TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI
I. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản
Thực hiện Luật Ðất đai năm 2003, UBND Thành phố tổ chức triển khai các
văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và ban hành các văn bản thuộc thẩm
quyền, như:
- Quyết định số 138/2004/QÐ-UB ngày 18/05/2004 về thủ tục giao đất, cho
thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn Thành phố.
- Quyết định số 139/2004/QÐ-UB ngày 18/05/2004 về Quy chế phối hợp
liên ngành trong công tác giải quyết hồ sơ giao đất, thuê đất và chuyển mục đích sử
dụng đất theo cơ chế một cửa liên thông.
- Chỉ thị số 26/2004/CT-UB ngày 15/09/2004 của Ủy ban nhân dân Thành
phố về tổ chức triển khai thực hiện Luật Ðất đai năm 2003 trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Chỉ thị số 29/2004/CT-UB ngày 16/11/2004 về tổ chức kiểm kê đất đai
năm 2005 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Công văn số 6983/UB-ÐT ngày 16/11/2004 về thực hiện một số việc cấp
bách triển khai Nghị định số 181/2004/NÐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
thi hành Luật Ðất đai năm 2003.
- Quyết định 317/2004/QĐ-UB ngày 24/12/2004 của Ủy ban nhân dân
Thành phố về ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Luật Đất đai 2003, Nghị định
181, Quyết định 25/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ TNMT.
- Kế hoạch số 4595/UB-ÐT ngày 06/08/2004 và số 4668/UBND-ĐT ngày
03/8/2005 về triển khai thực hiện công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyết định số 316/2004/QÐ-UB ngày 24/12/2004 và Quyết định số
227/2005/QĐ-UBND ngày 27/12/2005 về ban hành Quy định về giá các loại đất
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyết định số 225/2005/QĐ-UBND ngày 23/12/2005 của Ủy ban nhân dân
Thành phố về quy định hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở theo Luật Đất đai
3. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa hình
3.1. Về khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất
Trong những năm gần đây, Thành phố đã thực hiện nhiều hoạt động điều tra, khảo sát,
đánh giá đất đai làm cơ sở đề ra và thực thi nhiều chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của Thành phố như:
- Lập quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất từ năm 1995 đến nay.
- Ðiều tra đất đang sử dụng của các tổ chức theo Chỉ thị 245/CT- TTg của
Thủ tướng Chính phủ.
- Kiểm tra việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ...
- Ðánh giá đất đai theo hướng địa chất công trình.
3.2. Công tác lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ
địa hình
- Công tác lập bản đồ địa chính được triển khai thực hiện bằng phương pháp
và phương tiện kỹ thuật tiên tiến. Hầu hết các phường, xã, thị trấn đã hoàn chỉnh
đo đạc và lập bản đồ địa chính. Ðến nay đã có 310/317 đơn vị hành chính xã,
phường, thị trấn đưa bản đồ địa chính chính quy từ tỷ lệ 1/200 đến 1/2.000 vào sử
dụng.
- Công tác lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cùng với công tác tổng kiểm kê
đất đai (định kỳ 5 năm) đã được thực hiện xong trên phạm vi toàn Thành phố.
Thành phố cũng đã lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cho 24 quận, huyện và 317
xã, phường, thị trấn. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 của phường, xã, thị
trấn được lập trên cơ sở bản đồ địa chính số.
- Công tác lập bản đồ địa hình Thành phố dưới dạng số do Bộ Tài nguyên và
Môi trường thực hiện, Thành phố đã tiếp nhận file bản đồ địa hình số tỷ lệ 1/2000,
1/5000 của toàn Thành phố Hồ Chí Minh (tổng số gồm 936 mảnh: 1/2000 là 821
mảnh; 1/5000 là 115 mảnh); đã chuyển giao cho các Sở, ngành, quận, huyện để sử
dụng cho công tác quản lý Nhà nước về đô thị và quy hoạch xây dựng.
4. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
4.1.Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Thành phố
Năm
Tổng số Nhà ở Sản xuất kinh doanh
Phúc lợi –
Công cộng
DA
DT
(Ha)
Tái định cư - Thu
nhập thấp
Kinh Doanh
Thương mại –
Dịch vụ
Công nghiệp Nông nghiệp
DT(Ha)
Cơ
cấu
(%)
DT
(Ha)
Cơ
cấu
(%)
DT
(Ha)
Cơ
cấu
(%)
DT
(Ha)
Cơ
+ Năm 2003 đã phát triển và đưa ra đấu giá 03 khu đất với tổng diện tích
13,4238 ha, thu ngân sách 1.146 tỷ đồng;
+ Năm 2004 đã phát triển và đưa ra đấu giá 03 khu đất với tổng diện tích
48,1457 ha, thu ngân sách 1.020 tỷ đồng;
+ Năm 2005 đã phát triển 10 khu đất với diện tích 58 ha nhưng do thị trường
bất động sản bị đóng băng nên chỉ đấu giá thành và bán chỉ định 03 khu với diện
tích 15 ha, thu ngân sách 339 tỷ đồng;
Với phương thức Thành phố chủ động phát triển quỹ đất, sau đó chuyển giao
cho các nhà đầu tư theo phương thức đấu giá quyền sử dụng đất trong thời gian qua
chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia do các khu đất đưa ra đấu giá có giá
trị rất lớn và các nhà đầu tư nước ngoài lại chưa được tham gia.
5.2. Kết quả kiểm tra các dự án đã có quyết định giao, cho thuê đất và chuyển
mục đích sử dụng đất:
- Đợt kiểm tra năm 2004: Kiểm tra tiến độ đầu tư 566 dự án nhà ở với tổng
diện tích 3.580 ha, đã được Thành phố giao đất từ năm 1997 đến cuối năm 2003,
kết quả như sau:
+ 395 dự án, diện tích 1252 ha: Ðã đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng (xây
dựng nhà ở khoảng 30%);
+ 56 dự án, diện tích 748 ha: Ðã bồi thường, san lắp mặt bằng và đầu tư cơ sở hạ tầng
(khoảng 60%)
+ 83 dự án, diện tích 1.320 ha: Ðã bồi thường, san lấp mặt bằng (khoảng 60%);
+16 dự án, diện tích 63 ha: Ðã bồi thường 100%, chưa đầu tư
+16 dự án, diện tích 197 ha: Chưa bồi thường.
- Đợt kiểm tra năm 2005: Kiểm tra tiến độ đầu tư 337 dự án nhà ở, cơ sở hạ
tầng khu nhà ở (gồm 171 dự án triển khai chậm qua đợt kiểm tra năm 2004 và 166
dự án giao đất trong năm 2004) và 1.200 dự án sản xuất kinh doanh (đã giao đất
trước năm 2005), kết quả như sau:
+ Đối với dự án sản xuất kinh doanh: do các doanh nghiệp có nhu cầu thực
sự về mặt bằng sản xuất nên hầu hết đã đầu tư xây dựng xong, một số dự án mới
giao đất trong năm 2004 cũng đang triển khai đầu tư xây dựng.
quy định pháp luật. Công tác kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần.
- Về công tác kiểm kê đất đai năm 2005 đã được thực hiện xong, Ủy ban nhân
dân Thành phố đã phê duyệt số liệu và báo cáo gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Số liệu và bản đồ được xây dựng hoàn toàn trên cơ sở bản đồ địa chính số nên độ chính
xác cao và xử lý được các hạn chế của các đợt kiểm kê trước đây.
- Hiện nay sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố đang khẩn trương hoàn
chỉnh số thống kê đất đai năm 2006 đúng thời hạn quy định.
8. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
bất động sản
- Vào khoảng thời gian năm 2001, thị trường bất động sản Thành phố Hồ
Chí Minh phát triển bất ổn đã dẫn đến cơn sốt nhà đất vào cuối năm 2001 và đầu
năm 2002, giá nhà đất tăng cao gấp nhiều lần trong một thời gian ngắn. Tình hình
mua bán, chuyển nhượng và xây dựng nhà trái phép diễn ra phổ biến, phá vỡ quy
hoạch làm cho đô thị phát triển manh mún không đáp ứng được mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội của thành phố. Trước tình hình đó, Ủy ban nhân dân Thành phố đã
ban hành nhiều chỉ thị để chấn chỉnh thị trường bất động sản như Chỉ thị 08, Chỉ
thị 18, Chỉ thị 20, bên cạnh đó Ủy ban nhân dân Thành phố còn áp dụng nhiều biện
pháp xử lý nghiêm các vi phạm nhằm răn đe và hạn chế các vi phạm như thu hồi
đất, tháo dỡ các công trình vi phạm, không xác nhận và không cấp giấy chứng
nhận các trường hợp mua bán chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất trái
phép. Tổ chức nhiều đoàn thanh tra kiểm tra nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các
vi phạm.
