sát nhân dân.
Theo điều 1 và điều 2 Luật của Quốc hội số 34/2002/QH10 ngày 02/04/2002
về tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng và nhiệm
vụ như sau:
2.1. Chức năng.
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
2.2. Nhiệm vụ.
Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ
góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và
quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính

xác định các nhiệm vụ công tác trọng tâm, đề ra các biện pháp về nghiệp vụ, kiện
toàn tổ chức bộ máy, đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức, đổi mới phương
thức chỉ đạo, điều hành nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của ngành.
Ngay từ đầu năm, Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối
cao đã phối hợp với Ban Cán sự Đảng Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp,
Thường vụ đảng uỷ Công an Trung ương và Uỷ ban Tư pháp, Uỷ ban pháp luật
của Quốc hội để thống nhất chỉ đạo công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp
trong đấu tranh phòng, chống vi phạm tội phạm và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Với sự cố gắng phấn đấu của cán bộ, công chức trong toàn Ngành, sự quan
tâm lãnh đạo của các tổ chức Đảng, sự kiểm tra giám sát của Quốc hội và Hội đồng
nhân dân, sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền các cấp, năm qua ngành Kiểm sát
đã đạt kết quả tích cực trên các mặt công tác.
4.1. Về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong lĩnh vực hình sự.
Thực hiện chỉ đạo của VKSND tối cao, VKS các địa phương chủ động kiểm
sát trực tiếp và vận dụng các biện pháp kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm của Cơ quan điều tra, góp phần nâng cao tỷ lệ phát hiện tội phạm, hạn chế
bỏ lọt tội phạm. Qua công tác kiểm sát đã yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố điều tra
190 vụ án, 209 bị can, trong đó có những vụ án được dư luận quan tâm, đồng tình;
trực tiếp khởi tố yêu cầu điều tra 28 vụ án, 19 bị can. Những đơn vị có kinh
nghiệm trong khâu công tác này là Viện kiểm sát Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải
Phòng, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thanh Hoá, Quảng Bình.
VKS các cấp chủ động kiểm sát chặt chẽ ngay từ khi khởi tố và trong suốt
quá trình điều tra, xử lý vụ án. VKS đã chủ động họp bàn hướng điều tra nhiều vụ
án trọng điểm, đề ra yêu cầu điều tra để Cơ quan điều tra thu thập đầy đủ chứng
cứ; việc phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra đảm bảo thận trọng, có căn
cứ. Do đó, các vụ án hình sự được giải quyết vẫn giữ tỉ lệ cao, chất lượng điều tra
truy tố được nâng cao hơn. Toàn ngành đã thực hành quyền công và kiểm sát điều
tra 62.685 vụ án/ 109.445 bị can (giảm 409 vụ, tăng 143 bị can so với năm 2008);
đã giải quyết được 60.347 vụ án/ 103.520 bị can, đạt tỉ lệ 96,3% số vụ và 94,6% số

Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự: Các tranh chấp dân sự
xảy ra ngày càng nhiều, chủ yếu trong lĩnh vực hợp đồng dân sự liên quan đến sở
hữu nhà, quyền sử dụng đất và tập trung nhiều ở các thành phố lớn, địa bàn kinh tế
trọng điểm.
VKSND tối cao chỉ đạo toàn Ngành bố trí cán bộ, tổ chức tập huấn về
nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm về kiểm sát các bản án, quyết định của Toà
án trong giải quyết các vụ, việc dân sự; đồng thời có biện pháp nâng cao trách
nhiệm của cán bộ, Kiểm sát viên trong việc kiểm sát các bản án, quyết định của
Toà án. Số lượng, chất lượng kháng nghị, kiến nghị đều tăng. VKS các cấp ban
hành 1.171 kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm về dân sự (tăng 469 kháng nghị so
với năm 2008); Toà án cấp phúc thẩm đã đưa ra xét xử 608 vụ do VKS kháng nghị,
chấp nhận 528 vụ, đạt tỷ lệ 86,8%. Toà án đưa ra xét xử 314 vụ án theo thủ tục
giám đốc thẩm do VKS kháng nghị, chấp nhận 279 kháng nghị, đạt tỉ lệ 88,8%;
trong đó, VKSND tối cao đã kháng nghị 215 vụ án, Toà án đã xét xử 180 vụ, chấp
nhận 175 vụ, đạt tỉ lệ 97,2%.
Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều cố gắng giải quyết đơn đề nghị kháng
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm về dân sự nên số việc được giải quyết tăng so với
cùng kỳ năm 2008. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý 4.367 việc, đã giải quyết
1.075 việc, đạt tỷ lệ 24,6%, trong đó ban hành 215 kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm, chiếm tỉ lệ 20% so với số vụ đã giải quyết.
Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc kinh doanh, thương mại, lao
động, vụ án hành chính: Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh,
thương mại, lao động được tăng cường; chất lượng, hiệu quả có tiến bộ. VKS các
cấp đã phát hiện vi phạm và ban hành 20 kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, Toà
án đã xét xử 12 vụ, chấp nhận 12 kháng nghị, đạt tỉ lệ 100%. Toà án cấp giám đốc
thẩm đã xét xử 39 vụ án do VKS kháng nghị, đã chấp nhận 26 kháng nghị đạt tỉ lệ
66,6%.
Năm 2009, khởi kiện hành chính tăng về số lượng, tính chất ngày càng phức
tạp; tập trung chủ yếu là những loại việc đền bù giải phóng mặt bằng, thu hồi đất;
cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. VKS các cấp thụ lý kiểm sát

giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các hoạt động tư pháp.
Trong năm 2009, số lượng công dân đến khiếu nại, tố cáo tại VKS các cấp
tăng nhưng khiếu nại đông người giảm nhiều so với năm 2008. Toàn ngành đã thụ
lý 12.562 việc, trong đó, nội dung chủ yếu đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám

Trích đoạn Công tác đầu tư xây dựng cơ bản * Khách quan.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status