Đánh giá thực trạng chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ tại khoa ngoại tổng hợp bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ năm 2017 - Pdf 75

BỘ Y TẾ
TRƯỜ
ỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÙI THỊ LAN PHƯƠNG

Đánh giá thựcc trạng
tr
chăm sóc người bệnh
nh sau
phẫu thuật sỏ
ỏi ống mật chủ tại khoa n
ngoại
Tổng hợp bệnh
nh viện
vi Đa khoa tỉnh
nh Phú Th
Thọ
năm 2017

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TỐT NGHIỆP
P ĐIỀU
ĐI DƯỠNG CHUYÊN KHOA CẤP I

NAM ĐỊNH - 2017
1


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

63,8%. (7)
Sỏi ống mật chủ trường hợp không gây tắc, nhiễm trùng sẽ khơng có triệu chứng,
tuy nhiên khi bị tắc và gây nhiễm trùng thường rất nặng nề nếu khơng được điều trị kịp
thời dễ có những biến chứng có thể gây tử vong.
Hiện nay phương pháp điều trị sỏi ống mật chủ chủ yếu là phẫu thuật như lấy sỏi
qua phẫu thuật nội soi ổ bụng, phẫu thuât nội soi mở ống mật chủ lấy sỏi…
Phương pháp mở ống mật chủ lấy sỏi – đặt dẫn lưu Kehr là phẫu thuật kinh điển đã
áp dụng hơn một thế kỷ qua với những kết quả khả quan nhằm mục đích lấy hết sỏi
đường mật, tạo lưu thơng tốt cho mật ruột. Trong thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện
nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của phẫu thuật nội soi, phẫu thuật ít xâm hại đã
được áp dụng nhiều trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Phương pháp này có ưu điểm là
lấy được sỏi cho mọi đối tượng, an tồn và khơng cần trang thiết bị hiện đại. Tuy nhiên
phương pháp này vẫn cịn có các nhược điểm là hậu phẫu nặng nề và đường mổ dài, có
nguy cơ dính ruột cao. Kết quả phẫu thuật phụ thuộc rất nhiều vào công tác kỹ thuật, chỉ
định cũng như chăm sóc người bệnh….Đặc biệt là cơng tác chăm sóc người bệnh sau
3


phẫu thuật đóng vai trị rất quan trọng trong cuộc phẫu thuật. Trong những ngày đầu nếu
khơng chăm sóc tốt sẽ xảy ra các biến chứng chiếm tỷ lệ 8-16% như: chảy máu đường
mật, tắc mật, viêm tụy..., người bệnh khi ra viện thường phải mang theo Kehrdẫn lưu mật.
Nếu người bệnh khơng được chăm sóc tốt có để lại di chứng khó hồi phục, ảnh hưởng đến
chất lượng cuộc sống của người bệnh, chính vì vậy để đóng góp vào sự thành cơng của
q trình điều trị người điều dưỡng cần phải có kiến thức để chăm sóc người bệnh thực
hành về quy trình chăm sóc người bệnh.
Về triệu chứng, phương pháp điều trịbệnh đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến.
Tuy nhiên nghiên cứu về công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật sỏi ống mật
chủcịn được ít đề cập. Chính vì vậy tơi tiến hành chun đề: “ Đánh giá thực trạng
chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ tại khoa ngoại Tổng hợp bệnh
viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2017”.

Gan được
ợc cung cấp máu bởi hai mạch chính ở thùy
th phải: động
ộng mạch gan và tĩnh
mạch cửa (tĩnh
ĩnh mạch gánh). Động mạch gan thường
th
bắt nguồn từ động
ộng mạch thân tạng
tạng.
Tĩnh mạch cửa dẫn lưu
ưu máu từ
t lách, tụy và tiểu tràng nhờ đó màà gan có th
thể tiếp cận được
nguồn dinh dưỡng cũng
ũng như
nh các sản phẩm phụ của quá trình
ình tiêu hóa th
thức ăn. Các tĩnh
mạch gan dẫn lưu máu từ
ừ gan và
v đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới.
1.2. Đường mật
Được
ợc cấu tạo bởi các tiểu quản mật. Các tiểu quản này sẽẽ hội llưu với nhau tạo
thành ống mật. Các ống mật sẽ đổ về ống gan trái hoặc ống gan phải. Hai ống gan nnày
cuối cùng sẽ hợp nhất thành
ành ống gan chung. Ống cổ túi mật nối túi m
mật vào ống gan
chung và hình thành ống mật chủ.

