Khoa Kế hoạch & phát triển
Thực Trạng Xuất Khẩu Hàng May Mặc Của Công Ty Cổ Phần
may 10 sang Thị Trường Hoa kỳ
I. Khái quát chung về Công ty cổ phần may 10
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty May 10
Công ty cổ phần May 10 tiền thân là các xưởng may quân trang
đặt tại chiến khu Việt Bắc. Các xưởng may ra đời năm 1946 trong
những ngày sục sôi không khí toàn quốc kháng chiến. Vào thời điểm
đó, các xưởng may này có nhiệm vụ sản xuất quân trang bộ đội trong
công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.
Từ những xưởng may nhỏ bé, với nhà xưởng, thiết bị thô sơ,
trình độ quản lý lạc hậu, sản xuất theo kế hoạch nhà nước giao, đến
nay May 10 đã trở thành một trong những doanh nghiệp may mặc
hàng đầu Việt Nam. Hiện tại May 10 có 14 xí nghiệp thành viên đặt tại
Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, THanh Hoá,Quảng Bình….
Với hơn 8000 lao động, nhà xưởng khang trang, máy móc thiết bị hiện
đại. Cho đến ngày nay Công ty đã trải qua các giai đoạn phat triển:
* Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954) :
Sau cách mạng tháng 8/1945 do nhu cầu quần áo, mũ… phục vụ
bộ đội hình thành nên các tổ may. Ngày 19/12/1946 sau lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh các xưởng, các nhà
máy ở thủ đô Hà Nội nhất loạt rời lên núi rừng Việt Bắc tổ chức thành
hai hệ xưởng sản xuất quân trang: hệ chủ lực và hệ bán công xưởng.
Gọi là hệ chủ lực vì trong các xưởng này thợ may hầu hết là bộ đội và
công nhân quốc phòng. Còn hệ bán công xưởng là loại xưởng chỉ có
một số ít thợ thuộc diện công nhân quốc phòng làm nòng CSE cốt cho
sản xuất, còn lại là thợ thuê từ ngoài vào làm.
1
Báo cáo thực tập tổng hợp 1
Khoa Kế hoạch & phát triển
Trong thời gian từ năm 1947 đến năm 1949, miền Tây tỉnh
Đô, May 10 đã bước vào một giai đoạn phát triển mới cao hơn. Sau
một thời gian tìm hiểu, xã Hội Xá thuộc tỉnh Bắc Ninh cũ, nay là
Phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phô Hà Nội được chọn làm
cơ sở mới của May 10, vì nơi đây đáp ứng được 2 điều kiện cơ bản:
Thứ nhất, Hội Xá là cửa ngõ Thủ Đô, tuận tiện về giao thông (sát
đường quốc lộ số 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, gần sân bay
Gia Lâm).
Thứ hai, Hội Xá có khu đất hoang (trước là bãi pháo cua quân
đội Pháp và Nhật) rộng gần 20 ha, đủ để xây dựng xí nghiệp lớn, lại
không ảnh hưởngđến sản xuất của bà con nông dân quanh vùng.
Tháng 10/1955, Tổng cục hậu cần tiến hành biên chế cho Xưởng
May 10 số lượng 564 cán bộ, công nhân viên. Ngày 26/7/1956,
Xưởng May 10 và Xưởng May 40 được hợp nhất.
Cuối quý IV năm 1956, một bộ phận của May 10 được tách ra để
thành lập Xưởng May 20 chuyên may đo quần áo cán bộ trung, cao
cấp của quân đội đóng ở khu vực Hà Nội. Riêng Xưởng May 10 được
Tổng cục hậu cần giao nhiệm vụ may sẵn quần áo cấp phát từ cấp uý
trở xuống.
3
Báo cáo thực tập tổng hợp 3
Khoa Kế hoạch & phát triển
Đến cuối năm 1956 đầu năm 1957, quy mô Xưởng May 10 được
mở rộng, máy móc được trang bị nhiều hơn với 253 chiếc máy bay,
trong đó có 236 chiếc chạy bằng điện . Nhiệm vụ chủ yếu của Xưởng
May 10 vẫn là may quân trang cho quân đội. Yêu cầu về số lượng mặt
hàng tuy có nhiều và phức tạp hơn so với thời kỳ kháng chiến, nhưng
với sự cố gắng của toàn bộ cán bộ công nhân, Xưởng May 10 đã
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, sản xuất thêm được nhiều loại
hàng quân trang đáp ứng nhu cầu của các binh chủng trong quân đội.
