Đề tài tình hình quản lý sử dụng đất trên địa bàn huyện phù yên tỉnh sơn la - Pdf 25

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
LỜI MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện
tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. C.Mác
viết rằng: đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là
điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong
nông, lâm nghiệp.
Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất đai ngày
càng gắn liền chặt chẽ với nhau. Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận của
con người, con người dựa vào đó để tạo nên sản phẩm nuôi sống mình. Đất
đai là nguồn của cải, là thước đó sự giàu có của mỗi quốc gia.
Trên thế giới và đối với mỗi quốc gia, đất đai là ngồn tài nguyên và
nguồn lực có hạn, việc sử dụng tài nguyên đất đai và việc phát triển kinh tế xã
hội của đất nước một cách tiết kiệm, đảm bảo hiệu quả cao là vấn đề quan
trọng và có ý nghĩa rất lớn. Trong thời kỳ hiện nay, nước ta đang đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng lên đáp
ứng cho các hoạt động và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Các hoạt động nói
trên làm thay đổi mục đích sử dụng đất đai mà trong khi đó đất là điều kiện
quan trọng nhất của con người. Bất kỳ một nước nào cũng nắm lấy đất đai để
hướng đất đai phục vụ theo yêu cầu của mình. Do đó phải quản lý đất đai một
cách đầy đủ và chặt chẽ, đảm bảo được sử dụng hợp lý, đầy đủ và có hiệu
quả. Tuy nhiên trên thực tế hiện nay việc quản lý, khai thác và sử dụng đất đai
ở nước ta còn rất nhiều bất cập và chưa hợp lý, gây lãng phí lớn về đất đai.
Những vấn đề này đặt ra cho nhà nước phải quan tâm nhiều hơn đến công tác
quản lý và sử dụng đất đai.
Sau một thời gian thực tập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện
Phù Yên – Tỉnh Sơn La cùng với những bức xúc trên em đã chọn đề tài:
“ Tình hình quản lý sử dụng đất trên địa bàn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La”
là chuyên đề tốt nghiệp.
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá
trình lịch sử phát triển kinh tế xã hội, đất đai là điều kiện chung của lao động.
Về bản chất, đất đai là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả
của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành gồm: Đá, thực vật,
động vật, khí hậu và thời gian. Do đất đai có vị trí đặc biệt trong đời sống
kinh tế xã hội của mỗi người và của mỗi quốc gia. Đất đai cùng là một trong
những cơ sở quan trọng để hình thành các vùng kinh tế của đất nước, của mỗi
lãnh thổ quốc gia. Đất đai có vị trí cố định và tính giới hạn. Đất đai không thể
sản sinh ra mà cùng thời gian đất đai có thể bị mất đi. Vì vậy, việc quản lý và
sử dụng đất đai một cách hợp lý là một trong những vấn đề mà mọi quốc gia
đều quan tâm. Ở Việt Nam việc quản lý đất đai đã được thực hiện ngay trong
những ngày đầu giành được độc lập. Theo luật đất đai năm 1993 của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi: “Đất đai là tài nguyên vô cùng
quý giá, là tư liệu sản xuất, là địa bàn phân bố các dân cư, xây dựng các cơ sở
kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân
ta tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như
ngày nay”.
2. Vai trò đất đai trong đời sống kinh tế xã hội
Đất đai là một trong những bộ phận lãnh thổ của mỗi quốc gia. Nói đến
chủ quyền của mỗi quốc gia là phải nói đến những bộ phận lãnh thổ trong đó
có đất đai. Tôn trọng chủ quyền của mỗi quốc gia, trước hết phải tôn trọng
lãnh thổ của quốc gia đó vì thế đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại
và phát triển của mỗi quốc gia, xã hội loài người. Nếu không có đất đai thì rõ
ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động sản xuất
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
nào cũng như không có sự tồn tại của loài người. Đất đai là một trong những
tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, là điều kiện sống và sự sống của
động thực vật và con người trên trái đất.
Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất ngày

