MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TỈNH PHÚ THỌ - Pdf 75

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
Ở TỈNH PHÚ THỌ
I. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG, MỤC TIÊU CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
1. Một số quan điểm chủ đạo:
1.1. Nâng cao vai trò đào tạo nghề.
- Phải thực sự coi đào tạo nghề là một nhiệm vụ trọng tâm trong việc phát
triển nguồn nhân lực, đồng thời coi đào tạo nghề cũng là nâng cao dân trí, bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước. Đào tạo nghề phải được tăng nhanh cả về quy mô,
chất lượng, hiệu quả và tạo ra cơ cấu lao động hợp lý hơn cho thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Phát triển đào tạo nghề phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, gắn với nhu cầu phát triển của các ngành
kinh tế, các vùng kinh tế, vùng dân cư, với từng địa phương, gắn với thị trường sức
lao động theo quan hệ cung cầu.
- Nhà nước thống nhất quản lý về mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo
nghề, quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống trường và trung tâm dạy nghề, cấp
phát bằng, chứng chỉ, định hướng và hướng dẫn đối với các cơ sở dạy nghề quy mô
nhỏ.
1.2. Xã hội hoá đào tạo nghề.
- Thực hiện xã hội hoá đào tạo nghề nhằm thu hút mọi nguồn nhân lực trong
và ngoài tỉnh cho các hoạt động đào tạo nghề. Khuyến khích mọi thành phần kinh
tế tham gia đào tạo nghề và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người lao động có cơ
hội học nghề, tìm kiếm việc làm. Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, loại hình
trường lớp. Người học nghề và người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng
góp theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.
- Bên cạnh việc thực hiện công bằng xã hội trong đào tạo nghề, đáp ứng yêu
cầu đào tạo cho đông đảo người lao động, cần đầu tư có trọng điểm để tạo nên một
bộ phận đào tạo nghề chất lượng cao làm chuẩn mực và đẻ đào tạo tđội ngũ công
nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có khả năng tham gia cạnh tranh trong thị
trường lao động trong nước.
- Song song với việc đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động công nghiệp và
dịch vụ, phải coi trọng và tăng cường lãnh đạo nghề cho lao động nông thôn mà

pháp, ngoại ngữ, tin học.....
3. Mục tiêu đào tạo nghề :
Đào tạo phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề đảm bảo nguồn nhân lực phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của tỉnh. Do đó phải mở rộng quy mô và
nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo dạy nghề. Phải hết sức coi
trọng và bồi dưỡng lực lượng lao động giỏi, có trình độ kỹ năng nghề nghiệp tạo
sản phẩm có chất lượng cao, đủ sức quản lý và vận hành nền kinh tế, thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà quy hoạch tổng thể đến năm 2010 của tỉnh đề
ra.
3.1 Mục tiêu tổng quát :
- Tạo môi trường thuận lợi để người lao động có cơ hội lựa chọn ngành
nghề, phát huy được năng lực sở trường của người lao động. Đào tạo đội ngũ cán
bộ, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ theo tinh thần Nghị quyết 05/NQ-TW
của Ban thường vụ tỉnh uỷ về đào tạo phát triển nguồn nhân lực đến năm 2010.
- Công tác đào tạo dạy nghề phải tạo ra đội ngũ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung, đặc biệt là ở nông
thôn và đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá của tỉnh. Cung cấp
ngày càng nhiều lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, ngoại ngữ, tin học,
quản lý cho lĩnh vực hợp tác quốc tế về lao động, cho các công ty liên doanh, cho
các khu công nghiệp tập trung. Nâng dần cơ cấu số lượng, chất lượng nguồn nhân
lực của tỉnh đến năm 2010 tiến tới cơ cấu : 1 đại học - 4 trung học - 10 công nhân
kỹ thuật và đạt tiêu chuẩn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật của tỉnh từ 35
- 38% so với tổng nguồn lao động.
3.2 Mục tiêu cụ thể từng giai đoạn :
Trong giai đoạn 1997 - 2000 song song với việc đào tạo đáp ứng nhu cầu lao
động cho các ngành đồng thời chú trọng đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật cho
nông lâm nghiệp. Trong giai đoạn này đã đào tạo mới 25 ngành lao động, bình
quân mỗi năm khoảng 8 ngàn người (dạy nghề chính quy 4 ngàn) . Đưa tỷ lệ lao
động qua đào tạo từ 16% năm 1997 lên 20% năm 2000.