Cấu trúc thành phần của sỏi là cholesterol và sỏi sắc tố mật. Tính chất của sỏi ống
mật chủ thường là có màu nâu đen, mềm dễ mủn nát.

Hình 2 :Sỏi đường mật trong gan(Nguồn http://soimat.vn/bai-viet/thong-tinbenh/soi-duong-mat-trong-gan---dieu-tri-kho-hay-de.html)

3. Nguyên nhân:
Sỏi ống mật chủ ở Việt Nam được tạo thành thường có hai nguyên nhân cần lưu ý:
6


- Nhiễm ký sinh trùng đường mật, giun đũa từ ruột chui lên đường mật, trứng giun hay
xác giun làm nòng cốt rồi sắc tố mật, Canxi Bilrubinat bám vào, cùng với sự ứ đọng của
các tế bào niêm mạc đường ruột hoại tử bong ra là cơ sở hình thành sỏi ở ống mật chủ và
ở trong gan.
- Nhiễm khuẩn: các vi khuẩn chủ yếu theo giun từ ruột chui lên đường mật gây viêm
nhiễm, làm đường mật giãn to và ứ mật. Thành niêm mạc chui lên đường mật gây viêm
nhiễm và phù nề. Tế bào thành ống mật bị hoại tử bong ra hòa vào mật, các muối canxi
cùng các tổ chức hoại tử và mật kết tủa tạo thành sỏi hay bùn mật. Yếu tố ảnh hưởng đến
việc tạo sỏi ống mật chủ.
4 . Yếu tố ảnh hưởng đến tạo sỏi ống mật chủ
Ngoài hai chất chính cholesterol gây sỏi cholesterol và sắc tố bilirubin gây sỏi
đường mật có một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo sỏi mật nhất là sỏi mật choleterol
như:
- Mập phì: là nguy cơ đáng ngại cho sỏi mật nhất là phụ nữ. Người ta giả định rằng mập
phì có khuynh hướng làm giảm số lượng muối mật bài tiết, do đó cũng làm tăng hàm
lượng cholesterol. Mập phì cũng làm giảm sự tổng xuất túi mật.
- Estrogen: lượng estrogen thặng dư do thai nghén, do uống thuốc kích thích tố, hay do
uống thuốc ngừa thai cũng được giả định làm tăng lượng cholesterol trong máu và làm
giảm chuyển động của túi mật. Cả hai điều kiện này đều dễ gây nên sỏi mật.
- Chủng tộc: người Mỹ thổ dân trong cơ thể chứa di thể có khuynh hướng làm tiết nhiều

- Điểm đau: ấn điểm túi mật, điểm cạnh ức đau.
5.3. Triệu chứng toàn thân:
- Trong trường hợp nhẹ: biểu hiện tồn thân khơng có gì thay đổi.
- Khi sỏi mật đã gây biến chứng có biểu hiện nhiễm trùng, nhiễm độc: mơi khơ, lưỡi bẩn,
hơi thở hôi, người mệt mỏi, chán ăn, da vàng sạm, đái ít, vết ngứa trên da.
- Trong trường hợp nặng: hôn mê gan, hôn mê do ure huyết cao.
5.4. Triệu chứng cận lâm sàng:
- Xét nghiệm máu: Bilirrubin tăng, Phosphataza kiềm tăng, thời gian Quick tăng, Urê
tăng, Transminaza (SGOT) tăng, Prothrombin giảm làm cho thời gian đông máu kéo dài.
- Xét nghiệm nước tiểu : có nhiều sắc tố mật và muối mật.
- X quang:
8


+ Chụp bụng khơng chuẩn bị thấy bóng gan, bóng túi mật to.
+ Chụp đường mật qua da, chụp đường mật ngược dòng qua soi tá tràng xác định số
lượng sỏi, vị trí sỏi.
Siêu âm, chụp CT Scanner: xác định số lượng, vị trí sỏi, hình sỏi.