* Giai đoạn từ bao cấp đến làm quen với hạch toán kinh tế
tế: giá thành sản phẩm phải rẻ, chất lượng phải tốt. Thời gian đầu Xí
nghiệp gặp không ít khó khăn về tổ chức, nhất là về mặt tư tưởng.
nhưng chính truyền thống xây dựng và trưởng thành trong kháng
chiến của tập thể cán bộ công nhân May 10 đã giúp Xí nghiệp từng
bước vượt qua các kho khăn, luôn hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế
hoạch sản xuất Nhà Nước giao và xứng đáng là một trong những lá
cờ đầu nghành may mặc trong xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
5
Báo cáo thực tập tổng hợp 5
Khoa Kế hoạch & phát triển
* Giai đoạn 1965 – 1975 :
Năm 1965, giặc Mỹ thua đau ở chiến trường Miền Nam và đã liều
lĩnh đem không quân ồ ạt đánh phá Miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi
viện của Miền Bắc cho Miền Nam. Không quân Mỹ tập trung đánh
bom vào những tuyến đường giao thông huyết mạch của Miền Bắc,
các cơ sở kinh tế, cơ quan xí nghiệp hòng làm tê liệt nền kinh tế, đưa
Miền Băc” trở lại thời kỳ đồ đá”. May 10 nằm trong khu vực kinh tế -
quân sự quan trọng, sát quốc lộ 5 nối Hà Nội với Thành Phố cảng Hải
Phòng, gần Tổng kho 205 của Tổng cục Hậu cần, Tổng kho xăng dầu,
Sân bay Gia Lâm…. Khu vực này chính là mục tiêu đánh phá hang
đầu của Không quân Mỹ.
Thực hiện phong trào do Bộ Công nghiệp nhẹ phát động, May 10
đã cử một bộ phận cán bộ lãnh đạo và công nhân viên lành nghề lên
Hà Bắc, xây dựng Xí nghiệp May X200 tại Đáp cầu - Bắc Ninh để tăng
them năng lực sản xuất cho quốc phòng. Sau này Xí nghiệp May X200
tách ra hạch toán độc lập và nay là Công ty Cổ phần may Đáp Cầu.
Ngoài việc chiến đấu bảo vệ sản xuất, May 10 hàng năm đều
thực hiện đúng nghĩa vụ quân sự đối với Tổ quốc. Thời gian này, Xí
nghiệp hoàn thành tốt hai đợt tuyển quân: đợt một gồm 8 công nhân
viên chức, đợt hai gồm 9 cháu là con em cán bộ của Xí nghiệp.
chức. Nhằm tháo gỡ khó khăn, Đảng ủy cùng Ban giám đốc Công ty
đã chủ động đề ra định hướng hoạt động và cùng lúc phải thực hiện
đồng bộ nhiều biện pháp:
Khơi dậy phong trào thi đua ái quốc mà Bác Hồ phát động
Đổi mới thiết bị và công nghệ hiện đại
Tiếp cận thị trường may mặc thế giới để tìm bạn hàng mới.
7
Báo cáo thực tập tổng hợp 7
Khoa Kế hoạch & phát triển
Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và trình độ quản lý cho đội nhũ
cán bộ công nhân.
Vay vốn ngân hàng, tận dụng vốn tự có , tranh thủ sự giúp đỡ của
khách hàng để trang bị thiết bị mới.
Mở nhiều lớp đào tạo công nhân mới, bồi dưỡng tay nghề cho
công nhân cũ nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, cử cán bộ đi học tập
trung hoặc tại chức để nâng cao trình độ quản lý.
Kết quả là sản lượng , chất lượng sản phẩm cứ tăng dần hàng
năm. Đặc biệt, năm 1984, hai mặt hàng xuất khẩu sang Công hoà dân
chủ Đức và Bungari đượcđặt gia công tăng gấp đôi so với năm 1983.
Xí nghiệp được Tổng Công ty Xuất nhập khẩu hàng Dệt May gửi công
văn khen ngợi vì đã đảm bảo tốt các yêu cầu, quy định về tiêu chuẩn,
quy cách chất lượng sản phẩm, thời hạn giao hàng.
Từ năm 1975 đến năm 1985, mỗi năm xí nghiệp May 10 đã xuất
ra thị trường các nước xã hội chủ nghĩa từ 4 đến 5 triệu áo sơ mi.
Mức tăng trưởng bình quân hàng năm 30%, nộp ngân sách tăng từ 10
– 15%/ năm, thu nhập bình quân tăng từ 5 – 10%/ năm.
* Giai đoạn từ 1986 đến nay :
Năm 1986 được xem là một mốc son lịch sử đôi với nền kinh tế
Việt Nam. Từ sự tỏng kết tình hình thực tiễn, phân tích những bài học
thành công và những tồn tại của giai đoạn 1976 – 1985, những nhận
nguồn nhân lực cho phù hợp yêu cầu phát triển của thời kỳ mới.