các khu dân cư, khu đô thị mới. Đồng thời với nó là sự phát triển ngày càng
cao của hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhu cầu đi lại và sinh hoạt của
dân cư. Những nhu cầu này ngày càng tăng làm cho nhu cầu về đất đai các
ngành đó cũng tăng theo.
Trong nông nghiệp, đất đai có vị trí hết sức quan trọng, là yếu tố hàng
đầu của ngành sản xuất này. Đất đai trong nông nghiệp vừa là tư liệu sản xuất
vật chất vừa là đối tượng lao động. Đất đai không chỉ là chỗ ở, chỗ đứng để
lao động mà còn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác động của
con người đến cây trồng đều dựa vào đất đai và thông qua đất đai. Vì vậy, dù
quá trình sản xuất nông nghiệp hay sản xuất kinh doanh các sản phẩm khác
thì đều là quá trình khai thác hoặc quá trình sử dụng đất. Vì thế, không có đất
đai thì các hoạt động khác không xảy ra.
Vì đất đai có vị trí cố định, không di chuyển được, đất đai không thể
sản sinh ra và bị giới hạn bởi lãnh thổ, quốc gia và theo đặc tính của đất đai,
tính hai mặt của đất đai được thể hiện có thể tái tạo nhưng không thể sản sinh
ra đất đai. Bên cạnh đó trong các yếu tố cấu thành môi trường: Đất đai, nguồn
nước, khí hậu, cây trồng, vật nuôi, hệ sinh thái… thì đất đai đóng vai trò quan
trọng. Những biến đổi, những phá vỡ hệ sinh thái vùng nào đó trên trái đất
ngoài tác động ảnh hưởng của tự nhiên thì ngày nay con người cũng là
nguyên nhân gây nên rất lớn: lũ lụt do phá rừng, canh tác bất hợp lý, đắp sông
ngăn đập… tất cả những tác động đó đều ảnh hưởng đến môi trường. Việc sử
dụng hợp lý và hiệu quả đất đai có vai trò không nhỏ trong việc bảo vệ môi
trường, hệ sinh thái. Sử dụng đất đai hiệu quả và hợp lý giúp cho đất đai tránh
được xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
Trong thời kỳ hiện nay, nước ta đang đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng lên đáp ứng cho các hoạt động
và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Các hoạt động nói trên làm thay đổi mục
đích sử dụng đất đai mà trong khi đó đất là điều kiện quan trọng nhất của con

xây dựng các công trình văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao
phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của chính
phủ;
Đất do các sơ sở tôn giáo sử dụng;
Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;
Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;
Đất sông ngòi, kêng rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
- Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử
dụng.
II. NỘI DUNG SỬ DỤNG ĐẤT
Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ
người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi
trường. Căn cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương
hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất đai, phát huy tối
đa công dụng của đất đai nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao
nhất. Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại.
Trong mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu
cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào các thuộc tính tự nhiên của đất
đai. Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử
dụng đất đai được thể hiện theo 4 mặt sau:
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không
gian sử dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình
thành cơ cầu kinh tế sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô
kinh tế sử dụng đất.