Hình 3 : Vị trí sỏi ống mật chủ (Nguồn http://giaothonghospital.vn/hoat-dong-cua-benhvien/de-tai-khoa-hoc-phau-thuat-noi-soi-mo-ong-mat-chu-lay-soi-29.htm)
6.Biến chứng:
- Thấm mật phúc mạc: do thành ống mật chủ giãn, túi mật căng to làm thành túi mỏng,
nước mật đem theo cả vi khuẩn thấm vào ổ bụng.
- Viêm phúc mạc mật: vi khuẩn ở nước dịch mật vào ổ bụng gây viêm phúc mạc.
- Viêm đường mật có mủ và áp xe gan đường mật: tắc mật gây ứ đọng mật và nhiễm
khuẩn, trên mặt gan có nhiều ổ áp xe nhỏ rải rác, mủ thối, vi khuẩn thường gặp là Ecoli,
trực khuẩn mủ xanh.
- Viêm mủ túi mật hoại tử: thủng túi mật các tạng xung quanh hoặc mạc nối dính chặt tạo
thành đám cứng ở hạ sườn phải, hoặc bục ra gây viêm phúc mạc.
- Chảy máu đường mật: do áp xe hoại tử nhu mô gan làm cho các nhánh động mạch hoặc

- Cơ năng:
+ Nhận định tư thế người bệnh sau phẫu thuật?
+ Dấu hiệu sinh tồn.
+ Các ống dẫn lưu: dẫn lưu Kehr, dẫn lưu ổ phúc mạc, sonde dạ dày?
+ Nhận định tiểu tiện: xem có chảy máu (sau vết mổ hay chảy máu do chức năng gan
kém)? Có nhiễm khuẩn khơng?
+ Nhận định tiểu tiện: xem nước tiểu có vàng sẫm khơng?
+ Nhận định về trung, đại tiện, vận động, dinh dưỡng?
+ Nhận định các biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật.
10


8.2. Chẩn đốn và can thiệp điều dưỡng
Người bệnh khơng nằm đúng tư thế sau phẫu thuật.
Mục tiêu: Người bệnh nằm đúng tư thế sau phẫu thuật
 Tư thế nằm của người bệnh:
+ Khi người bệnh chưa tỉnh: cho nằm ngửa đầu tối đa.
+ Khi người bệnh tỉnh: cho nằm tư thế Fowler, nghiêng về phía có ống dẫn lưu.
Biến loạn dấu hiệu sinh tồn do nguy cơ chảy máu sau phẫu thuật.
Mục tiêu: Người bệnh ổn định dấu hiệu sinh tồn sau phẫu thuật.
 Chăm sóc dấu hiệu sinh tồn.
Tùy theo tình trạng người bệnh, giai đoạn bệnh, tùy vào loại phẫu thuật người điều
dưỡng theo dõi dấu hiệu sinh tồn trong ngày đầu 30 phút hay 60 phút/lần và thời gian theo
dõi có thể 12 giờ hay 24 giờ sau phẫu thuật. Những ngày tiếp theo nếu dấu hiệu sinh tồn
bình thường theo dõi ngày 2 lần.
+ Chăm sóc về hơ hấp: ln ln giữ thơng đường thở bằng cách đặt Canuyn-Mayo đề
phòng tụt lưỡi, hút đờm dãi (nếu có), cho người bệnh nằm nghiêng đầu về một bên tránh
chất nôn trào ngược vào đường hô hấp. Theo dõi người bệnh thở đều hay không đều, theo
dõi biến chứng ngạt bằng cách theo dõi số lần thở/1 phút, biên độ thở. Nếu số lần thở ≥
30 lần/phút hoặc ≤ 15 lần/phút thì phải báo lại với thầy thuốc. Theo dõi liệt cơ hô hấp do

sonde.
 Chăm sóc ống dẫn lưu ống mật chủ (ống Kehr), các ống dẫn lưu khác, sonde
dạ dày...
- Chăm sóc ống dẫn lưu Kehr: Đặt ống dẫn lưu Kehr nhằm mục đích: dẫn lưu tiếp dịch
mật nhiễm khuẩn, bảo đảm vết khâu ở ống mật chủ, tránh biến chứng để mật chảy vào ổ
bụng, chụp kiểm tra đường mật xem có cịn sỏi sót hay khơng?
Cách theo dõi ống Kehr:
+ Ống Kehr phải nối với một ống vô trùng đưa vào một chai vô khuẩn hoặc túi vô khuẩn
để thấp hơn vị trí ống mật.
+ Theo dõi nước mật: thường 03 ngày đầu người bệnh chưa có nhu động ruột lượng nước
mật chảy qua Kehr khoảng 300 - 500ml/ngày. Khi có nhu động ruột lượng mật giảm dần.
Lúc đầu nước mật còn bẩn, nhiều bùn mật hoặc máu, mủ; ở những ngày sau nước mật có
màu vàng trong. Đối với trường hợp có nhiều bùn mật cần bơm rửa Kehr để tránh tắc.
12