9
Báo cáo thực tập tổng hợp 9
Khoa Kế hoạch & phát triển
Sau một thời gian nghiên cứu thị trường và củng cố bộ máy nhân
sự, chất lượng sản phẩm của May 10 đã có nhiều bước chuyển biến
tích cực. Xí nghiệp đã ký kết được hợp đồng may xuất khẩu với hai
khách hàng Hàn Quốc, Hà Lan và họ trở thành hai bạn hàng mới của
May 10. Tiếng lành đồn xa, bắt đầu từ các đơn hàng đạt tiêu chuẩn
chất lượng cho phía Hàn Quốc và Hà Lan, May 10 có được nhiều đối
tác lớn như CHLB Đức, Nhật Bản, Bỉ, Đài Loan, Hồng Kông…. Cũng
từ đây sản phẩm áo sơ mi, áo Jackét và nhiều sản phẩm may mặc
khác của May 10 được biết đến nhiều hơn trên thị trường quốc tế.
Để đáp ứng được yêu cầu của thị trường may mặc trong nước và
thế giới, tháng 11/1992, Xí nghiệp May 10 chuyển đổi hình thức tổ
chức, phát triển thanh Công ty cổ phần May 10 với tên giao dịch quốc
tế la “ GRACO 10”.
Năm 1992 – 1993, trong cuộc đua cạnh tranh với các đơn vị kinh
doanh trong nước, Công ty đầu tư, đổi mới trang thiết bị và dây
chuyền công nghệ tiên tiến hơn. Thiết bị máy móc hiện đại chưa đủ
mà điểm mấu chốt là phương pháp và cách thức quản lý để tăng năng
suất lao động . Một lần nữa May 10 tìm cách khắc phục để đi lên bằng
chính nội lực của mình. Công ty đã vận dụng linh hoạt, sang tạo, đồng
bộ các biện pháp:
Mạnh dạn đầu tư chiều sâu.
Bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho công nhân và nghiệp vụ quản
lý cho cán bộ.
Trang bị thêm thiết bị kỹ thuật và công nghệ mới.
Chăm lo đời sống và cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân
viên chức.
ĐDLĐ về MT
ĐDLĐ về CL
GĐ điều hành
GĐ điều hành
P. Kinh doanh
Phòng QA
Tổ kiểm hoá
Tổ quản trị
Trưởng ca A
Phòng kế hoạch
5 xí nghiệp may
Tổ hòm hộp
Trưởng ca B
Văn phòng
Ban đầu tư
Các PX phụ trợ
XN địa phương
Phòng kho vận
Trường đào tạo
Tổ cắt A
Tổ là A
Các tổ cắtmay
12
Báo cáo thực tập tổng hợp 12
Khoa Kế hoạch & phát triển
Các tổ may
Tổ cắt B
Tổ là B
Nguồn: Ban tổ chức hành chính công ty May 10
Phòng kĩ thuật
thiết bị phụ trợ, sửa chữa các công trình xây dựng của Công ty. Là đơn
vị nghiệp vụ về xây dựng cơ bản trực thuộc tổng giám đốc, tham mưu
cho tổng giám đốc về quy hoạch đầu tư phát triển công ty, lập dự án đầu
tư, tổ chức thiết kế, thi công và giám sát thi công các công trình xây
dựng cơ bản, bảo dưỡng duy trì các công trình xây dựng, vật kiến trúc
trong công ty.
* Phòng chất lượng QA: Với số lượng cán bộ công nhân viên là 41.
Chức năng nhiệm vụ: Nghiên cứu, xây dựng hệ thống quản lý, quản
lý chất lượng sản phẩm trong toàn Công ty và các hoạt động đánh giá
của khách hàng.
* Phân xưởng cơ điện: Chức năng nhiệm vụ là quản lý,bảo dưỡng,
sửa chữa thiết bị, chế tạo công cụ, trang thiết bị phụ trợ. Cung cấp năng
lượng, lắp đặt các hệ thống điện, nước, hơi, khí, nén, sản xuất lắp đặt
trang thiết bị phụ trợ…
* Phòng kỹ thuật: Số lượng cán bộ công nhân viên là 48.
Chức năng nhiệm vụ: Nghiên cứu và quản lý công tác kỹ thuật,
công nghệ trong toàn Công ty, thiết kế mặt bằng sản xuấtcủa các Xí
nghiệp; chuẩn bị sản xuất các đơn hang FOB, nội địa và các đơn vị
khác.
* Ban Marketing: nghiên cứu và mở rộng thị trường trong nước và
quốc tế. Xây dựng và phát triển thương hiệu May 10.
15
Báo cáo thực tập tổng hợp 15