phức tạp hóa và chuyên môn hóa cơ cấu sử dụng đất.
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự
nhiên của con người áp dụng các biện pháp bồi bổ và cải tạo sẽ nâng cao sức
sản xuất của đất đai, các loại nhu cầu của xã hội. Trước đây, việc sử dụng đất
rất hạn chế do kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp, chủ yếu sử dụng
bề mặt của đất đai, nông nghiệp thì độc canh, đất lâm nghiệp, đồng cỏ, mặt
nước ít được khai thác, khai thác khoáng sản còn hạn chế, xây dựng chủ yếu
là chọn đất bằng. Khi khoa học kỹ thuất hiện đại phát triển, ngay cả đất xấu
cũng được khai thác triệt để, hình thức sử dụng đất đa dạng, ruộng nước phát
triển…đã làm cho nội dung sử dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng
sử dụng toàn diện, triệt để để các chất dinh dưỡng, sức tải, vật chất cấu thành
và sản phẩm của đất đai để phục vụ con người.
Hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân và phát triển kinh tế hàng hóa dẫn
đến sự phân công sử dụng đất theo hướng chuyên môn hóa. Do đất đai có đặc
tính khu vực rất mạnh sự sai khác về ưu thế tài nguyên hết sức rõ rệt, phương
hướng và biện pháp sử dụng đất của các vùng cũng rất khác nhau. Để sử dụng
hợp lý đất đai và đạt được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất cần phải có
sự phân công và chuyên môn hóa theo khu vực. Cùng với việc đầu tư, trang bị
và ứng dụng các công cụ kỹ thuật, công cụ quản lý hiện đại sẽ nảy sinh yêu
cầu phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn và tập trung,
đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hóa sử dụng đất đai khác
nhau về hình thức và quy mô.
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
3. Sử dụng đất đai phát triển theo hướng xã hội hóa và công hữu hóa
Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và xã hội dẫn tới việc xã hội hóa
sản xuất. Mỗi vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một loại sản phẩm và hỗ
trợ bổ xung lẫn nhau đã hình thành nên sự phân công hợp tác mang tính xã
hội hóa sản xuất cũng như xã hội hóa việc sử dụng đất đai.
Đất đai là cơ sở vật chất và là công cụ để con người sinh sống và xã hội

Đặc biệt hạn chế việc chuyển đổi mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm ngiệp
sang loại đất khác. Vì đất nông nghiệp đâu phải chỗ nào cũng tốt, cũng có thể
sản xuất nông nghiệp được thuận lợi. Bên cạnh đó, cũng có hạn chế việc
chuyển đất lâm nghiệp sang loại đất khác đặc biệt là đất có rừng, tránh tình
trạng phá hủy rừng gây sói mòn đất đai. Phải chú ý đến cải tạo, bảo vệ môi
trường. Khi sử dụng đất, ta cần bồi dưỡng, cải tạo môi trường trong sạch nâng
cao canh tác thâm canh đất đai, hướng sự phát triển bền vững của đất đai.
III. VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
1. Vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai
Tăng cường năng lực và hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai được bắt
nguồn từ nhu cầu khách quan của việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đáp
ứng nhu cầu đời sống của nhân dân.
Vai trò quản lý nhà nước về đất đai được thể hiện qua các khía cạnh
sau:
- Ban hành hệ thống văn bản pháp luật, tạo môi trường pháp lý cho quản
lý và sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Luật đất đai năm 2003 quy
định nội dung quản lý nhà nước về đất đai, quy định khung giá các loại đất,
quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và một hệ thống văn bản
pháp quy khác. Chính phủ ban hành và các Bộ, ngành Trung ương cụ thể hóa
bằng các thông tư hướng dẫn trong những lĩnh vực liên quan đến quản lý và
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
sử dụng đất đai. Trên cơ sở đó tạo được một môi trường pháp lý thuận lợi cho
quản lý và sử dụng đất trong thị trường bất động sản giúp cho thị trường hoạt
động sôi nổi và đúng theo pháp luật, hạn chế tình trạng sử dụng đất tùy tiện,
lãng phí, nhà nước khó kiểm soát được hoạt động mua bán, chuyển nhượng…
bất động sản từ chủ thể này sang chủ thể khác.
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất định hướng cho
quản lý và sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Thông qua hoạch định
chiến lược, lập quy hoạch, kế hoạch nhằm phục vụ cho mục đích phát triển