+ Bơm rửa đường mật: bằng huyết thanh mặn đẳng trương ấm, bơm với áp lực nhẹ.
Rút ống dẫn lưu Kehr:
+ Kehr để từ 12 – 15 ngày sau phẫu thuật.
+ Chỉ được rút khi có chỉ định của bác sỹ.
+ Rút Kehr khi đường mật thông.
Phương pháp kiểm tra đường mật thông:
+ Trước khi rút cần chụp đường mật qua Kehr bằng chất cản quang xem đường mật thông
không?
+ Kẹp Kehr thử 24 - 48 giờ: nếu người bệnh không đau, không sốt vùng hạ sườn phải là
tốt.
- Chăm sóc ống dẫn lưu khác, sonde dạ dày, sonde niệu đạo- bàng quang:
Các ống dẫn lưu phải được nối xuống túi vơ khuẩn hoặc chai vơ khuẩn có đựng
dung dịch sát khuẩn, để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng. Cho người bệnh nằm nghiêng về
bên có ống dẫn lưu để dịch thoát ra được dễ dàng, tránh làm gập, tắc ống dẫn lưu. Theo

Người bệnh thiếu hụt dinh dưỡng do ăn kém.
Mục tiêu: người bệnhđảm bảo dinh dưỡng tốt.
 Chăm sóc dinh dưỡng:
Đối với trường hợp người bệnh chưa có trung tiện cần đảm bảo dinh dưỡng bằng
truyền dịch, đạm hoặc truyền máu để tránh suy kiệt. Khi người bệnh đã trung tiện được
cần cho ăn thức ăn nhẹ, dễ tiêu. Hạn chế mỡ nếu người bệnh có kèm theo cắt túi mật.
Người bệnh vệ sinh không tốt do không tự vệ sinh được.
Mục tiêu: người bệnh vệ sinh cá nhân tốt.
 Chăm sóc vệ sinh:Hướng dẫn người bệnh/người nhà vệ sinh cá nhân, vệ sinh
thân thể hàng ngày, thay ga trải giường.
Người bệnh thiếu kiến thức về bệnh
Mục tiêu: người bệnh có kiến thức để tự chăm sóc bản thân.
 Giáo dục sức khỏe cho người bệnh.
Hướng dẫn cho người bệnh sau khi xuất viện:
+ Giữ vệ sinh ăn uống, tẩy giun định kỳ.
+ Vệ sinh môi trường.
+ Không ăn gỏi cá.
14


+ Giáo dục cho người bệnh khi có các triệu chứng phát hiện sớm, đi khám ngay khi có
dấu hiệu sỏi tái phát.
Để đề phòng sỏi tái phát người bệnh cần chú ý tránh các nguyên nhân gây ra như:
+ Nhịn ăn sáng, lười vận động, ăn ít rau, ăn nhiều mỡ.
+ Các bệnh gây viêm nhiễm, giun chui ống mật.
II. CƠ SƠ THỰC TIỄN
A. Trên thế giới :
-

Năm 1890Luwig Courvoisier là người đầu tiên phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi.


