Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sau nhiều năm hoạt động, mặc dù là công ty độc quyền kinh doanh về điện và
có số lợi tức lớn, nhưng EVN vẫn không thể đảm bảo cung cấp đủ nguồn điện cho
dân sử dụng, dẫn tới việc cắt điện thường xuyên tại các thành phố trên diện rộng, đặc
biệt vào mùa hè. Gần đây đã có dư luận thắc mắc về sự đầu tư dàn trải và không tập
trung của EVN. Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh (trong bài viết Ngành điện
mang tiền đầu tư đi đâu?), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cần báo cáo rõ nguồn
tiền của Nhà nước đã được đem đi đầu tư vào những lĩnh vực nào. Do đó cần tiến
hành hoạt động phân tích tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) để từ đó
có những giải pháp để nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn từ nguồn ngân sách Nhà
nước.
2. Mục tiêu của đề tài.
Phân bổ nguồn lực tài chính có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu cung ứng điện
năng đang thiếu cho thị trường trong nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng : Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Phạm vi nghiên cứu : trong nước.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp quan sát tìm hiểu thực tế; phương pháp thu thập tài liệu; phương
pháp tổng hợp.
5. Bố cục đề án.
Chương 1 : Tổng quan về phân tích tài chính.
Chương 2 : Thực trạng quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam
(EVN).
Chương 3 : Kiến nghị chung.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nhà quản lý tài chính có hai chức năng :
• Chức năng thường xuyên : Quản lý bên có; kiểm tra tồn kho, dự trữ; thu và chi
các quỹ.
• Các chức năng không thường xuyên : Phát hành cổ phiếu; phát hành trái
phiếu; lập ngân sách; quyết định cổ tức.
Ba quyết định ảnh hưởng đến hoạt động chính của tổ chức:
• Quyết định đầu tư : Đầu tư trang thiết bị, máy móc thiết bị sản xuất…
• Quyết định hoạt động : xúc tiến thương mại, trả lương …
• Quyết định tài trợ tài chính : Huy động vốn vay, vay ngân hàng, tỷ lệ tài trợ...
II. QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ TÀI CHÍNH.
1.Phân tích tài chính.
Phân tích tích tài chính là hoạt động nghiên cứu, đánh giá sự chuyển dịch các
luồng tài chính cùng với ảnh hưởng của nó tới hoạt động của tổ chức. Phân tích hoạt
động doanh nghiệp là việc vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để
đánh giá chính xác thình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp cho các đối tượng
quan tâm nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp, dự
đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong tương lai cũng như rủi ro tài chính
mà doanh nghiệp có thể gặp phải; qua đó, đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích
của họ.
Xác định những nhóm đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp :
• Các nhà quản lý;
• Các cổ đông hiện tại và trong tương lai;
• Những người tham gia vào “đời sống” kinh tế của doanh nghiệp;
• Những người cho doanh nghiệp vay tiền như : Ngân hàng, tổ chức tài chính,
người mua trái phiếu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp khác …
• Nhà nước;
• Nhà phân tích tài chính;
Nội dung của phân tích tài chính bao gồm :
• Đánh giá khái quát tình hình tài chính;
• Phân tích cơ cấu và sự biến động của vốn – nguồn vốn;
• Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán;
• Phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ;
• Phân tích hiệu quả sử dụng vốn;
• Phân tích rủi ro tài chính và dự báo nhu cầu tài chính.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.1Đánh giá tình hình tài chính:
Có ý nghĩa xác định thực trạng và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp; biết
được mức độ độc lập về mặt tài chính cũng như những khó khăn về tài chính mà
doanh nghiệp đang phải đương đầu; đề ra các quyết định cần thiết về đầu tư, hợp tác,
liên kết, mua bán, cho vay. Nhằm mục đích đưa ra những nhận định sơ bộ, ban đầu
về thực trạng tài chính và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp qua đó các nhà quản
lý nắm được mức độ độc lập về mặt tài chính; an ninh tài chính đồng thời chỉ ra được
những khó khăn mà doanh nghiệp đang phải đương đầu.Việc đánh giá khái quát tình
hình tài chính được thực hiện thông qua Bảng tổng hợp đánh giá khái quát tình hình
tài chính:
Chỉ tiêu Kỳ
gốc
Kỳ
gốc
.
