THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HÔNG GIAI ĐOẠN 1995 2007
I.Thực trạng hoat động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần may Sông
Hồng
1.Tình hình sản xuất kinh doanh
Để đạt được hiệu quả kinh doanh công ty đa ra những chiến lược để cắt
giảm chi phí tối thiểu và nâng cao năng lực cạnh tranh
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao
động. Để năng cao năng suất lao động công ty đã thực hiện một số chính sách:
đào tạo công nhân có tay nghề cao, chăm lo đến đời sống cán bộ công nhân
viên, tạo động lực cho công nhân viên phát huy khả năng làm việc.Nhân viên
vật tư theo dõi sát từ lúc vật tư bắt đầu về cho đến lúc hàng xuất khỏi nhà máy,
khi có sự cố xảy ra sẽ xử lý kịp thời, phòng kỹ thuật phụ trách vấn đề tính định
mức cấp xưởng cho mỗi sản phẩm. Đối với hàng gia công, khách hàng đã gửi
định mức cho mỗi sản phẩm, nhng nhân viên kỹ thuật phảI tính lại, hàng năm
công ty thu về số lượng không nhỏ giá trị chênh lệch giữa định mức của khách
hàng và định mức công ty tính. Đối với hàng xuất khẩu trực tiếp công ty đã áp
dụng chính sách “ không thừa và không thiếu”, chính sách này có nghĩa nhân
viên kỹ thuật phảI tính định mức cho mỗi sản phẩm đủ để sản xuất, không nhập
thừa hay thiếu vật tư . Điều này đã làm giảm chi phí về nguyên phụ liệu, không
gây lãng phí tạo hiệu quả kinh doanh.
Năng lực cạnh tranh của công ty đã được nâng cao, được thể hiện doanh
nghiệp là một trong mười doanh nghiệp về hàng may mặc trong cả nước, sản
phẩm hàng năm của công ty tăng lên nhanh chóng, năm 2004 tăng 56% so với
năm 2003, tăng 4% năm 2005, tăng 39% năm 2006. Chất lượng sản phẩm cũng
dần được cải tiến, khách hàng trước kia của công ty chỉ là một số khách hàng
quen thuộc, giờ đây thì trường đã được mở rộng sang các nước Châu Âu, Mỹ,
Nhật Bản….Chính những điều này cho thấy năng lực cạnh tranh của công ty
ngày càng được nâng lên.
2 . Tình hình xuất khẩu của công ty
2.1. Các hình thức xuất khẩu của công ty
khó tính và đầy tiềm năng, đòi hỏi công ty phải sản xuất hàng chất lượng cao để
có thể cạnh tranh được với thị trường này .
Đơn vị: USD
Thị trường 2003 2004 2005 2006
Nhật 3.439.632,12 4.732.501,09 5.273.584,74 6.093.019,59
Đài Loan 2.590.084,29 2.485.207,10 2.732.164,97 1.388.251,86
Hàn Quốc 1.495.244 1.229.478,28 5.274.914,48 7.950.354,36
Anh 1.613.126,21 2.114.361,65 2.381.102,81 2.568.270,23
Mỹ 17.429.230,9
5
14.532.985,3
2
17.780.903,9
4
17.892.221,62
Đan Mạch 243.623,05 113.906,47 56.969,20 41.254,80
(Nguồn: Báo cáo xuất khẩu – Phòng xuất nhập khẩu)
2.2.Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của công ty
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của công ty bao gồm một số mặt hàng chủ lực
sau :
- Sản phẩm áo jacket: là một sản phẩm truyền thống, và là sản phẩm chủ lực
của công ty. Mặt hàng này chiếm khoảng 60% sản lượng xuất khẩu, công ty đặt tiêu
chí hàng đầu tư trong lĩnh vực sản xuất áo jacket có chất lượng cao nên sản phẩm này
của công ty rất có uy tín trên thị trường. Vì thế rất nhiều khách hàng khó tính cũng
bằng lòng khi đặt hàng với số lượng áo jacket lớn tại công ty.
- Sản phẩm quần dài và quần short là sản phẩm nhiều hãng nổi tiếng trên
thế giới đặt may tại công ty. Hiện nay công ty cũng đang nỗ lực để tìm kiếm
thêm nhiều đơn hàng hơn nữa đối với sản phẩm này.Sản phẩm này chiếm
khoảng 30% sản lượng xuất khẩu .