- Nếu Kehr < 16Fr, cần nong đường hầm trước khi soi.
Chăm sóc người bệnh trước khi thực hiện thủ thuật:
- Siêu âm bụng và chụp mật qua Kehr lại trước khi làm thủ thuật.
- Nhịn ăn uống trước khi làm thủ thuật 6 giờ.
- Mở ống dẫn lưu cho dịch mật chảy ra.
- Nếu người bệnh sốt, cho thuốc hạ sốt Acetaminophen, Paracetamol v.v...
2- Chăm sóc sau khi lấy sỏi mật qua đường hầm Kehr
2.1- Người bệnh sẽ lưu lại phịng hồi sức 2–6 giờ, sau đó chuyển lên khoa
Sau thủ thuật 6 giờ, người bệnh có thể ăn uống nhẹ (sữa, súp, cháo…), sau 12 giờ ăn uống
bình thường.
- Sau thủ thuật, người bệnh thường không đau hoặc chỉ đau nhẹ vùng dưới sườn phải.
- Khi sỏi đường mật, có cho nước vào đường mật và xuống ruột nên sau thủ thuật, thông
thường người bệnh sẽ đi tiêu lỏng 2–3 lần nhưng người bệnh tự hết mà không cần dùng
thuốc.Một số ít người bệnh có thể ói ra dịch trong.
- Bình thường, ống dẫn lưu sẽ ra dịch mật liên tục vào túi nhựa.Nếu ống dẫn lưu không
ra mật kèm đau, tức hay sốt nên báo điều dưỡng. Cần thay băng chân ống dẫn lưu mỗi
ngày.
- Lấy sỏi mật qua đường hầm Kehr có thể được làm nhiều lần cho đến khi hết sỏi, trung
bình 2–3 lần.Mỗi lần làm cách nhau 2–3 ngày.Người bệnh có thể về nhà giữa các lần lấy
sỏi. Khi đã được lấy sạch sỏi và rút ống dẫn lưu, xuất viện, người bệnh có thể ăn uống
bình thường và dùng thuốc theo toa.
2.2- Theo dõi:
Tái khám lần đầu tiên sau khi xuất viện 1 tháng, lần thứ hai sau ba tháng và các lần
sau mỗi sáu tháng. Mỗi lần tái khám, người bệnh được khám lâm sàng và siêu âm bụng
kiểm tra.
2.2.1. Đau vết mổ:
Đánh giá mức độ đau theo thang điểm đau, vị trí đau. Nếu người bệnh đau lan lên
vai thì nên cho người bệnh nằm tư thế Fowler hay ngồi dậy. Giải thích cho người bệnh


xuất viện, người bệnh sẽ được hẹn tái khám để tiến hành tán sỏi qua Kehr.Điều dưỡng sẽ
hướng dẫn người bệnh cách chăm sóc khi về nhà và tái khám định kỳ.
17


- Hướng dẫn người bệnh ngồi dậy, đi lại giúp mật xuống ruột dễ dàng.Khi nằm nên nằm
tư thế Fowler. Điều dưỡng thay băng khi thấm dịch. Giải thích cho người bệnh rằng dịch
sẽ ra nhiều trong những ngày đầu sau rút nhưng khi mật xuống ruột thơng thì số lượng
dịch mật sẽ ra ít và vết thương sẽ lành. Trong những ngày này điều dưỡng giúp người
bệnh tránh viêm lở da do rò mật sau rút. Cho người bệnh ngồi dậy đi lại.
2.4. Người bệnh lo lắng do mang dẫn lưu Kehr về nhà
- Trong những trường hợp người bệnh không thể lấy hết sỏi trong khi mổ, hay do hẹp
đường mật cần để lại nong đường mật thường phẫu thuật viên sẽ để lại Kehr và cho người
bệnh về nhà. Điều dưỡng hướng dẫn người bệnh chăm sóc da xung quanh chân ống dẫn
lưu. Vẫn tắm rửa vệ sinh sạch sẽ nhưng sau đó lau khơ chân da và băng lại. Ống dẫn lưu
có thể cột lại, nếu thấy căng tức thì mở ra cho dịch mật chảy ra ngồi, sau đó có thể cột
lại.Hướng dẫn người bệnh khi có dấu hiệu sốt, đau bụng hay vàng da tái phát thì nhập
viện ngay.
- Hướng dẫn người bệnh uống nhiều nước giúp lượng dịch mật ra dễ dàng hơn. Người
bệnh nên tái khám theo lời dặn để bác sĩ tán sỏi qua Kehr, hay rút theo dõi nếu hẹp đường
mật.
2.5. Dẫn lưu dưới gan và dẫn lưu túi mật có tính cách phịng ngừa
Chăm sóc da sạch sẽ tránh nhiễm trùng. Theo dõi số lượng, màu sắc, tính chất dịch
ra. Nếu dịch dẫn lưu ra màu vàng thì điều dưỡng nên theo dõi rò mật sau mổ, ghi vào hồ
sơ và báo bác sĩ. Dẫn lưu này thường là dẫn lưu phòng ngừa nên bác sĩ sẽ cho y lệnh rút
sớm nếu dịch dưới 50ml/24 giờ.
2.6. Người bệnh vàng da niêm, ngứa do sắc tố mật ngấm qua da
Cho người bệnh uống nhiều nước, vệ sinh da sạch, tránh trầy da do gãi ngứa, cắt
ngắn móng tay. Thực hiện thuốc kháng dị ứng, theo dõi xét nghiệm Bilirubin. Người bệnh
vàng da thì nước tiểu sẽ vàng do nước tiểu có bilirubin; do đó người bệnh sẽ ngứa và