.
.
Kỳ
phân
Kỳ phân tích
so sánh với
nguồn vốn; xem xét việc tổ chức huy động vốn trong kỳ của doanh nghiệp như thế
nào, có đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh hay không được phản ánh thông qua
sự biến động của nguồn vốn; xem xét việc phân bổ vốn để hình thành nên tài sản
trong doanh nghiệp và đánh giá sự biến động và tình hình phân bổ vốn.
1.3 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có tài
sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, muốn vậy các doanh nghiệp cần phải
tập hợp các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động hình thành nguồn tài trợ
tài sản ( nguồn vốn ). Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
chính là xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của
doanh nghiệp, mối quan hệ này phản ánh cân bằng tài chính của doanh nghiệp. Vì
thế, khi phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh, các nhà phân tích
thường xem xét tình hình bảo đảm vốn theo quan điểm luân chuyển vốn và tình hình
bảo đảm vốn theo quan điểm luân chuyển vốn theo quan điểm ổn định nguồn tài trợ
cùng với cân bằng tài chính của doanh nghiệp.
1.4. Phân tích tình hình lưu chyển tiền tệ
Cung cấp thông tin về sự thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng
chuyển đổi thành tiền của tài sản, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp
trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động. Làm tăng khả năng đánh
giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so
sánh giữa các doanh nghiệp. Phân tích dòng lưu chuyển lượng tiền của doanh nghiệp
thông qua các nghiệp vụ thu chi, thanh toán khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính trong một kỳ nhất định.Việc phân tích
xuất phát từ cân đối về thu chi tiền tệ thể hiện vòng lưu chuyển tiền tệ trong doanh
nghiệp …Phương trình cân đối của quá trình lưu chuyển tiền tệ là :
Tiền tồn đầu kỳ + Tiền thu trong kỳ = Tiền chi trong kỳ + Tiền tồn cuối kỳ
Cần chú ý, lợi nhuận không đồng nhất với tiền mặt. Lợi nhuận bao gồm cả phần
doanh thu khách hàng còn nợ và thu nhập kiếm được nhưng chưa thu lợi bằng tiền;
lợi nhuận bao gồm các khoản mua chịu và các chi phí phát sinh chưa được chi trả; lợi
nhuận bao gồm những chi phí không bằng tiền mặt; tiền mặt các hình thức biến đổi
Sự mất cân đối dòng tiền được chia thành mất cân đối tạm thời và mất cân đối
dài hạn; mất cân đối tạm thời về dòng tiền có thể khắc phục được bằng nhiều biện
pháp và hậu quả không lớn. Mất cân đối dài hạn xảy ra do những nguyên nhân quan
trọng như : phần định phí trong tổng chi phí của doanh nghiệp quá lớn; vốn lưu động
tự có quá ít; nợ khó đòi tăng lên; doanh thu chưa đủ bù đắp các khoản chi phí thường
xuyên;v.v…
Khi lạm phát xảy ra trong nền kinh tế, do tác động dây chuyền giữa các doanh
nghiệp, số nợ phải thu, đặc biệt là nợ phải thu khó đòi tăng lên, mất cân đối tạm thời
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
rất dễ trở thành mất cân đối dài hạn. Mất cân đối dài hạn về dòng tiền có thể làm cho
doanh nghiệp bị phá sản.
• Rủi ro về lãi suất tiền vay :
Lượng tiền vay càng lớn, tác động tiêu cực của rủi ro này càng nghiêm trọng và
có thể dẫn đến tình trạng phá sản doanh nghiệp nếu nó tồn tại trong một thời kỳ dài
• Rủi ro về sức mua của thị trường : Sức mua của thị trường là nhân tố quyết
định khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp và do đó, nó cũng quyết
định dòng tiền vào doanh nghệp; khi lạm phát tăng cao, rủi ro về sức mua của
thị trường đã xảy ra, nó thể hiện qua số lượng hàng hóa tiêu thụ được giảm,
giá bán không bù đắp được chi phí sản xuất kinh doanh.
