TIỂU LUẬN:
Thực trạng xuất khẩu dệt may của
Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU Cũng như quá trình phát triển của nhiều nước trên thế giới , trong nền kinh tế Việt
Nam ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, ngành dệt may đóng một vai trò
quan trọng, vừa cung cấp hàng hoá trong nước, vừa tạo điều kiện mở rộng thương mại
quốc tế, thu hút nhiều lao động, tạo ra ưu thế cạnh tranh cho các sản phẩm xuất khẩu và
cũng là ngành nghề có lợi tức tương đối cao, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
Nhìn lại lịch sử phát triển của mình, ngành dệt may Việt Nam đã trải qua khá
nhiều thăng trầm. Song đến những năm gần đây, cùng sự phát triển của ngành dệt may
Thế Giới và khu vực, ngành dệt may Việt Nam thực sự bước sang thời kì phát triển
mới với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng và kim ngạch xuất khẩu. Năm 2006 tổng
kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam đạt con số 5,3 tỷ USD, trong đó thị
trường Mỹ 3 tỷ USD, các nước EU hơn 2 tỷ USD, ngành công nghiệp dệt may đã trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn hướng ra xuất khẩu và ngày càng khẳng định vai trò
tan” đang là một câu hỏi lớn cho chính phủ và các doanh nghiệp. Chúng ta đã phải rất
nỗ lực mới vào được tổ chức thương mại Thế Giới WTO, trước một hoàn cảnh mới
như vậy, Việt Nam nói chung và ngành dệt may Việt Nam nói riêng phải đối phó với
rất nhiều thách thức đe doạ, tuy nhiên cơ hội cũng có nhiều. Tập Đoàn Dệt May Việt
Nam được xem là một tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước, với các chức năng bao quát
từ hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ đến kinh doanh xuất nhập khẩu các loại sản
phẩm thuộc lĩnh vực dệt may. Trong bản đề án này, em xin đưa ra một số vấn đề liên
quan đến đặc điểm, thực trạng và các biện pháp nâng cao kim ngạch xuất khẩu của
Tập Đoàn Dệt May Việt Nam – VINATEX - cơ quan đàu tàu của ngành dệt may nước
ta.
Lý do em chọn đề tài này là do có một phần nguyên nhân cá nhân. May mắn được
sinh ra ở một quê hương làng nghề thuộc tỉnh Nam Định. Mặc dù không được trực tiếp
trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải nhưng từ nhỏ đã thường xuyên được tiếp xúc với các chất
liệu len, vải, thổ cẩm đã sớm giúp em hình thành một mối quan tâm sâu sắc về đề tài này. Cộng thêm niềm đam mê và cảm hứng đối với lĩnh vực thời trang trong nước và
quốc tế, em đã quyết định làm bản đề án môn học này với hi vọng sẽ áp dụng được
những kiến thức kinh tế đã được học trên trường lớp vào thực tế.
Sau đó, căn cứ vào những điều kiện sau này, Uỷ ban Kế hoạch lại giao chỉ tiêu sản
lượng cho các doanh nghiệp nhuộm, ấn định về giá và thời gian giao hang. Dựa vào giá
cả và ngày giao hang, các doanh nghiệp nhuộm lại tính lượng sợi cần thiết rồi trình Uỷ
ban Kế hoạch Nhà nước về nhà sản xuất sợi có thể sản xuất loại sợi theo yêu cầu. Cuối
cùng, Uỷ ban Kế hoạch nhà nước giao chỉ thị cho các doanh nghiệp sợi sản xuất lượng
sợi cần thiết như kế hoạch được trình như trên.
Trong nền kinh tế kế hoạch, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt, nhuộm và
may rất mật thiết. Xét trên toàn ngành, mối quan hệ trực tiếp, lâu dài giữa các doanh
nghiệp và sự chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp đã được duy trì khá tốt. Tuy
nhiên, mối quan hệ khăng khít cùng việc chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp khác
ngành đã có sự thay đổi lớn từ sau khi có Hiệp định thương mại gia công uỷ thác (Hiệp
định ngày 19/5) được ký kết giữa Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Việt Nam vào năm
1986. Hiệp định này đã làm giảm hẳn nhu cầu sản phẩm đối với các doanh nghiệp
nhuộm và dệt trong nước và mối quan hệ mật thiết giữa các doanh nghiệp cũng bị rạn
nứt. Từ mối quan hệ mật thiết trước đây trở thành quan hệ đối thủ cạnh tranh của nhau. Người ta cho rằng đó là nguyên nhân lịch sử chủ yếukhiến cho sự phân ngành trong
ngành dệt - may Việt Nam chưa phát triển.
Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, đặc biệt bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ
XX, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Vào đầu những năm 90,
các nước Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản trở thành thị trường nhập khẩu
chính của Việt Nam , và từ năm 1993 khi Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và EU
hình thành thì xuất khẩu dệt may tăng nhanh. Xem xét sự thay đổi của tổng giá trị sản
lượng hang dệt may từ năm 1995 đên năm 1999 cho thấy, trong 5 năm, tổng giá trị sản
lượng tăng khoảng 57%, như vậy tỷ lệ tăng trưởng thực tế bình quân khoảng 12%/năm.
1.2. Đặc điểm ngành dệt may Việt Nam:
Thứ nhất: chưa chủ động được nguồn nguyên liệu:
Nguồn nguyên phụ liệu cung cấp đầu vào cho ngành dệt may Việt Nam chủ
yếu phải nhập từ nước ngoài. Tỷ lệ nhập khẩu quá cao khiến giá thành hàng dệt may
1
000
tấn
100
3. Sợi
1000 tấn
4. Vải lụa triệu m2
Tỷ lệ nội địa hoá (%)
Nguồn: Hiệp hội Dệt May Việt Nam
Nước ta có một lực lượng lao động lớn về số lượng nhưng đối với ngành này đã
chưa tận dụng hết được thế mạnh này, trong khi đó Trung Quốc - nước láng giềng và
cũng là một cường quốc xuất khẩu hàng dệt may thế giới – hàng năm sản xuất gần một
vạn sản phẩm phụ liệu cho ngành may.
Thứ hai: sử dụng hình thức gia công là chính:
Phần lớn hoạt động xuất khẩu hàng may mặc được thực hiện dưới dạng sản
xuất lưu thông theo hợp đồng gia công uỷ thác (gia công). Do các doanh nghiệp Việt
Nam chỉ thực hiện 3 công đoạn là cắt (cut), may (make), hoàn thiện (trim) nên hình
thức sản xuất lưu thông này được gọi là CMT. Theo hình thức này toàn bộ nguyên phụ
liệu đêù do khách hang nước ngoài cung cấp cho các doanh nghiệp may Việt Nam.
Sơ đồ tự sản xuất, lưu thông hàng may mặc
Nguồn: Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
Nam, công nghệ là tác nhân chủ yếu. Khả năng tự động hoá trong quá trình sản xuất
trong các doanh nghiệp may chỉ đạt mức độ trung bình, công nghệ cắt và may còn lạc
hậu. Công nghệ phục vụ các công đoạn phụ trợ, khâu giặt còn bất cập; công tác thiết
kế, công nghệ tạo mẫu của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn khởi đầu đã làm hạn chế
đến chất lượng, mẫu mã, và chủng loại sản phẩm.
Tính đến năm 2006, Tập đoàn Dệt may Việt Nam có 126 xưởng may với
78.000 thiết bị may, cắt và hoàn tất các loại, trong đó các xưởng trình độ tiên tiến
chiếm 20%, xưởng trình độ trung bình khá chiếm 70% và xưởng trình độ trung bình
chiếm 10%. Một số xưởng thuộc công ty may Việt Tiến, công ty may Nhà Bè, công ty
may Đức Giang, công ty may Phương Đông… đã có sử dụng phần mềm trong sáng tác
mẫu và thiết bị cắt vải của Mỹ, Đức…Ngoài ra còn có khoảng 200 xưởng may thuộc
doanh nghiệp Nhà nước khác có trình độ trung bình khá và trung bình.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuẩt khẩu hàng dệt may Việt Nam:
1.3.1. Các nhân tố bên trong:
Có thể nói về ngành dệt may nói riêng, có rất nhiều các yếu tố bên trong một doanh
nghiệp có ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu hàng hoá, tuy nhiên ở đây, với giơí hạn
về chiều dài của bản đề án này em chỉ xin đưa ra ba nhân tố chính, đó là: giá cả các yếu
tố đầu vào, giá cả sản phẩm, công nghệ:
Giá cả các yếu tố đầu vào: Để tiến hành sản xuất , ngành dệt may cần các
yếu tố đầu vào. Giá cả các yếu tố đầu vào là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng tới giá
thành sản phẩm. Muốn hạ sía thành sản phẩm thì trước tiên phải tìm được các nguồn
đầu vào với giá rẻ:
- Nguyên phụ liệu: Như đã nói ở trên, nguyên phụ liệu ngành đến 90% là
phải nhập khẩu. Phần nguyên phụ liệu mà Việt Nam có thể tự cung cấp cho ngành dệt
may là rất thấp và chất lượng kém. Phần nguyên phụ liệu phải nhập khẩu với giá cao này là nguyên làm giá cả của hàng hoá dệt may Việt Nam cao hơn so với các sản phẩm
cùng loại của các nước khác.