- Trong năm 2004 và 2005, do giá vàng tăng cao và khung giá đất mới được
áp dụng nên khoản tiền sử dụng đất nộp tăng làm cho giá thành sản phẩm nhà đất
tăng dẫn đến số lượng giao dịch trên thị trường giảm và có chiều hướng đóng băng
do vậy trong năm 2005 Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành một số giải pháp
đồng thời trình Chính phủ ban hành một số chính sách nhằm thúc đẩy thị trường
bất động sản phát triển. Các đề xuất của Ủy ban nhân dân Thành phố đã được
Chính phủ chấp thuận và đưa vào Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về
sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và
dụng đất
Thi hành các quy định pháp luật về đất đai hiện nay, Thành phố luôn quan tâm,
bảo đảm thực hiện ngày càng đầy đủ và tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất như: các thủ tục hành chính liên quan đất đai được hướng dẫn cụ thể và công
khai hóa nơi công sở, kết hợp với tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ của cán bộ
chuyên môn, nên đã góp phần giải quyết hành chính theo yêu cầu của nhân dân kịp
thời, hạn chế phiền hà cho nhân dân.
Tất cả các công sở trên địa bàn Thành phố đã áp dụng mô hình hành chính “một cửa”, góp phần
giảm bớt phiền hà cho người, hạn chế tiêu cực, nhũng nhiễu của đội ngũ công chức. Tuy nhiên so với các
quy định còn có bất cấp, cần cải cách triệt để hơn.
Còn nhiều trường hợp người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, nhưng sử dụng không theo quy hoạch có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả
của công tác quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Kết quả giải quyết hồ sơ đăng ký việc thực hiện các quyền của người sử
dụng đất từ năm 2003 đến 2005:
Bảng 2.2. Kết quả giải quyết hồ sơ đăng ký việc thực hiện
các quyền của người sử dụng đất
Năm
Hồ sơ đăng bộ chuyển quyền sở
hữu nhà ở và QSDĐỞ
Hồ sơ đăng ký thế
chấp bảo lãnh Tổng cộng
2003 23.257 252 23.509
2004 17.345 21.606 38.951
2005 12.790 17.898 30.688
04 tháng 2006 2.963 9.537 12.500
Tổng cộng 56.355 49.293 105.648
Ngoài ra, còn giải quyết các hồ sơ xóa đăng ký, cung cấp thông tin, thay đổi
đăng ký thế chấp, bảo lãnh:
Năm 2004: 3.001 hồ sơ
niềm tin của nhân dân vào pháp luật.
Kết quả thanh tra kiểm tra, Ủy ban nhân dân Thành phố xử lý theo hình thức
thu hồi đất, hủy bỏ việc giao đất tổng cộng 28 dự án chậm hoặc không triển khai
thực hiện, với tổng diện tích đất 504 ha.Trong đó, riêng năm 2005 Ủy ban nhân
dân Thành phố xử lý theo hình thức thu hồi đất, hủy bỏ việc giao đất tổng cộng 05
dự án chậm hoặc không triển khai thực hiện, với tổng diện tích đất khoảng 100 ha;
thu hồi 03 khu đất không sử dụng, để hoang hóa hoặc bị lấn chiếm, với tổng diện
tích khoảng 12,2 ha. Hiện Thành phố đang tiếp tục thanh tra, kiểm tra làm rõ để có
cơ sở xử lý 10 dự án với tổng diện tích khoảng 35ha.
Việc thường xuyên thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật đất đai góp
phần đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án.
12. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong quản lý và sử dụng đất đai
Với chủ trương giải quyết đơn thư đúng chức năng thẩm quyền, khắc phục
việc để đơn thư tồn đọng kéo dài và vận động, giải thích, hướng dẫn nhân dân hiểu
pháp luật, sống và làm theo pháp luật, Thành phố đã ban hành quy trình tiếp dân,
trong đó quy định đối với công dân khi thực hiện quyền tranh chấp, khiếu nại, tố
cáo và việc tiếp nhận đơn thư của tổ chức và công dân.