• Rủi ro về tỷ giá hối đoái : Là rủi ro xảy ra khi các giao dịch kinh tế được thực
hiện bằng ngoại tệ và tỉ giá hối đoái biến động theo hướng làm cho đồng nội
tệ bị mất giá. Với những doanh nghiệp sử dụng nhiều ngoại tệ, khi tỷ giá hối
đoái tăng, số lỗ về tr giá có thể làm giảm đáng kể, thậm chí triệt tiêu toàn bộ
lợi nhuận thu được trong kinh doanh. Đây là rủi ro bất khả kháng của doanh
nghiệp trong một nền kinh tế nhập siêu với tỷ lệ lớn.
• Rủi ro về khả năng tái đầu tư : Muốn phát triển bền vững quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp phải diễn ra liên tục, vòng sau phải cao hơn
vòng trước (quá trình tái đầu tư ). Khi lạm phát xảy ra, nguồn để tái đầu tư bị
giảm đi, thậm chí là một số âm, do đó khả năng tái đầu tư bị triệt tiêu, doanh
bất khả kháng của thị trường.
Kiện toàn bộ máy kế toán, thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán quản trị để
thường xuyên có được những thông tin trung thực, chính xác, và đầy đủ về tình hình
tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho việc phân tích và ra những quyết định quản
lý. Đồng thời, bên cạnh lực lượng cán bộ kế toán, mỗi doanh nghiệp cần có một giám
đốc tài chính – người thực hiện chức năng quản trị tài chính của doanh nghiệp; thực
hiện những biện pháp phòng ngừa rủi ro trong tài chính của doanh nghiệp.
Để dự báo các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp, trước hết cần chọn các
khoản mục trên các báo cáo tài chính ( Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng
cân đối kế toán ) có khả năng thay đổi khi doanh thu thay đổi. Việc lựa chọn này
được dựa vào mối quan hệ giữa doanh thu với từng khoản mục. Trên cơ sở đó, sẽ dự
báo chỉ số của từng chỉ tiêu trong kỳ tới. Qui trình dự báo các chỉ tiêu trên Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối kế toán được tiến hành như sau :
• Bước 1 : Xác định mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáo với doanh
thu thuần
Nhóm những chỉ tiêu thay đổi cùng chiều với doanh thu thuần và
thường chiếm một tỉ lệ nhất định so với doanh thu thuần.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nhóm những chỉ tiêu khoong thay đổi hoặc thay đổi không rõ rang khi doanh
thu thuần thay đổi hoặc những chỉ tiêu được xác định trên cơ sở các chỉ tiêu
nhóm 1.
• Bước 2 : Xác định trị số dự báo của các chỉ tiêu thuộc nhóm 1.
• Bước 3 : Lập báo cáo tài chính dự báo.
• Bước 4 : Xác định lượng vốn thừa (+) hoặc thiếu (-) ứng với mức doanh thu
thuần mới.
• Bước 5 : Xác định lượng tiền thuần lưu chuyển trong kỳ.
Khi phân tích tài chính cần lưu ý một số điểm cơ bản :
• Phân tích tài chính làm sang tỏ vấn đề chứ không phải làm vấn đề thêm phức
tạp.
Strengths ( điểm mạnh); Weaknesses ( điểm yếu); Opportunities ( cơ hội ) và Threats
( nguy cơ ).
SWOT là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết
định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh.
Mô hình SWOT ra đời từ những năm 60 – 70 tại viện nghiên cứu Stantord với
quá trình tìm hiểu nguyên nhân thất bại trong việc lập kế hoạch của các công ty, tài
trợ bởi 500 công ty lớn nhất thời đó.
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp
theo định dạng SWOT dưới một trật tự logic dễ hiểu, dễ trình bày, dễ thảo luận và
đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định.
Mô hình SWOT thường đưa ra 4 chiến lược cơ bản :
• SO (Strengths – Opportunities) : các chiến lược dựa trên ưu thế của doanh
nghiệp để tận dụng các cơ hội thị trường.
• WO ( Weaknesses – Opportunities) : các chiến lược dựa trên khả năng vượt
qua các yếu điểm của doanh nghiệp để tận dụng cơ hội thị trường.