thực hiện trực tiếp bằng việc nhà nước xác lập các chế độ pháp lý về quản lý
và sử dụng đất, các quyền năng này không chỉ được thực hiện trực tiếp mà
còn được thực hiện thông qua các hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về
đất đai và thực hiện thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những
điều kiện và theo sự giám sát của nhà nước.
Hoạt động đó của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện
quyền sở hữu nhà nước về đất đai, rất phong phú và đa dạng, gổm 13 nội
dung quản lý:
2.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất và
tổ chức thực hiện các văn bản đó
Chính sách và pháp luật quản lý nhà nước về đất đai có một vị trí rất
lớn đối với việc quản lý và sử dụng đất. Muốn quản lý và sử dụng đất đai
được tốt thì nhà nước phải có một hệ thống quản lý, công cụ quan trọng nhất
là pháp luật. Văn bản pháp luật bắt buộc mọi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình
phải tuân thủ theo, đó chính là hệ thống cơ quan quyền lực của nhà nước từ
trung ương đến địa phương. Luật Đất đai năm 2003 quy định nội dung quản
lý nhà nước về đất đai, quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất ,
cùng với các văn bản pháp quy khác, chính phủ ban hành và được các bộ
ngành từ trung ương cụ thể hóa bằng các nghị định, thông tư hướng dẫn có
liên quan đến quản lý đất đai như nghị định 181 của chính phủ ngày
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
29/10/2004 hướng dẫn thi hành luật đất đai, Nghị định 87 của chính phủ quy
định về khung giá các loại đất, Nghị định 198 của chính phủ quy định về thu
tiền sử dụng đất…các văn bản pháp luật trên đây có tác dụng tích cực đối với
quản lý nhà nước về đất đai, thể hiện đường lối thống nhất quản lý nhà nước,
làm cho việc sử dụng đất trên địa bàn cả nước đi vào nề nếp. Tuy nhiên, bên
cạnh đó hệ thông văn bản trên đôi khi còn nhiều bất cập thể hiện:
Hiện nay thiếu nhiều chính sách về luật pháp có liên quan đến cơ chế
vận hành thị trường bất động sản.

cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là bản đồ được lập tại thời điểm đầu kỳ
quy hoạch, thể hiện sự phân bố các loại đất tại thời điểm cuối kỳ quy hoạch
sử. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất được lập 10 năm một lần với kỳ quy hoạch
sử dụng đất.
Kết quả điều tra đo đạc là cơ sở khoa học cho việc xác định vị trí, hình
thể, kích thước, diện tích, loại đất, tên chủ thực tế sử dụng đất để phục vụ yêu
cầu tổ chức kê khai đăng ký.
Để sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả sử dụng cao thì cần nắm được toàn
bộ vốn đất về số lượng, chất lượng đất đai. Từ đó phát hiện được năng lực sử
dụng đất đai, tiêu chuẩn hóa các loại đất phục vụ cho các nhu cầu phát triển
kinh tế xã hội. Điều tra khảo sát là biện pháp đầu tiên phải thực hiện trong
công tác quản lý đất đai. Thực hiện tốt công việc này giúp nhà nước nắm
được số lượng phân bố, cơ cấu, chủng loại đất đai.
Việc điều tra khảo sát đất đai tùy thuộc vào nội dung sử dụng đất đai.
Điều tra hiện trạng sử dụng đất được tiến hành theo quy định của pháp luật
trên đơn vị xã phường, thông qua đó biết được diện tích, hiện trạng phân bố
sử dụng đất. Dựa trên tình hình sử dụng đất thông qua địa bạ xác định được vị
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 16 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
trí, gianh giới, diện tích và mục đích sử dụng từng loại đất. Xác định chủ sử
dụng đất là ai. Bên cạnh đó, trên cơ sở đăng ký biến động đất đai, thu thập các
thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế của đất: thổ nhưỡng đất đai, thảm thực
vật, khí tượng thủy văn, địa chất. Vị trí của từng khu vực về điều kiện giao
thông, vị trí thuận lợi sử dụng các công trình công cộng…từ đó phân bố đất
đai sử dụng hiệu quả cao.
2.4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch đất đai là một bộ phận của quy hoạch không gian có mục
tiêu trọng tâm là nghiên cứu vấn đề về phát triển và quy hoạch xây dựng đất
đai, các điểm dân cư. Quy hoạch đất đai có liên quan nhiều đến khu vực khoa