Trong năm 2005, tại Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận 1.130 đơn
thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai, hồ sơ tồn năm 2004 là 291hồ sơ. Ðến
nay đã giải quyết được 1.212 hồ sơ (đạt 85%) và đang tiến hành giải quyết tiếp 209
hồ sơ.
13. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị đầu tiên triển khai mô hình dịch vụ công
trong lĩnh vực đất đai. Năm 1998, thành lập Trung tâm Kiểm định bản đồ và Tư
vấn Nhà đất. Năm 2002, Thành phố thành lập Trung tâm Đăng ký nhà đất với chức
năng là thực hiện việc đăng ký các hợp đồng giao dịch nhà đất như Văn phòng
đăng Ký quyền sử dụng đất hiện nay. Đầu năm 2003, thành lập Trung tâm Thu hồi
Khai thác quỹ đất phục vụ đầu tư với chức năng như Tổ chức Phát triển Quỹ đất
quy định trong Luật Đất đia 2003. Các Trung tâm này đều trực thuộc Sở Địa chính
nhiên
(ha) (%) %
Tổng diện tích đất tự nhiên 209.554,47 100 100
1 Ðất nông nghiệp NNP 123.517,01 100,00 58,94
1.1 Ðất sản xuất nông nghiệp SXN 77.954,87 63,11 37,20
1.2 Ðất lâm nghiệp LNP 33.857,88 27,41 16,16
1.3 Ðất nuôi trồng thuỷ sản NTS 9.765,19 7,91 4,66
1.4 Ðất làm muối LMU 1.471,32 1,19 0,70
1.5 Ðất nông nghiệp khác NKH 467,76 0,38 0,22
2 Ðất phi nông nghiệp PNN 83.773,79 100,00 39,98
2.1 Ðất ở OTC 20.520,69 24,5 9,79
2.1.1 Ðất ở tại nông thôn ONT 5.262,73 25,65 2,51
2.1.2 Ðất ở tại đô thị ODT 15.257,96 74,35 7,28
2.2 Ðất chuyên dùng
CDG
28.534,93 34,06
13,62
2.3 Ðất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 400,29 0,48 0,19
2.4 Ðất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 924,57 1,1 0,44
2.5 Ðất sông suối và mặt nước CD SMN 33.250,02 39,69 15,87
2.6 Ðất phi nông nghiệp khác PNK 143,29 0,17 0,07
3 Ðất chưa sử dụng CSD 2.263,67 100,00 1,08
3.1 Ðất bằng chưa sử dụng BCS 2.258,27 99,76 1,08
3.2 Ðất đồi núi chưa sử dụng DCS 5,4 0,24 0,00
1.2. Quỹ đất của Thành phố được phân theo tính chất của đơn vị hành
chính như sau
- Các quận có diện tích 49.382,07 ha, bằng 23,56% diện tích tự nhiên toàn
Thành phố.
- Các huyện có diện tích 160.172,40 ha, bằng 76,44% diện tích tự nhiên toàn
Thành phố.
6. Quận 6 714,46 0,34 714,46 100,00
7. Quận 7 3.546,79 1,69 3.546,79 100,00
8. Quận 8 1.917,47 0,92 1.917,47 100,00
9. Quận 9 11.389,62 5,44 11.327,37 99,45 62,25 0,55
10. Quận 10 571,81 0,27 571,81 100,00
11. Quận 11 513,94 0,25 513,94 100,00
12. Quận 12 5.274,90 2,52 5.274,90 100,00
13. Q. Phú Nhuận 486,34 0,23 486,34 100,00
14. Q. Bình Thạnh 2.070,67 0,99 2.070,67 100,00
15. Quận Gò Vấp 1.975,85 0,94 1.975,85 100,00
16. Quận Tân Bình 2.239,01 1,07 2.239,01 100,00
17. Quận Tân Phú 1.600,97 0,76 1.600,97 100,00
18. Quận Bình Tân 5.188,42 2,48 5.181.71 99,87 6,71 0,13
19. Quận Thủ Ðức 4.764,90 2,27 4.764,24 99,99 0,66 0,01
20. H. Bình Chánh 25.255,28 12,05 24.960,80 98,83 294,48 1,17
21. Huyện Cần Giờ 70.421,58 33,61 69.267,64 98,36 1.153,94 1,64
22. Huyện Củ Chi 43.496,58 20,76 42.852,12 98,52 644,46 1,48
23. H. Hóc Môn 10.943,37 5,22 10.884,38 99,46 58,99 0,54
24. Huyện Nhà Bè 10.055,57 4,80 10.013,39 99,58 42,18 0,42
Qua bảng trên nhận thấy trong tổng số 19 quận có 16 quận tỷ lệ đất đã đưa
vào khai thác sử dụng cho các mục đích kinh tế - xã hội đạt 100% diện tích tự
nhiên của quận. Kết quả trên phản ánh mức độ sử dụng đất hợp lý và hiệu quả
trong điều kiện đất đai ngày càng có giá trị, quỹ đất có hạn mà nhu cầu của con
người ngày càng lớn đặc biệt là đất ở và đất sản xuất kinh doanh.