hướng dẫn người bệnh cách chăm sóc Kehr tại nhà.
4. Giáo dục sức khoẻ
Nếu người bệnh có cắt túi mật, thời gian đầu hạn chế thức ăn có nhiều mỡ, dầu,
trứng, sữa, chất béo. Khoảng 2–3 tháng sau cho người bệnh tập ăn dần lại bình thường,
hạn chế thức ăn nhiều cholesterol. Nếu người bệnh mổ sỏi đường mật nên cho người bệnh
uống nhiều nước, ăn thức ăn có nhiều chất dinh dưỡng, tránh thức ăn nhiều dầu mỡ, vệ
19


sinh trong ăn uống. Tẩy giun định kỳ mỗi 3 – 6 tháng/lần, kiểm tra siêu âm đường mật
định kỳ. Giáo dục người bệnh xuất viện còn mang ống dẫn lưu Kehr về cách chăm sóc
ống Kehr, sinh hoạt, tái khám…
III. LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ là một bệnh viện đa khoa hạng I, với quy mô
1500 giường bệnh ( được Sở Y tế giao chỉ tiêu), với gần 1500 cán bộ, 20 phòng chức
năng và 29 khoa lâm sàng , số người bệnh điều trị nội trú trung bình là : từ 1500 - 1800
người bệnh/ ngày.
Khoa Ngoại Tổng Hợp là một trong những khoa lớn của bệnh viện với chỉ tiêu là
50 giường bệnh, thực kê là 55 giường, với đội ngũ Bác sỹ là :10, Điều dưỡng viên là :13 (
trong đó có 05 cử nhân điều dưỡng đại học. 02 cao đẳng, 06 trung học )
1- Thực trạngqua chăm sóc 10 người bệnh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ có đặt
ống dẫn lưu Kehr tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọtơi thấy
1.1- Chăm sóc dấu hiệu sinh tồn:
Dấu hiệu sinh tồn được theo dõi tùy theo tình trạng người bệnh, giai đoạn bệnh,
tùy vào loại phẫu thuật. Người điều dưỡng theo dõi dấu hiệu sinh tồn trong ngày đầu 3060phút/ lần và thời gian theo dõi có thể 12 giờ hoặc 24 giờ sau phẫu thuật. Những ngày
tiếp theo nếu dấu hiệu sinh tồn bình thường theo dõi ngày 2 lần.
- Ở chuyên đề này tôi nhận thấy dấu hiệu sinh tồn của người bệnh thực sự chưa được
theo dõi đúng quy định. Trong 12 giờ đầu dấu hiệu sinh tồn được theo dõi đầy đủ các chỉ
số về huyết áp, mạch, nhịp thở, nhiệt độ. Tuy nhiên những ngày sau dấu hiệu sinh tồn
được theo dõi ngày 01 lần và chỉ được chú trọng đến các chỉ số về huyết áp và nhiệt độ,