- Lao động: Có thể nói một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi nhất
khẩu của các nước nhập khẩu: Đây là yếu tố đầu tiên mà các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam nói chung và VINATEX nói riêng cần tìm hiểu trước khi muốn xuất khẩu
hàng sang bất kỳ một quốc gia nào để điều chỉnh cho phù hợp. Sự kiên “quota dệt
may” đã có nhiều tác động thuận lợi cho hàng xuất khẩu dệt may của Việt Nam .
Thu nhập: thu nhập là một yếu tố ảnh hưởng tới lượng cầu của một loại
hàng hoá. Dựa vào thu nhập mà người ta phân chia hàng hoá ra làm hai loại: hàng hoá
thông thường và hàng hoá cấp thấp. Nếu nhu cầu về một loại hàng hoá giảm khi thu
nhập giảm, thì hàng hoá đó gọi là hàng hoá thông thường. Nếu nhu cầu về một loại
hàng hoá tăng khi thu nhập giảm, thì hàng hoá này được gọi là hàng hoá cấp thấp.
Một người được cho là ăn mặc đẹp hay ít ra là biết cách ăn mặc thì điều đầu tiên
là họ phải có một mức thu nhập kha khá, sau đó sẽ là các yếu tố về tính thẩm mỹ. Các
yếu tố này ảnh hưởng rất nhiều đến sức mua của người dân trong một quốc gia. Hàng
hoá dệt may Việt Nam chủ yếu là phục vụ cho những khách hàng co mức thu nhập
trung bình khá.
Thị hiếu và phong tục tập quán của quốc gia nhập khẩu: Yếu tố rõ ràng
nhất quyết định tới nhu cầu khách hàng là thị hiếu. Qua thực tế, chúng ta có thể nói
rằng: hàng dệt may Việt Nam có thể đáp ứng được những khách hàng khó tính nhập
khẩu. Một phương trâm xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là “ việc
kinh doanh có tính địa phương”. Có nghĩa là khi xuất khẩu bất kỳ một sản phẩm dệt
may nào thì các doanh nghiệp cũng đều quan tâm tới sở thích của khách hàng và phong
tục tập quán ở các thị trường khác nhau. Ví dụ như: ở thị trường EU, các sản phẩm của
chúng ta luôn cố gắng hoàn thiện ở các khâu chất lượng, mẫu mã, thiết kế để đáp ứng
tốt nhu cầu của những khách hàng khó tính này.
2. Vai trò của xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam:
Việt Nam đang là nước ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Đặc biệt với đường lối chính sách kinh tế mở, ưu tiên chú trọng tới phát triển xuất khẩu của nhà nước ta đã tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho sự phát triển của
ngành dệt may. Ngành dệt may đã từng bước khẳng định được vai trò của mình trong
sâu sắc giữa kinh tế nước ta và kinh tế thế giới.
Chương 2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA TẬP ĐOÀN
DỆT MAY VIỆT NAM - VINATEX
1. Khái quát về Tập Đoàn Dệt May Việt Nam:
Quá trình hình thành và phát triển:
Việt Nam là nước nông nghiệp trồng lúa nước, do vậy ngành dệt may Việt Nam ra
đời muộn hơn so với ngành dệt may của các nước phát triển trên thế giới . Tuy vậy, từ
lâu Việt Nam cũng đã xuất hiện những làng nghề, vùng nghề dệt may khá phát triển:
Vạn Phúc, Hà Đông, Nam Định… Những làng nghề này nổi tiếng về những sản phẩm
dệt, may của mình, và cho đến nay những sản phẩm của họ vẫn rất được ưa chuộng,
nhưng chỉ sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, manh mún, tính tự cung, tự cấp là chính. Để xây
dựng một ngành công nghiệp dệt may phát triển thì cần một trình độ công nghiệp cao
mà bản thân những làng nghề, vùng nghề truyền thống này chỉ để lại một vốn kinh
nghiệm về dệt may nhất định. Trước khi Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam thành lập, để thực hiện chức năng
191%; vốn điều lệ đạt 8.216 tỷ đồng, bằng 215% so với năm 2005.