Riêng Quận 9 đất chưa sử dụng còn 62,25 ha, thực chất là đất bỏ hoang.
Các huyện đều còn đất chưa đưa vào sử dụng, tuy nhiên diện tích này nhỏ, chỉ
chiếm 1,08% và tập trung ở các huyện Cần Giờ (chiếm 1,64% diện tích tự
nhiên); huyện Củ Chi (1,48%); huyện Bình Chánh (1,17%).
2. Hiện trạng sử dụng các loại đất
2.1. Ðất nông nghiệp
1.2.1 Ðất rừng sản xuất RSX 2.168,21 6,4 1,76
1.2.1.1 Ðất có rừng tự nhiên sản xuất RSN 139,17 6,42 0,11
1.2.1.2 Ðất có rừng trồng sản xuất RST 2.029,04 93,58 1,64
1.2.2 Ðất rừng phong hộ RPH 31.689,67 93,6 25,66
1.2.2.1 Ðất có rừng tự nhiên phòng hộ RPN 11.347,50 35,81 9,19
1.2.2.2 Ðất có rừng trồng phòng hộ RPT 20.342,16 64,19 16,47
1.3 Ðất nuôi trồng thủy sản NTS 9.765,19 7,91 7,91
1.3.1 Ðất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn TSL 6.465,45 66,21 5,23
1.3.2 Ðất nuôi trồng thủy sản nước ngọt TSN 3.299,74 33,79 2,67
1.4 Ðất làm muối LMU 1.471,32 1,19 1,19
1.5 Ðất nông nghiệp khác NKH 467,76 0,38 0,38
2.1.1. Ðất sản xuất nông nghiệp
Ðất sản xuất nông nghiệp toàn Thành phố hiện có 77.954,87 ha, chiếm
63,11% diện tích đất nông nghiệp và bằng 37,20% tổng diện tích tự nhiên. Ðất sản
xuất nông nghiệp được sử dụng như sau:
- Ðất trồng cây hàng năm: Toàn Thành phố có 47.198,86 ha, trong đó đất
trồng lúa 36.738,21 ha, chiếm 77,84% diện tích trồng cây hàng năm (đất chuyên
trồng lúa nước 24.395,57 ha).
Diện tích đất cỏ dùng vào chăn nuôi 1.533,82 ha, chiếm 3,25% diện tích
trồng cây hàng năm. Diện tích trồng cỏ của Nông trường Bò Sữa xã An Phú huyện
Củ Chi 450 ha, huyện Hóc Môn 211 ha...
Diện tích đất trồng cây hàng năm khác 8.926,83 ha (tập chung chủ yếu ở các
huyện Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Quận 12), chiếm 18,91% diện tích đất trồng
cây hàng năm.
- Ðất trồng cây lâu năm: Có 30.756,01 ha, chiếm 39,45% diện tích đất sản
xuât nông nghiệp, trong đó: chủ yếu là diện tích đất trồng cây lâu năm khác phân
tán ở rải rác các huyện ngoại thành với diện tích 24.162,05 ha; đất trồng cây công
nghiệp lâu năm chủ yếu là cao su tập trung ở Củ Chi (2900 ha) và rải rác các nơi
khác diện tích 3.752,41 ha; diện tích cây ăn quả tập trung như: dừa, nhãn, mãng
cầu, chuối, xoài ...chiếm diện tích nhỏ 2.841,55 ha.
vực công cộng.