với các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh. Tuy nhiên, trong những năm trước mắt tỉnh
cần tập trung giải quyết một số vấn đề chủ yếu sau:
1. Cần nhanh chóng sắp xếp, bố trí các cơ sở đào tạo nghề.
Để làm được việc này, trước hết cần tiến hành khẩn trương một số công
việc:
- Rà soát lại điều kiện và khả năng của từng trường (kể cả công lập và dân
lập) trên tất cả các phương tiện, trong đó đặc biệt chú trọng đến các vấn để:
+ Mặt bằng của nhà trường
+ Hệ thống phòng học và các thiết bị phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu.
+ Hệ thống các cơ sở làm việc của cán bộ giáo viên.
+ Số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên.
+ Hệ thống thư viện, thông tin tư liệu
+ Hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, nghiên cứu học
tập của giáo viên và học sinh...
Từ sự phân tích đó tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của từng trường, từng cơ sở
đào tạo nghề để có hướng xử lý cho phù hợp.
- Thông qua việc điều tra xã hội học đối với số học viên đã tốt nghiệp ra
trường cũng như đối với các cơ quan, đơn vị sử dụng số họcviên do các trường đào
tạo ra để đánh giá một cách thực chất chất lượng đào tạo của các trường trong thời
gian vừa qua. Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các trường và
trung tâm đào tạo phù hợp với yêu cầu của tỉnh.
Việc bố trí, sắp xếp lại hệ thống các trường rất phức tạp, bởi lẽ nó đụng
chạm đến nhiều vấn đề lớn như:
+ Đất đai để xây dựng trường sở.
+ Tài chính để xây dựng trường, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho việc
dạy và học.
+ Việc làm của cán bộ, giáo viên, vị trí của mỗi con người trong các trường
và thu nhập của họ.
Do đó, không thể tiến hành sắp xếp một cách ồ ạt bằng các mệnh lệnh hành
chính đơn thuần, mà phải có sự lựa chọn, làm thử để rút kinh nghiệm, làm từ thấp

đẳng tạo cơ hội cho mọi người có mong muốn học tập nghề.
2. Xây dựng đội ngũ giáo viên đào tạo nghề:
Giáo viên là nhân tố quyết định đến chất lượng đào tạo, việc xây dựng đội
ngũ giáo viên dạy nghề là quá trình liên tục, phải được tiến hành thường xuyên.
2.1. Đáp ứng yêu cầu về số lượng giáo viên.
Phải có kế hoạch dự báo nhu cầu giáo viên ở từng huyện, từng vùng.. để tỉnh
có định hướng trước nhu cầu tuyển sinh ở từng trường, từng môn cũng như có sự
cân đối ở tầm vĩ mô bảo đảm đủ số lượng giáo viên trước từng năm học. Đa dạng
hoá hình thức đào tạo - bồi dưỡng giáo viên một cách có hiệu quả, kết hợp hợp lý
giữa đào tạo chính quy và đào tạo tại chức.
Cần phải có chỉ tiêu đào tạo đội ngũ giáo viên theo địa chỉ (ngành, vùng,
huyện) dựa trên quy hoạch tổng thể của sự phát triển giáo dục theo từng giai đoạn.
Kết hợp giải pháp cơ bản lâu dài với giải pháp tình thế, nhất thời (ký hợp
đồng với những giáo viên nghỉ hưu có trình độ chuyên môn cao, có tâm huyết nghề
nghiệp tiếp tục giảng dạy...). Có chính sách , chế độ bổ nhiệm và phân phối đồng
bộ sao cho đội ngũ giáo viên có thể hoàn thành được nhiệm vụ dạy học đúng với
chuyên môn đào tạo của mình.
Tiến hành đánh giá phân loại đội ngũ giáo viên, giảm số cán bộ hành chính
để tăng thêm cán bộ giảng dạy có trình độ và đảm bảo cơ cấu, chủng loại đáp ứng
yêu cầu đào tạo nghề trong hiện tại và tương lai.
2.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.
Đòi hỏi cần quan tâm đồng bộ từ tuyển chọn - đào tạo trong các trường sư
phạm - đẩy mạnh công tác bồi dưỡng giáo viên thường xuyên trong các trường đào
tạo. Giáo viên dạy nghề phải có trình độ chuyên môn, thành thạo về thực hành để
có thể dạy lý thuyết kết hợp với thực hành. Bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho giáo
viên là nhiệm vụ thường xuyên, có như thế việc dạy nghề mới đảm bảo chất lượng.
Về công nghệ mới, hướng bồi dưỡng công nghệ mới cho giáo viên tập trung
vào những công nghệ đã và sẽ áp dụng vào địa phương, trang thiết bị hiện đại, vật
liệu mới trong các ngành công nghiệp. Các trường, cơ sở dạy nghề cần chủ động
phối hợp với các cơ sở sản xuất để đào tạo, mở các lớp bồi dưỡng về công nghệ

Đội ngũ giáo viên, cho dù ở bậc học nào, họ là người đại diện cho trí tuệ của
dân tộc. Do đó, về nguyên tắc họ phải được xã hội trân trọng. Sự trân trọng ở đây
không phải chỉ trên phương diện tinh thần là được xã hội tôn vinh mà còn phải
được trân trọng trong phân phối và thụ hưởng các quyền lợi vật chất, trước mắt là
chế độ tiền lương.
Hệ thống tiền lương của chúng ta hiện nay còn nhiều bất cập. tiền lương của
chúng ta không đủ nuôi sống bản thân người giáo viên chứ chưa nói gì đến chuyện
nuôi sống gia đình họ. hệ thống tiền lương củachúng ta đã làm cho đội ngũ cán bộ
không toàn tâm, toàn ý với công việc mà họ gánh vác. Song nó lại là cơ sở đẻ ra
nhiều tiêu cực trong xã hội. Trong tình hình chung đó, đội ngũ giáo viên là những
người có mức thu nhập thấp và có cuộc sống đạm bạc nhất trong hệ thống viên
chức Nhà nước. Chính vì thế mà các hiện tượng tiêu cực cũng đã xâm nhập và phát
triển khá mạnh mẽ trong hệ thống giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề
nói riêng.
- Tiền lương chưa khuyến khích người ta làm việc theo khả năng và cũng
chưa khuyến khích người tài giỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status