• ST (Strengths – Threats) : các chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để
tránh các nguy cơ của thị trường.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• WT ( Weaknesses – Threats) : các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc
hạn chế tối đa các yếu điểm của doanh nghiệp để tránh các nguy cơ của thị
trường.
• Lợi thế của mình là gì?
• Công việc nào mình làm tốt nhất?
• Nguồn lực nào mình cần, có thể sử
dụng?
• Ưu thế mà người khác thấy được ở
mình?
• Phải xem xét vấn đề từ trên phương
diện bản than và của người khác.
thông qua tình hình bên trong ( Strengths – Weaknedsses) và bên ngoài
(Opportunities – Threats). SWOT thực hiện lọc thông tin theo một trật tự dễ hiểu và
dễ xử lý hơn.
Các yếu tố bên trong cần phân tích Các yếu tố bên ngoài cần phân tích
• Văn hóa tổ chức
• Hình ảnh tổ chức
• Cơ cấu của tổ chức
• Nhân lực chủ chốt
• Khách hàng
• Đối thủ cạnh tranh
• Xu hướng thị trường
• Nhà cung cấp
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Khả năng sử dụng các nguồn lực
• Kinh nghiệm đã có
• Hiệu quả hoạt động
• Năng lực hoạt động
• Danh tiếng thương hiệu
• Thị phần
• Nguồn tài chính
• Hợp đồng chính yếu
• Bản quyền và bí mật thương mại
• Đối tác
• Thay đổi xã hội
• Công nghệ mới
• Môi trường kinh tế
• Môi trường chính trị pháp luật
Chất lượng phân tích của mô hình SWOT phụ thuộc vào chất lượng thông tin
thu thạp được. Thông tin cần tránh cái nhìn chủ quan từ một phía : ban giám đốc,
Kế hoạch tài chính dài hạn còn được gọi là kế hoạch tài chính chiến lược, để
xây dựng kế hoạch tài chính cho khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm. Muốn lập kế
hoạch tài chính dài hạn cần :
• Xác lập tốc độ tăng trưởng mong muốn mà tổ chức có thể đạt được.
• Tính toán mức vốn cần thiết để tranh trải các khoản tồn kho, trang thiết bị, nhà
xưởng và nhu cầu nhân sự cần thiết để đạt được tốc độ tăng doanh thu.
• Xác định được chính xác các nhu cầu của doanh nghiệp trong tương lai bằng
cách sử dụng báo cáo thu nhập dự kiến trong vòng từ 3 đến 5 năm.
Để tiến hành kế hoạch tài chính cần :
Thiết lập mục tiêu tăng trưởng, mục tiêu về lợi nhuận trên vốn đầu tư và hướng
mở rộng phát triển doanh nghiệp. Những mục tiêu này phải được thể hiện bằng các
con số cụ thể.
Trong quá trình lập kế hoạch, cần tập trung vào các điểm mạnh, điểm yếu, các
yếu tố thuộc môi trường vĩ mô và vi mô có thể ảnh hưởng đến việc đạt được các mục
tiêu.
Chú ý tới nhu cầu về tài chính, nhân lực và nhu cầu về vật chất hạ tầng cần thiết
để hoàn thành kế hoạch tài chính bằng cách đưa ra những dự báo về doanh số, chi phí
và lợi nhuận không chia trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm.
Trau dồi phương pháp điều hành hoạt động doanh nghiệp, nắm bắt các cơ hội
về thị trường và phát triển sản phẩm mới để có thể tìm ra biện pháp tốt nhất nâng cao
năng suất và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Cập nhật kế hoạch tài chính thông qua các báo cáo tài chính mới nhất. Thường
xuyên so sánh kết quả tài chính thu được với các số liệu hoạt động của các đơn vị
trong cùng ngành.
Không ngại thay đổi kế hoạch tài chính nếu thấy mục tiêu đề ra quá thụ động
hoặc vượt quá khả năng của tổ chức.
3. Kiểm soát hoạt động tài chính.
Kiểm soát hoạt động tài chính là một khâu rất quan trọng trong khoa học quản
lý, nó biểu thị mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Kiểm tra tài chính góp phần bảo đảm hình thành các cân đối tỷ lệ trong phân
cách chính xác đúng đắn kịp thời.
Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính: Là kiểm tra được thực hiện sau
khi các hoạt động tài chính, các nghiệp vụ tài chính diễn ra, được hạch toán, ghi chép
vào hệ thống các loại sổ sách bảng biểu. Nội dung kiểm tra là so sánh, đối chiếu các
15
Kiểm tra tài
chính
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chỉ tiêu tài chính với các chỉ tiêu kinh tế, giữa số liệu phát sinh thực tế và chỉ tiêu kế
hoạch tài chính, đối chiếu tình hình thực tế với các số liệu, sổ sách, số liệu trên bảng
tổng kết tài sản, báo cáo quyết toán. Việc kiểm tra này nhằm xem xét lại tính đúng
đắn hợp lý, xác thực của các hoạt động tài chính cũng như các số liệu được đưa ra
trong các sổ sách báo biểu; ngoài ra, tổng kết rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc
xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính trong các kỳ sau.
Các phương pháp kiểm soát hoạt động tài chính :
• Kiểm tra toàn diện : Là cách kiểm tra nhằm vào toàn bộ các nhiệm vụ tài
chính trong việc thực hiện nghiệp vụ kế toán tài chính.
• Kiểm tra chuyên đề ( kiểm tra trọng điểm ) : Là cách kiểm tra chỉ tập trung
vào một hay vài nghiệp vụ tài chính nhất định cần quan tâm trong chấn chỉnh
kỉ luật tài chính hoặc kiểm tra một bộ phân quan trọng nào đó có ảnh hưởng
lớn tới hoạt động của tổ chức.
• Kiểm tra điển hình ( kiểm tra chọn mẫu ): Là cách kiểm tra có tính chất lựa
chọn đối với một số đơn vị hay một số nghiệp vụ tài chính đặc trưng theo một
tiêu chuẩn nào đó để thực hiện việc kiểm tra. Qua việc kiểm tra điển hình có
thể phát hiện được tồn tại, dựa vào kết quả đạt được để nhận biết được hoạt
động sản xuất kinh doanh của tổ chức và tìm ra các biện pháp cải tiến công tác
quản lý tài chính.
• Kiểm tra qua chứng từ ( kiểm tra gián tiếp ): Là phương pháp kiểm tra dựa vào
các báo biểu, báo cáo, sổ sách, số liệu hạch toán thống kê kế toán, các chứng
từ ban đầu để xem xét tình hình hoạt động kinh tế - tài chính của tổ chức.
nhà nước.
• Theo công dụng kinh tế: Nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương
tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; thiết bị, dụng cụ quản lý; vườn cây lâu năm,
súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm; và các loại tài sản cố định khác.
17
Vốn hoạt
động
Vốn cố định
- Tài sản cố định
- Vốn cố định
- QL sử dụng quỹ
khấu hao
- QL vốn cố định
Vốn lưu động
- Vốn lưu động
- Xác định nhu cầu
vốn lưu
động(VLĐ)
- Nhân tố ảnh
hưởng VLĐ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Theo tình hình sử dụng: Tài sản cố định đang sử dụng, chưa cần dùng chờ
thanh lý.
Vốn cố định: Là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà
đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn
thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Đặc điểm của
vốn cố định là:
• Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm: do đặc điểm của
tài sản cố định được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất quyết định.
• Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
do đã có TSCĐ mới
tuy mua được với
giá như cũ nhưng lại
hoàn thiện hơn về
mặt kĩ thuật.
V2: Tỷ lệ hao mòn vô hình
loại 2
Gk: Giá trị của TSCĐ cũ
không chuyển dịch được
vào giá trị SF
Hao mòn vô hình
loại 3: TSCĐ bị mất
giá hoàn toàn do
chấm dứt chu kỳ
của sản phẩm tất
yếu dẫn đến những
TSCĐ dùng để chế
tạo các sản phẩm đó
cũng mất tác
dụng.Hoặc MMTB
qui trình công nghệ
còn nằm trên các dự
án thiết kế, các bản
dự thảo đã lạc hậu.
1 2 3