2.1.3. Ðất nuôi trồng thủy sản
Toàn Thành phố hiện có 9.765,19 ha đất nuôi trồng thủy sản, chiếm 7,91%
diện tích đất nông nghiệp. Chủ yếu là do nuôi tôm ở huyện Cần Giờ, Nhà Bè; nuôi
cá, ba ba, cá sấu ở huyện Củ Chi, Bình Chánh, Quận 12 và các khu vực ven sông
Sài Gòn; nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ với diện tích 6.465,45 ha (diện tích này
không tính những phần diện tích ven biển, ven sông nuôi nghêu, sò tại huyện Cần
Giờ). Diện tích đất nuôi trồng thủy sản tập trung lớn ở huyện Cần Giờ (6.400 ha),
Bình Chánh (1.161 ha), Nhà Bè (846 ha). Bên cạnh đó tận dụng các ao, hồ nhỏ
trong các khu dân cư nuôi thả cá, ếch, ba ba kết hợp tích trữ nước và tạo cảnh quan
môi trường phân bố chủ yếu ở các huyện ngoại thành.
2.1.4. Ðất làm muối
Toàn Thành phố hiện có 1.471,32 ha đất làm muối, chiếm 1,19% diện tích
đất nông nghiệp. Diện tích phân bố ở huyện Cần Giờ chủ yếu theo mô hình nhỏ lẻ
quy mô hộ gia đình. Diện tích này có xu hướng ngày càng giảm do hiệu quả kinh tế
thấp nên có xu hướng chuyển sang nuôi tôm.
2.1.5. Ðất nông nghiệp khác
Ðất nông nghiệp khác có diện tích 467,76 ha, chiếm 0,38% diện tích đất
nông nghiệp, tập trung ở 5 huyện và chủ yếu là diện tích vườn ươm, cơ sở sản xuất
cây giống, con giống.
2.2. Ðất phi nông nghiệp
Năm 2005 diện tích đất phi nông nghiệp có 83.773,79 ha, chiếm 39,98%
tổng diện tích tự nhiên và bao gồm các loại đất chính:
Bảng 2.6. Diện tích và cơ cấu đất phi nông nghiệp năm 2005
Thứ tự Chỉ tiêu Mã
Diện tích Cơ cấu
Cơ cấu
theo tổng
diện tích
đất PNN
đất phi nông nghiệp và chiếm 9,79% tổng diện tích tự nhiên. Các quận, huyện có
diện tích đất ở lớn trên 1.000 ha là: quận 2 (1.402 ha); quận 7 (1.267 ha); quận 9
(1.495 ha); quận 12 (1.592 ha); quận Bình Tân (1.219 ha); quận Thủ Ðức (1.321
ha); huyện Củ Chi (1.773 ha); huyện Hóc Môn (1.169 ha); huyện Bình Chánh
(1.761 ha).
- Ðất ở tại nông thôn: Có diện tích 5.262,73 ha, chiếm 30,04% diện tích đất
ở. Bình quân đất ở nông thôn đạt 58,94 m2/người (do trong năm đã chuyển một số
xã vùng nông thôn thành phường và thị trấn).
Tỷ lệ đất ở nông thôn so với diện tích tự nhiên toàn Thành phố là 2,51%.
Huyện có tỷ lệ cao nhất là Hóc Môn (8,11%) và huyện có tỷ lệ thấp nhất là Cần
Giờ (1,01%).
- Ðất ở đô thị: Có 15.257,96 ha, chiếm 69,96% diện tích đất ở. Bình quân
diện tích đất ở đô thị là 29,51 m2/người. Các quân có diện tích đất ở đô thị lớn là:
quận 12 (1.592 ha), quận 9 (1.495 ha), quận 2 (1.402 ha), quận Thủ Ðức (1.321
ha), quận Bình Tân (1.219 ha). Các đơn vị có chỉ tiêu bình quân cao là các huyện
và các quận mới.
2.2.2. Ðất chuyên dùng
Năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 28.534,93 ha đất chuyên dùng,
chiếm 34,06% diện tích đất phi nông nghiệp. Ðất chuyên dùng được sử dụng vào
các mục đích như sau:
- Ðất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: Có 856,77 ha, bằng 2,98% diện
tích đất chuyên dùng.
- Ðất quốc phòng, an ninh: Có 2.046,92 ha, bằng 7,12% diện tích đất chuyên
dùng, trong đó tập trung ở Củ Chi (677,82 ha) và Tân Bình (256,67 ha).