Tập đoàn kinh tế Dệt-May là tổ hợp của nhiều doanh nghiệp hoạch toán độc lập,
gồm có công ty mẹ và các công ty con, các công ty liên kết, trong đó công ty mẹ giữ
vai trò chi phối các công ty khác về vốn, thị trường, thương hiệu. Công ty mẹ thực hiện
chức năng vừa là đầu tư, vừa thực hiện kinh doanh và cung cấp các dịch vụ nghiên cứu,
tư vấn, đào tạo chuyên ngành dệt may …
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty mẹ A
Nguồn: Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
2. Khái quát về thị trường dệt may Thế Giới và các nước xuất khẩu chính của
VINATEX:
Dệt may vẫn là một lĩnh vực được các nước trên Thế giới nói chung và các nước
thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nói riêng rất quan tâm. Ngành công
nghiệp này có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường đa dạng ngành
nghề và thường xuyên được đặt lên bàn nghị sự của các vòng đàm phán tự do hóa
thương mại toàn cầu. Ngành đệt may tạo nhiều việc làm, riêng Indonesia sử dụng 1,18
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
CƠ QUAN TỔNG GIÁM ĐỐC BAN KIỂM SOÁT
NHOM
NGUYÊN
LIỆU
NHÓM
HOÀN TẤT
NHÓM SỢI NHÓM MAY
NHÓM DỆT
Theo quy định của vòng đám phán Urugoay (năm 1994) từ ngày 1/1/2005 WTO
xóa bỏ hạn ngạch xuất, nhập khẩu đối với sản phẩm dệt may.
Việc xóa bỏ quota đối với hàng dệt may sẽ làm tăng khối lượng hàng dệt và quần áo từ
các nước châu Á vốn đã tăng trưởng mạnh. Thậm chí chỉ cần tăng trưởng 5,3%/năm
trong 12 năm tới hoặc 3,2% trong ngành công nghiệp dệt, thị trường xuất, nhập khẩu
toàn cầu hàng dệt và quần áo vẫn có thể đạt 600 tỷ USD vào năm 2015. Tuy nhiên thị
trường dệt may sẽ cạnh tranh quyết liệt. Xóa bỏ quota buộc các nước phải có những
biện pháp để bảo hộ ngành sản xuất trong nước như kiện chống bán phá giá. Đây là
biện pháp không chỉ nước giàu mà cả nước nghèo cũng áp dụng.
3. Thực trạng hàng xuất khẩu dệt may Việt Nam và VINATEX những năm
gần đây:
Đứng đầu trong các thị trường xuất khẩu dệt may Việt Nam là Mỹ với kim ngạch
hơn 3 tỷ USD (chiếm 55% thị phần); Liên minh châu Âu (EU) xếp thứ hai với 1,2 tỷ
USD (chiếm 20% thị phần); tiếp theo là các thị trường Nhật Bản, ASEAN, Canada,
Nga và một số thị trường khác.
Theo số liệu thống kê từ Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu trong 9 tháng qua
lên tới 35,6 tỷ USD, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý dệt may đã
chính thức vượt dầu thô để trở thành mặt hàng xuất khẩu dẫn đầu của cả nước. 9 tháng qua xuất khẩu dệt may đạt 5,8 tỷ USD, trong khi dầu thô mới chỉ đạt 5,78 tỷ USD. Như
vậy vị trí dẫn đầu xuất khẩu của dầu thổ trong suốt những năm qua đã bị thay thế bởi
dệt may. Thực tế, khả năng dẫn đầu của dệt may xuất khẩu đã được dự báo trước, và có
thể sẽ dữ vững vị trí này trong suốt giai đoạn tới. Dệt may tiếp tục đà tăng trưởng tốt
sau khi gia nhập WTO được dỡ bỏ rào cản hạn ngạch vào Mỹ. Hoạt động nhập khẩu
hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam trong những tháng cuối năm diễn ra sôi động hơn so
với những tháng đầu năm 2007:
Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam so với
kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ các nước khác tăng lên 4,53%.