Quy hoạch đất đai tạo điều kiện cho việc tính thuế, xác định giá cả các loại
đất đai hợp lý. Thông qua công tác quy hoạch, các thông tin về các loại đất
được thu thập, xử lý, tổng hợp và được thể hiện trên bản đồ quy hoạch.
Những thông tin này có thể là loại đất, quy mô của các chủ sử dụng, mục đích
sử dụng của từng thửa đất (quy hoạch đất đai cấp xã thể hiện rõ thông tin
này). Từ đó cơ quan tài chính có thể dựa vào các thông tin này có thể tiến
hành định giá đất, xác định mức thuế của từng hộ sử dụng phải nộp (vì thuế
suất đối với từng mục đích sử dụng là khác nhau)
2.5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất
Giao đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định
hành chính cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Cho thuê đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng
cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất:
+ Quy hoạch, kế hoach sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy
hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xét duyệt
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
+ Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong các dự án đầu tư, đơn xin giao đất,
cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Quản lý chặt tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất, tránh tình trạng
chuyển mục đích sử dụng đất tùy tiện. Nhất là những loại đất phải xin phép
mới được chuyển mục đích sử dụng đất. Có như vậy mới tạo điều kiện thuận
lợi để người sử dụng đất linh hoạt trong chuyển mục đích sử dụng và để việc
sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Đền bù đất: Để phục vụ cho nhu cầu xây dựng, phát triển đất đai đô thị,
Nhà nước có quyền thu hồi phần diện tích đất đai đã giao cho các tổ chức, cá
nhân sử dụng hiện đang nằm trong vùng quy hoạch xây dựng phát triển. Với

hiện các quyền sử dụng đất của mình mà Nhà nước đã quy định: Chuyển
nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, chuyển đổi, góp vôn liên doanh. Các
quyền này chỉ được thực hiện trong thời gian giao đất và phải đúng mục đích
sử dụng được giao. Trên cơ sở giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
thì các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có thể yên tâm có thể yên tâm đầu tư
thâm canh đất đai tạo cho hệ số sử dụng đất cao hơn.
2.7. Thống kê, kiểm kê đất đai
Là chế độ điều tra, tập hợp phân tích về số lượng, chất lượng đất. Tình
trạng phân bố sử dụng đất và quyền sử dụng đất, cung cấp các số liệu thông
kê cho các cơ quan quản lý nhà đất. Là công tác quan trọng nhằm xác định,
nắm vững được tình hình biến động đất đai trong các giai đoạn, các thời kỳ để
cung cấp các thông tin cần thiết về biến động sử dụng đất đai, giúp cho công
tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cũng như công tác quản lý khác tạo
điều kiện cho việc sử dụng đất đai có hiệu quả cao.
2.8. Quản lý tài chính về đất đai
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 20 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
Tài chính về đất đai bao gồm: nguồn thu ngân sách từ đất đai, tư vấn
giá đất, đấu giá quyền sử dụng đất… Quản lý tài chính về đất đai tức là đặt
vấn đề tài chính vào luất đất đai để đảm bao nguyên tắc:
Quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Quản lý điều tiết của nhà nước trong thị trường bất động sản một cách
có hiệu quả.
Đặt đất đai vận động theo cơ chế thị trường.
Nếu không đưa vấn đề tài chính đất đai vào luật để quản lý sẽ rơi vào
tình trạng buông lỏng thị trường bất động sản gây thất thu cho ngân sách nhà
nước
2.9. Quản lý và phát triển thị trường sử dụng đất trong thị trường bất động
sản
Thị trường bất động sản là tổng hòa các quan hệ mua bán về hàng hóa