- Ðất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: Có 9.603,59 ha, chiếm 33,40%
diện tích đất chuyên dùng và được sử dụng vào các mục đích như sau:
+ Ðất khu công nghiệp: gồm 15 khu công nghiệp tập trung, 01 khu công
nghệ cao và các cụm công nghiệp với tổng diện tích 3.794,21 ha, trong đó có một
số khu công nghiệp lớn như Tân Thuận (Quận 7), Tân Tạo (Q.Bình Tân), Hiệp
Phước (H. Nhà Bè), Tân Phú Trung (H.Củ Chi) và khu công nghệ cao (Q.9 với
quận 5 (25,98 ha) và Bình Tân (45,70 ha).
+ Ðất cơ sở giáo dục - đào tạo: Có 942,18 ha, chiếm 5,80% diện tích đất có
mục đích công cộng. Chỉ tiêu diện tích đất bình quân cho một học sinh (ở các cấp
lớp) là còn thấp. Ðặc biệt các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề trên địa bàn Thành phố quy mô còn hạn chế, nhiều trường không có
ký túc xá cho sinh viên nội trú. Diện tích tập trung ở Quận 9 (130,84 ha), quận Thủ
Ðức (149,18 ha), huyện Củ Chi (153,22 ha).
+ Ðất cơ sở thể dục - thể thao: Có 472,37 ha, chiếm 2,91% diện tích đất
công cộng, gồm đất xây dựng các sân vận động, khu thể dục thể thao, các nhà thi
đấu đa năng, bãi tập, sân bóng, sân tennis. Ðặc biệt để phục vụ cho đợt SEA
Games cuối năm 2003 nhiều công trình thể thao lớn được duy tu sửa chữa và xây
dựng mới như sân Thống Nhất, nhà thi đấu Lan Anh, nhà thi đấu thể dục, thể thao
Phú Thọ...
+ Ðất chợ: Có 126,79 ha, chiếm 0,78% diện tích đất công cộng, gồm đất xây
chợ trung tâm (chợ Bến Thành, chợ Lớn, chợ đầu mối nông sản Tam Bình - quận
Thủ Đức; chợ đầu mối Bình Điền - huyện Bình Chánh, chợ đầu mối Tân Xuân –
huyên Hóc Môn...) và các chợ nhỏ phục vụ nhu cầu lưu thông hàng hóa, trao đổi
mua bán của người dân.
+ Ðất có di tích, danh thắng: Có 129,65 ha, chiếm 0,80% diện tích đất
công cộng tập trung nhiều nhất ở huyện Củ Chi (91,83 ha), quận 1 (13,04 ha) là
diện tích các di tích, danh thắng quốc gia như: Ðịa đạo Củ Chi, đền Bến Dược,
dinh Thống Nhất, bến Nhà Rồng...
+ Ðất bãi thải, xử lý chất thải: Có 340,58 ha, chiếm 2,10% diện tích đất công
cộng, tập trung chủ yếu ở các quận, huyện: Bình Tân (Gò Cát), Củ Chi (Phước
Hiệp), Hóc Môn (Đông Thạnh) và các bô rác trung chuyển được phân bố rải rác
trên địa bàn các quận huyện...
Trong các bãi xử lý rác tập trung nêu trên bãi Đông Thạnh đã đóng cửa chỉ
tiếp nhận xà bần, bãi Gò Cát đã đạt công suất và nằm tại quận mới đang phát triển
nên cần thiết sớm đóng cửa, bãi Phước Hiệp phải phát triển tiếp giai đoạn 2 và mới
ở bước khởi công.
Quỹ đất đai sử dụng cho đầu tư phát triển ngày càng hẹp dần nhưng Thành phố
lại chưa có kế hoạch lâu dài để khai thác hiệu quả quỹ đất. Trong khoảng thời gian từ
năm 1998 đến năm 2002, do tốc độ phát triển đô thị quá nhanh vượt ra tầm kiểm soát
của nhà nước dẫn đến một số nơi đô thị phát triển tự phát tràn lan, tác động tiêu cực đến
quá trình đô thị hóa, thiếu các công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật tối thiểu ảnh
hưởng đến cuộc sống và ô nhiễm môi trường.