- áo vest nữ và váy chiếm khoảng 10% giá trị sản lượng xuất khẩu
Kim ngạch XK 1.746.580 2.730.356 2.845.000 3.965.000 8.031.654
Nguồn: Phòng XNK công ty May Sông Hồng
Tỷ trọng tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu qua các năm được thể hiện qua
bảng so sánh giữa các năm :
Bảng 2 : Tốc độ phát triển xuất khẩu giữa các năm
Năm 2004/2003 2005/2004 2006/2005 2007/2006
So Sánh 156% 104% 139% 203%
Nguồn do tác giả tính toán
Qua bảng tổng hợp kim ngạch xuất khẩu ta có thể thấy kim ngạch xuất
khẩu của công ty tăng lên qua các năm, đặc biệt là sự tăng trưởng của năm 2004
.Kim ngạch xuất khẩu của năm 2004 tăng lên 56% so với năm 2003 nguyên
nhân do năm 2004 có sự thay đổi quan trọng về quy mô của công ty đó là công
ty đã chuyển đổi thành công ty cổ phần với 100% vốn góp của cổ đông. Chính
điều này đã tạo ra những quyết định quan trọng về cơ cấu tổ chức để thay đổi và
mở rộng quy mô sản xuất đẫn đến năng suất lao động được nâng cao làm cho
sản lượng xuất khẩu tăng 56% so với năm 2003. Năm 2005 và 2006 kim ngạch
xuất khẩu tăng đều và ổn định nguyên nhân do năm 2005 công ty tiếp tục mở
rộng quy mô sản xuất là xây dựng thêm xưởng 7.8.9 ở huyện Xuân Trường nên
sản lượng xuất khẩu tăng lên 4% so với năm 2004. Năm 2006 Công ty đã mở
văn phòng đại diện tại Hông Kông với mục tiêu từ việc lo đầu vào mua nguyên
phụ liệu ,tìm đầu ra cho sản phẩm mang thương hiệu Sông Hồng, Năm 2006 là
năm bắt đầu Sông Hồng làm hàng FOB, tức là hàng trực tiếp xuất khẩu, nên sản
lượng xuất khẩu bao gồm hàng gia công và hàng FOB mang lại lợi nhuận cao
cho công ty nên kim ngạch xuất khẩu năm 2006 tăng 39%% so với năm 2005.
Nh vậy có thể nói năm 2004 đánh dấu bước ngoặt quan trọng của công ty làm
tăng sản lượng xuất khẩu một cách đáng kể tạo tiền đề cho công ty phát triển
trong những năm sau .
3. Một số chỉ tiêu tài chính ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu của công ty
3.1.Doanh thu và lợi nhuận xuất khẩu của công ty qua các năm được thể hiện
qua bảng số liệu sau :
thiểu mà doanh nghiệp áp dụng đều tăng qua các năm, mỗi năm tăng thêm
70.000đ. Hiện nay tiền lương tối thiểu là 750.000 nghìn, đây là tiền lương mà
công ty tự xây dựng lên dựa trên cơ sở luật pháp của nhà nước và tình hình phát
triển của công ty. Đây là tiền lương tối thiểu được đánh giá là cao so với các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong cả nước.
Hoạt động kinh doanh của Công ty luôn đem lại hiệu quả kinh tế bền
vững. Công ty luôn bảo toàn nguồn vốn, không để đọng vốn làm tốt nghĩa vụ
nộp ngân sách Nhà nước, luôn luôn bảo đảm hoàn thành kế hoạch đề ra.
Thứ nhất : Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đã đáp ứng được yêu cầu của
khách nước ngoài. Sản phẩm của Công ty ngày càng đa dạng: để đáp ứng nhu
cầu đa dạng của khách hàng Công ty đã học hỏi từ phía khách hàng để đa dạng
hoá hàng gia công. Trước đây Công ty mới chỉ gia công được áo Jacket thì ngày
nay đã có thể gia công quần , quần áo trẻ em, váy……
Thứ hai : Chất lượng các sản phẩm cũng được nâng cao dần, đem lại uy
tín cho Công ty thể hiện qua số lượng hợp đồng ngày càng gia tăng, thị trường
xuất khẩu mở rộng .