Lượng nhập khẩu các Cát 844, 839, 434, 237, 648, 435, 644, 607, 642,
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU HÀNG
DỆT MAY CỦA VINATEX
1. Định hướng xuất khẩu:
1.1 . Định hướng chung đến năm 2020:
Trong tương lai, EU vẫn là thị trường xuất khẩu chủ lực của hàng dệt may Việt
Nam. Thị trường Mỹ quả là một thị trường rộng lớn có rất nhiều triển vọng, đăc biệt
mở ra nhiều cơ hội từ sau Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ được ký kết (năm 2000) và
chính thức thông qua vào tháng 12/2001. Tuy nhiên, việc thâm nhập vào thị trường mới cần nhiều thời gian và chi phí, và trước mắt việc xuất vào thị trường này chưa thể
gia tăng đột biến. Trong khi đó, EU vẫn là thị trường quen thuộc, có sức tiêu thụ lớn và
trong tầm tay của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam . Việc các doanh nghiệp chỉ tập
trung vào Mỹ và AFTA như hiện nay sẽ tạo ra độ vênh trong quá trình định hướng thị
trường, gây mất cân đối trong chiến lược xuất khẩu . Khi EU dỡ bỏ hạn ngạch hàng dệt
may vào đầu năm 2005 cho các nước thành viên của WTO, hàng dệt may Việt Nam
phải cạnh tranh với nhiều cường quốc xuất khẩu trong khu vực, đặc biệt là về mặt giá
cả, mà theo ước tính sẽ hạ xuống thấp hơn 7%. Tuy nhiên Việt Nam có những ưu thế
nhất định trong cuộc chiến này nhất là khi giá cả không phải là yếu tố quyết định đối
với người tiêu dùng châu Âu, vì họ luôn đặt chất lượng lên hàng đầu. Theo lộ trình, đến
bao nhiêu thì các doanh nghiệp dệt may Việt Nam càng phải nỗ lực bấy nhiêu thì mới
mong giành được phần thắng trong cuộc đua đầy thử thách này.
VINATEX chủ trương sẽ vẫn giữ vững thị trường cũ, khai thác thêm thị trường
mới, nên trong thời gian tới, kim ngạch xuất khẩu sẽ theo hướng: thị trường Mỹ, Nhật
Bản kim ngạch xuất khẩu vẫn giữ ở mức cao, tăng cường và chú trọng hơn đối với các
nước khu vực EU, đồng thời một số thị trường mới ở Trung Đông, Mỹ La Tinh…cũng
sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng cao. Mục tiêu xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU
Chỉ tiêu 2005 2010 2015
Kim ng
ạch xuất khẩu
800 tri
ệu USD
2.000 tri
ệu USD
3.500 tri
ệu
USD
Nguồn: Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
Với bảng số liệu dự tính trên, mục tiêu đến năm 2015 kim ngạch xuất khẩu sang thị
trường EU đạt 3.500 triệu USD không phải là con số quá cao mà dệt may Việt Nam
không thể đạt được ở thị trường EU. Với mục tiêu này thì, kim ngạch xuất khẩu sang
thị trường EU sẽ chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường thế giới
VINATEX
Tổng mức đầu tư, trong đó:
- Vốn đầu tư cho mở rộng:
- Vốn cho đầu tư chiều sâu:
Theo hình thức vốn gồm có:
- Vốn cho xây lắp:
- Vốn cho thiết bị:
- Chi phí khác:
- Chi phí dự phòng:
- Vốn lưu động:
30.000
20.000
10.000
2.550
18.000
1.500
1.500
6.450
9.100
1.800
7.300
800
5.500
500
500
1.800
khu trồng bông lớn với chất lượng tốt…
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: Trong việc đẩy mạnh đào tạo nhân lực cho
công nghiệp dệt sợi, cần chú ý đến hai vấn đề lớn là đảm bảo yêu cầu cân đối trên cả
hai mặt cơ cấu nhành nghề, cơ cấu trình độ và chất lượng đào tạo. Phải đảm bảo đào
tạo đủ số lượng lao động theo các khâu của quá trình công nghệ. Phải phát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật, và đặc biệt coi trọng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và công
nghiệp có trình độ cao.