lợi cá nhân và do thiếu hiểu biết về pháp luật cũng như những vấn đề bất cập
giữa hiểu pháp luật và thi hành pháp luật. Vì vậy, để phát hiện những vi
phạm, những bất hợp lý trong việc sử dụng và thực hiện pháp luật về đất đai
thì cần có thanh tra, kiểm tra đất đai.
Thông qua thanh tra và kiểm tra đất đai sẽ phát hiện, ngăn ngừa và sử
lý kịp thời những vi phạm pháp luật, tranh chấp, lãnh phí, lấn chiếm và hủy
hoại đất đai. Cũng qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, sẽ giúp xử lý tốt hơn các
khiếu nại, tranh chấp, tố cáo về đất đai. Qua hoạt động thanh tra, kiểm tra
phát hiện và kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước sửa chữa những
thiếu sót trong quá trình quản lý đất đai. Đồng thời, hoàn thiện các chế độ,
chính sách về quản lý và sử dụng đất đai.
2.12. Giải quyết, tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong việc quản lý và sử dụng đất
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 22 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
Trong quan hệ về đất đai việc giải quyết tranh chấp về đất đai là một
trong những biện pháp nhất định để pháp luật đất đai được phát huy vai trò.
Thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, nhà nước điều chỉnh các quan
hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của nhà nước và của xã hội, đồng thời giáo
dục ý thức pháp luật cho mọi người dân.
Tố cáo về đất đai là sự phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về những hành vi trái pháp luật về đất đai của các cá nhân, tổ chức và cơ quan
nhà nước trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
Để đảm bảo cho những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý
và sử dụng đất đai diễn ra phù hợp với ý chí của nhà nước và của người sử
dụng đất thì việc giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai có ý nghĩa hết sức
quan trọng nhằm đáp ứng kịp thời và đầy đủ những yêu cầu đương sự theo
pháp luật.
2.13. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
Các hoạt động dịch vụ công về đất đai như: các loại thuế và thu đối với

tế.
2. Điều kiện kinh tế, kỹ thuật và xã hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và
quản lý, chính sách môi trường và đất đai, yêu cầu quốc phòng,…Điều kiện
kinh tế xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng và
quản lý đất đai. Thực vậy, quản lý và sử dụng đất được quyết định bởi yêu
cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Điều kiện tự
nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử
dụng đất. Còn sử dụng như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con
người và các điều kiện kinh tế xã hội kỹ thuật hiện có.
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 24 GVHD: TS. Nguyễn Thế Phán
Trong một vùng hoặc trên phạm vi một nước, điều kiện tự nhiên của
đất đai thường có sự khác biệt không lớn, về cơ bản là giống nhau. Nhưng với
điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến tình trạng có vùng đất đai được
khai thác sử dụng triệt để từ lâu đời và đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao; có
nơi thì bỏ hoang hoặc khai thác hiệu quả rất thấp…Có thể nhận thấy điều kiện
tự nhiên của đất đai chỉ là nhân tố khách quan, khai thác và sử dụng đất đai
quyết định vẫn là con người. Cho dù điều kiện tự nhiên có nhiều lợi thế,
nhưng các điều kiện xã hội, kinh tế, kỹ thuật không tương ứng, thì ưu thế tài
nguyên cũng khó có thể trở thành sức sản xuất hiện thực, cũng như chuyển
hóa thành ưu thế kinh tế.
Ảnh hưởng các điều kiện kinh tế đến việc sử dụng đất được đánh giá
bằng hiệu quả sử dụng đất. thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh
tế của người sở hữu sử dụng đất, sử dụng và kinh doanh đât đai. Trong điều
kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đất được dùng
cho xây dựng cơ sở hạ tầng đều dựa trên nguyên tắc hạch toán kinh tế thông
qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh sản xuất. Tuy nhiên, nếu có chính sách
ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng theo kiểu bóc lột đất
đai. Mặt khác sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa, cũng dẫn đến việc

trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc quan lý và sử dụng đất.
Không gian mà đất đai cung cấp có đặc tính vĩnh cửu, cố định vị trí khi
sử dụng và số lượng không thể vượt phạm vi quy mô hiện có. Do vị trí và
không gian của đất đai không bị mất đi và cũng không tăng thêm trong qúa
trình sử dụng, nên phần nào đã giới hạn sức tải nhân khẩu và số lượng người
lao động, có nghĩa tác dụng hạn chế không gian đất đai sẽ thường xuyên xảy
ra khi dân số và kinh tế tự nhiên luôn phát triển.
Sinh viên: Cầm Việt Thái Lớp: Địa Chính 46


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status