- Các ống dẫn lưu dưới gan, dẫn lưu ổ bụng được rút đúng chỉ định và quy trình đảm
bảo vơ khuẩn.
Tuy nhiên vẫn cịn một số hạn chế trong chăm sóc Kehr như:
- Dịch mật vẫn do người nhà người bệnh đảm nhận thay và báo lại cho người điều dưỡng
vì vậy số lượng dịch mật qua Kehr khơng được chính xác ảnh hưởng đến việc theo dõi số
lượng dịch mật, nếu số lượng thực tế ít hơn số lượng người nhà người bệnh báo lại sẽ gây
ra biến chứng có thể tắc gây chảy nước mật vào ổ bụng gây viêm phúc mạc, tràn vào vết
mổ sẽ gây nhiễm trùng lâu liền vì trong dịch mật có các axit mật.
- Chỉ định rút ống dẫn lưu Kehr
+ Thường được để lưu từ 10-12 ngày sau phẫu thuật.
+ Chỉ được rút khi có chỉ định của bác sĩ.
+ Rút Kehr khi đường mật thông.
Trên thực tế người bệnh thường chỉ điều trị9 ngày tại bệnh viện, người bệnh phải
mang ống dẫn lưu về và được hẹn khám lại. Nếu người điều dưỡng khơng có đầy đủ kiến
thức để tư vấn cho người bệnh cách chăm sóc ống dẫn lưu tại nhà tốt sẽ gây các biến
chứng như : tắc ống, tụt ống, dịch mật trào ngược gây trợt loét chân ống dẫn lưu....
1.2.2- Chăm sóc ống dẫn lưu ổ bụng, ống dẫn lưu dưới gan:

22


Hình 5: Chăm sóc ống dẫn lưu ổ phúc mạc ( Tại khoa Ngoại Tổng Hợp -bệnh
viện đa khoa tỉnh Phú Thọ )
- Người điều dưỡng thực hiện đúng quy trình.
- Khơng có tình trạng trào ngược.
1.2.3. Chăm sóc sonde dạ dày, sonde niệu đạo bàng quang:

Hình 6: Chăm sóc sonde dạ dày, sonde niệu đạo – bàng quang( Tại khoa Ngoại Tổng
Hợp - bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ )
- Người điều dưỡng thực hiện đúng quy trình.

Trong ba ngày đầu khi chưa có nhu động ruột người bệnh phải nhịn ăn và nuôi dưỡng
bằng đường tĩnh mạch, người bệnh chỉ được nhận truyền 1000ml dung dịch Glucose
5%/24h. Khi người bệnh có nhu động ruột việc ăn uống lại do người nhà đảm nhiệm
chính vì vậy dinh dưỡng của người bệnh chưa phù hợp mà người điều dưỡng lại khơng
kiểm sốt được chế độ ăn gây ảnh hưởng đến sự phục hồi sau phẫu thuật của người bệnh,
khoa dinh dưỡng của bệnh viện đã triển khai suất ăn bệnh lý nhưng trên thực tế người
bệnh không ăn theo chế độ bệnh lý đã hướng dẫn mà tự phục vụ theo nhu cầu sở thích của
cá nhân.
1.5.Chăm sóc vận động:
- Vận động đúng sau phẫu thuật sẽ giúp cho người bệnh tránh được nhiều biến chứng
như: viêm phổi, viêm đường hô hấp...
- Kết quả thu được trong chuyên đề này là vận động của người bệnh không được sự giúp
đỡ của người điều dưỡng mà chủ yếu là do người nhà đảm nhiệm, người điều dưỡng chỉ
hướng dẫn người nhà người bệnh tập vận động mà khơng trực tiếp làm vì vậy không được
giám sát việc vận động của người bệnh đạt được kết quả gì, người bệnh có thực hiện đúng
theo hướng dẫn hay không ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh.
1.6.Chăm sóc vệ sinh
- Kết quả vệ sinh trong chuyên đề này là người bệnh đến điều trị được Bệnh viện cho
mượn đầy đủ quần áo, chăn màn, được thay đổi quần áo hàng ngày theo quy định nhưng
việc vệ sinh cá nhân cho người bệnh lại do người nhà người bệnh đảm nhiệm, những
người bệnh có chỉ định đặt sonde niệu đạo bàng quang nếu không vệ sinh tốt bộ phận sinh
dục sẽ gây nhiễm khuẩn ngược dịng ảnh hưởng tới sức khỏe người bệnh, người bệnh
khơng được vệ sinh thân thể sạch sẽ gây nhiễm trùng vết mổ đặc biệt là những người
bệnh có ống dẫn lưu kehr, dẫn lưu dưới gan, ổ bụng....
1.7.Sự hài lòng của người bệnh.
- Sỏi ống mật chủ là một bệnh dễ tái phát vì vậy việc tư vấn cho người bệnh về cách phát
hiện bệnh, nhận thức đúng trong ăn uống, sinh hoạt, chế độ dùng thuốc, tái khám đúng
hẹn là hết sức có ý nghĩa. Tuy nhiên trong chuyên đề tôi thấy người điều dưỡng:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status