Ngoài ra cần chú trọng cải thiện điều kiện làm việc, giảm nhẹ cường độ lao
động bằng việc đầu tư trang thiết bị hiện đại, các thiết bị xử lý chất thải, đảm bảo vệ
sinh công nghiệp …Đây cũng là một biện pháp tốt để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực.
Đầu tư thiết bị bảo vệ và xử lý môi trường: Trong những năm tiếp theo, để hạn
chế hàng may mặc xuất khẩu, các nước công nghiệp phát triến sẽ tăng cường các loại
hàng rào phi thuế quan để hạn chấ hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển như yêu
cầu về nhãn và nhãn sinh thái, yêu cầu về môi trường và điều kiện làm việc, yeu cầu
chống phá giá… Đây cũng là vấn đề khó khăn cho các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam. Do đòi hỏi phải có các biện pháp tích cực trong bảo vệ môi trường, phấn đấu
trong 5 năm tới, tất cả mọi chất thải từ các nhà máy dệt phải được xử lý theo đúng tiêu
chuẩn trước khi thải ra môi trường sinh thái xung quanh.
2.3. Giải pháp về thị trường:
Thiết lập hệ thống mạng xúc tiến thương mại đối với các thị trường trọng điểm
như EU, Mỹ… Để làm được điều này, Hiệp hội Dệt may, Tập Đoàn Dệt May Việt
Nam và các doanh nghiệp dệt may cần tự mình đưa ra cơ chế nhằm khai thác các
nguồn lực thương mại khác nhau hiện đã có mặt tại các thị trường trọng yếu đó. Hệ
thống mạng thương mại cần thiết nhiều đầu mối trên sân nhà của mình, đặc biệt là sử
dụng các công ty luật của nước ngoài có mặt tại Việt Nam để làm tư vấn pháp luật cho
hoạt động xuất khẩu.
Mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dệt may hoặc thương mại dịch vụ dệt may
cho các doanh nghiệp gặp khó khăn, hoặc thực hiện các dự án đầu tư mới sau khi đã
qua khoá đào tạo ngắn hạn về quản lý hoặc kỹ thuật.
- Thuê các nhà quản lý, các chuyên gia kỹ thuật nước ngoài nhằm giải quyết các
khó khăn cho một số công ty, hoặc điều hành các dự án mới.
- Xây dựng cơ chế ứng xử mới, cả về tinh thần và vật chất (thực chất là nền văn hoá
doanh nghiệp) nhằm thu hút mọi nguồn chất xám cho ngành dệt may. - Củng cố viện nghiên cứu chuyên ngành còn nhằm mục đích thay mặt cho ngành
dệt may phối hợp với các cơ quan hải quan, cơ quan thuế thực hiện các thủ tục hải
quan và thuế sao cho có lợi đối với các sản phẩm dệt may Việt Nam.
- Củng cố các trường đào tạo, trung tâm đào tạo nâng cao hiệu quả đào tạo ( kể cả
việc thuê các chuyên gia đào tạo nước ngoài) để đáp ứng nhu cầu tăng vọt để cán bộ
quản lý và cán bộ kỹ thuật trong thời gian tới.
3. Một số kiến nghị với Chính phủ để đẩy mạnh khả năng xuất khẩu dệt may
vào thị trường thế giới:
3.1. Xúc tiến thương mại:
- Xúc tiến các quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, đặc biệt là các thị
trường xuất khẩu chính của Việt Nam. Theo định hướng dến năm 2020, EU và Mỹ sẽ
là hai thị trường chính của hang dệt may Việt Nam, do đó trong việc xuc tiến thương
mại trên thế giới phải đặc biệt chú ý đến hai thị trường này. Mục đích trong các cuộc
xúc tiến thương mại này là tạo điều kiện cho xuất khẩu hang dệt may Việt Nam sang
thị trường này được thuận lợi hơn.
- Tổ chức các cuộc triển lãm, giới thiệu đất nước, con người, văn hoá Việt Nam
sang thị trường các nước trên thế giới.Quảng bá mạnh thương hiệu Việt Nam với thế
giới nói chung và thị trường các nước xuất khẩu dệt may của Việt Nam nói riêng.
Những việc này chỉ có thể tiến hành ở cấp Chính phủ giữa Việt Nam và các nước.
- Trích phí quota để hỗ trợ một phần kinh phí trong việc khia thác và thâm nhập thị
trường.
- Thường xuyên cung cấp thông tin cập nhật về thị trường EU, Mỹ, AFTA… cho