Việc quản lý xây dựng theo quy hoạch còn yếu, cảnh quan đô thị tuy có cải thiện
nhưng còn tồn tại lớn về không gian kiến trúc. Quỹ đất dành cho các công trình công
cộng theo quy hoạch bị lấn chiếm nên khi triển khai đầu tư theo quy hoạch, chi phí bồi
thường rất lớn.
Tốc độ đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị không đáp ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế,
bất cập so với tốc độ phát triển đô thị và dân số dẫn đến quá tải hạ tầng đô thị ngày càng
nghiêm trọng. Các công trình trọng điểm về phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ đô thị
triển khai chậm và thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng lớn đến mục tiêu phát triển kinh tế và
cải thiện dân sinh.
Các công trình hạ tầng xã hội có quy mô nhỏ và chất lượng chưa cao, thiếu
những trường học và bệnh viện đạt chuẩn quốc gia, thiếu mảng cây xanh tập trung lớn.
Thành phố đã thực hiện chủ trương cải tạo khu nhà thấp tầng lụp xụp tại khu vực trung
tâm Thành phố thành khu chung cư cao tầng tiện nghi khang trang hơn nhằm tăng diện
tích đất công trình công cộng phục vụ chung cho khu vực, tuy nhiên phần diện tích
dành cho cây xanh vẫn còn rất thấp so với mật độ dân số tăng cao do diện tích sàn xây
dựng của nhà cao tầng tăng hơn nhiều so với trước.
Các dự án phát triển nhà ở chủ yếu là nhà liên kế, nhà vườn và biệt thự, rất ít
chung cư cao tầng, chủ yếu phục vụ cho đối tượng có thu nhập khá trở lên. Gần đây
Thành phố mới triển khai chương trình xây dựng 30.000 căn hộ phục vụ chương trình
tái định cư các dự án của nhà nước và 60.000 căn hộ phục vụ cho đối tượng thu nhập
thấp, tuy nhiên các chương trình này cũng chỉ ở giai đoạn bắt đầu nên sản phẩm hoàn
thành còn ít, dự kiến đến năm 2007 và 2008 mới có thể phục vụ phần nào cho các đối
tượng thu nhập thấp.
Việc phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố không đồng bộ với
đương với số dân một quận trong thành phố) cùng với lượng lao động nhập cư từ các
nơi chuyển về thành phố, làm gia tăng áp lực cho hệ thống dịch vụ công cộng, y tế, vệ
sinh đô thị…Trong khi đó tình hình thoát nước kém tại một số kênh rạch trong nội
thành gây nên tình trạng ngập úng, ô nhiễm nước cục bộ tại nhiều khu vực. Hiện đã
phát sinh thêm một số điểm ngập úng mới ở các khu dân cư phát triển do quá trình đô
thị hoá nhanh, việc san lấp mương, rạch để xây dựng các công trình, bên cạnh đó cơ
sở hạ tầng kỹ thuật lại chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ.
+ Chất thải rắn sinh hoạt chưa được thu gom và xử lý triệt để và xả thẳng ra
kênh rạch, ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường.
3.2.3. Khai thác nước ngầm và khai thác cát bất hợp lý dẫn đến tình trạng lún
sụt đất và sạt lở đất:
+ Tại Thành phố Hồ Chí Minh, bùng nổ việc khai thác nước dưới đất từ sau
năm 1991. Tổng lưu lượng nước hiện đang khai thác khoảng 600.000 m
3
/ngày.
Nguồn nước dưới đất chưa được bảo vệ và khai thác một cách hợp lý, các giếng
khai thác lại quá tập trung một khu vực, nhiều giếng kết cấu không đảm bảo việc
cách ly chống ô nhiễm do thông tầng. Do còn một số những bất cập trên, nguồn
nước dưới đất đang bị ô nhiễm cả về quy mô và độ ô nhiễm, nhất là đối với tầng
chứa nước gần mặt đất. Mực nước đang cạn kiệt, hiện tượng xâm nhập mặn đã và
đang xảy ra khu vực phía Tây, Tây Nam Thành phố. Đã phát hiện thấy một số
giếng khoan thuộc quận 6, 8, Bình Tân, Bình Chánh có hiện tượng lún.
+ Trong những năm trước đây, việc quản lý các hoạt động khai thác cát còn
nhiều hạn chế đã dẫn đến tình trạng các công ty khai thác hoạt động không theo