Thứ ba : Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty hoạt động ngày càng đem
lại hiệu quả cao, cơ chế quản lý đó đã tạo được nhiều cơ hội cho mỗi nhiều làm
việc có chất lượng hơn, phát huy hết khả năng, kinh nghiệm của bản thân cho sự
phát triển của Công ty.
Thứ t : Đội ngũ cán bộ của công ty đã không ngừng nâng cao trình độ
tay nghề, kỹ thuật, trình độ quản lý doanh nghiệp để nắm bắt kịp với sự thay đổi
nhanh chóng của thị trường quốc tế nói chung và trong nước nói riêng.
Thứ năm : Công ty đã không ngừng đổi mới trang thiết bị máy móc, tiến
hành sắp xếp lại bộ máy quản lý và chỉ huy sản xuất với mục tiêu “Đúng người,
đúng việc”, tiến hành sắp xếp lại phân xưởng may, đầu tư cải tạo lại nhà xưởng,
khu làm việc, trang bị nhiều dụng cụ cần thiết để phục vụ quản lý sản xuất. Từ
đó tăng năng suất lao động, cải tiến mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng sản
phẩm, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng.
• Thứ sáu : Công ty đã từng bước khắc phục được cách làm việc
Mức tăng trưởng của hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ mạnh
đến mức có một số nhóm vận động hành lang để Quốc hội Mỹ ban hành qui chế
kiểm soát mới (từ năm 2003, Oasinhtơn đã áp dụng qui chế hạn ngạch mới đối
với hàng dệt may của Việt Nam). Trong khi đó, các nhóm kinh doanh Mỹ khác,
như Hiệp Hội Dệt May Quốc gia (NTA) có trụ sở ở Boston, công khai ủng hộ
việc bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam khi quốc gia này trở
thành thành viên WTO vào cuối năm nay. Theo ông Karl Spilhous, Chủ tịch
Hiệp hội NTA, chủ trương tìm kiếm cơ chế để đảm bảo điều đó thông qua khả
năng vận dụng quy định tạm thời của WTO cho phép kiểm soát từng mặt hàng
nhập khẩu cụ thể nếu gây thiệt hại cho sản xuất nội địa của một quốc gia.
2.T ừ 2003-2006
Trong quý I/2003, tổng kim ngạch xu t khẩu của ngành dệt, may là 850
triệu USD thì riêng thị trường Mỹ đạt 530 triệu USD, chiếm khoảng 2/3 tổng
kim ngạch của tất cả các mặt hàng xuất khẩu vào Mỹ. Tuy nhiên, lãnh đạo một
số bộ, ngành đưa ra khuyến cáo cho các doanh nghiệp Việt Nam khi bước vào
sân chơi Mỹ thì phải nắm vững luật pháp nước Mỹ và phải ềchơiể theo kiểu
Mỹ. Ðây là thị trường tràn ngập cơ hội kinh doanh nhưng cũng đầy cam go,
cạnh tranh khốc liệt...Nhiều bất lợi cho cả hai bên.Bộ Thương mại cho biết, kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt, may của Việt Nam vào thị trường Mỹ chỉ chiếm một
phần rất nhỏ bé so với tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt, may của Mỹ
(khoảng 1,6%). Vì thế, kể từ khi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ được ký kết,
hầu hết các doanh nghiệp ngành dệt, may Việt Nam đều tranh thủ đổi mới thiết
bị công nghệ, cải tiến mẫu mã, xây dựng chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn
quốc tế ... nhằm chiếm lĩnh thị trường Mỹ còn đầy tiềm năng.Sản phẩm của một
số doanh nghiệp như: Công ty may Việt Tiến, Công ty may Nhà Bè, Công ty
dệt Phong Phú, Công ty dệt Phước Long, Công ty may Phương Ðông ... bước
đầu đã chinh phục được nhiều khách hàng châu Âu và Mỹ. Một tin vui cho
ngành dệt, may là Liên minh châu Âu (EU) vừa đồng ý tăng hạn ngạch cho một
số sản phẩm dệt, may của Việt Nam và Chính phủ Mỹ cũng đồng ý dành cho
Việt Nam hạn ngạch 1,7 tỷ USD hàng dệt, may xuất khẩu vào thị trường Mỹ