THIẾT LẬP CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DNNQD Ở NƯỚC TA - Pdf 75

THIẾT LẬP CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DNNQD Ở
NƯỚC TA
3.1. Những quan điểm cần quán triệt trong việc thiết lập cơ chế quản lý tài
chính đối với khu vực kinh tế NQD:
Trước khi bắt đầu công tác xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính
cho các DNNQD, chúng ta cần quán triệt một số quan điểm chung nhằm thống
nhất về mặt ý chí, quan điểm và đường lối tiến hành như sau:
Thứ nhất, phải thừa nhận đây là một vấn đề bức xúc, quan trọng và mang
tính cấp bách trong quá trình đổi mới, cải tiến và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế ở
nước ta hiện nay. Là nhiệm vụ mà những người hoạch định chính sách phải làm và
phải làm ngay khi mà những vận hội và thách thức mới đang đón đợi chúng ta
trong quá trình cải cách nền kinh tế, trong điều kiện tiến trình hội nhập đang mỗi
lúc một khẩn trương hơn.
Thứ hai, một cơ chế quản lý tài chính mới không có nghĩa là phải phủ nhận
hoàn toàn cái cũ, những thành quả đạt được trong thời gian qua mà nó phải mang
tính kế thừa và phát huy trên cơ sở những gì đã có, trên công sức của những thế hệ
trước đã xây dựng. Chúng ta cần coi đây như là một bước tiến hoá, một sự vận
động tất yếu khách quan trong công tác quản lý kinh tế nói riêng và cả của nền
kinh tế nước ta nói riêng, nhất là trong thời kì tích cực cải cách cơ chế, cải cách
kinh tế hiện nay.
Thứ ba, một cơ chế mới chắc chắn phải mang tính thống nhất và đồng bộ
cao, một mặt được sự ủng hộ của các doanh nghiệp, một mặt phải đảm bảo cho các
doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, tháo gỡ và giải quyết về cơ bản những vấn
đề đã tồn tại trong cơ chế cũ. Qua đó, đạt mục đích cuối cùng là nâng cao đóng góp
của khu vực kinh tế NQD vào sự phát triển kinh tế của đất nước mà cụ thể là nâng
cao phần đóng góp vào ngân sách nhà nước.
Thứ tư, cơ chế mới đảm bảo môi trường bình đẳng, đúng mực trong hoạt
động của các doanh nghiệp NQD, phù hợp với những đặc điểm đặc thù của nền sản
xuất trong nước, kết hợp và tận dụng tối đa mọi tiềm năng sẵn có cũng như huy
động từ bên ngoài của nền kinh tế đất nước.
Cuối cùng và cũng tất yếu, đó là đảm bảo tính quản lý chặt chẽ, có hệ thống

khẳng định sự khác biệt giữa công tác quản lý tài chính doanh nghiệp và việc xác
định nghĩa vụ nộp thuế nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp NQD tiếp cận với
những nội dung về quản lý tài chính doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế. Căn cứ
trên những tác dụng mục đích và các yêu cầu nêu trên, một Nghị định như vậy đã
và đang được Chính phủ chỉ đạo Bộ tài chính và các bộ ngành có liên quan thực
hiện. Trong đó, chú ý vào các nội dung sau đây:
3.2.1. Quản lý vốn và tài sản:
Vốn của doanh nghiệp gồm vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp và vốn huy
động. Đối với những ngành nghề pháp luật có quy định về vốn pháp định thì vốn
thực tế của doanh nghiệp không được thấp hơn mức vốn pháp định. Việc xác định
giá trị của phần vốn góp giữa các thành viên được thực hiện theo nguyên tắc
thương lượng nhất trí trong nội bộ các thành viên của doanh nghiệp theo những
quy định hiện có của pháp luật (ví dụ như Điều 23 Luật doanh nghiệp) và có sự
chứng kiến, trọng tài của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Doanh nghiệp tất nhiên được phép thay đổi vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư của
chủ sở hữu doanh nghiệp, nhưng việc thay đổi này phải thực hiện theo trình tự và
quy định của Pháp luật. Các vấn đề cụ thể xung quanh quy định này bao gồm thời
gian đăng ký thay đổi vốn, giới hạn về vốn pháp định, và công bố ra đại chúng về
việc thay đổi vốn của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được sử dụng mọi hình thức huy động vốn để phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
*Công ty TNHH được sử dụng các hình thức sau:
a) Vay vốn từ các tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước
b) Phát hành trái phiếu công ty
c) Vay cá nhân trong và ngoài công ty
d) Vay của các tổ chức cá nhân nước ngoài theo các quy định pháp
luật
Hội đồng thành viên được quyết định thời điểm, phương thức mức vốn huy
động. Công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu
*Công ty cổ phần được huy động theo các cách thức sau:

liên doanh phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp giá tài sản cố định của doanh nghiệp có sự thay đổi, doanh
nghiệp được đề nghị cơ quan đăng kí kinh doanh chỉ định tổ chức có thẩm quyền
thực hiện việc đánh giá lại tài sản cố định của doanh nghiệp, nhưng không được
thay đổi tỷ lệ vốn góp ban đầu. Giá tài sản cố định phải được xác định dựa trên cơ
sở giá trị thị trường tại thời điểm đánh giá lại.
Tổn thất tài sản của doanh nghiệp là sự mất mát, hư hỏng tài sản của doanh
nghiệp do các nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra
- Doanh nghiệp phải xácđịnh rõ nguyên nhân gây tổn thất tài sản, giá
trị tổn thất và có phương án xử lý cụ thể.
- Đối với những tổn thất do nguyên nhân chủ quan, doanh nghiệp cần
phải xác định mức độ thiệt hại và trách nhiệm của những người có liên quan để
buộc đền bù thiệt hại
- Đối với tổn thất do nguyên nhân khách quan, Hội đồng quản trị, Hội
đồng thành viên hoặc giám đốc ( đối với doanh nghiệp không có hội đồng quản trị,
Hội đồng thành viên) phải lập phương án xử lý cụ thể.
Doanh nghiệp có quyền chủ động nhượng bán thanh lý tài sản thuộc sở hữu
của doanh nghiệp, chênh lệch giữa số tiền thu được do nhượng bán thanh lý tài sản
với giá trị còn lại của tài sản nhượng bán thanh lý và chi phí nhượng bán thanh lý
tài sản được hạch toán vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
3.2.2. Quản lý doanh thu chi phí:
Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh
doanh, gia công và doanh thu từ các hoạt động khác.
- Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và gia công bao gồm:
a) Toàn bộ số tiền doanh nghiệp thu về từ việc bán hàng hoá, dịch vụ
và tiền gia công sau khi đã trừ đi các khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng
bán và hàng bán bị trả lại.
b) Thu từ phần trợ của Nhà nước khi thực hiện việc cung cấp hàng
hoá, dịch vụ theo đơn đặt hàng của Nhà nước.
c) Giá trị các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đem biếu tặng, cho hoặc

g) Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các chi phí trả cho tổ chức, cá nhân ngoài
doanh nghiệp về các hàng hoá, dịch vụ được cung cấp như : tiền bốc vác, vận
chuyển, chi phí điện nước, điện thoại, chi phí thuê sữa chữa tài sản cố định, tư vấn,
kiểm toán, quảng cáo, bảo hiểm tài sản, đại lý, môi giới uỷ thác xuất nhập khẩu,
chi trả tiền thuê tài sản cố định và các dịch vụ khác.
h) Chi phí bằng tiền khác bao gồm: Các khoản thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất
phải nộp có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ (trừ thuế thu
nhập doanh nghiệp); chi tiếp tân, khánh tiết, giao dịch, đối ngoại; chi bảo hộ lao
động trả lãi ngân hàng.
i) Các khoản chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh khác bao gồm: dự phòng
giảm giá hàng tồn kho, dự phòng phải thu khó đòi; Trợ cấp thôi việc cho người lao
động theo quy định; chi phí cho thuê tài sản; chi cho công tác bảo vệ môi trường,
chi bảo hành sản phẩm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status