KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE Ô TÔ
I/ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI CÓ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE Ô TÔ
1. Đặc điểm hoạt động của xe ô tô
Xe ô tô là loại xe hoạt động bằng chính động cơ của mình và được phép
lưu hành trên lãnh thổ của mỗi quốc gia. Xe ô tô không chỉ là phương tiện vận
chuyển mà còn là một tài sản có giá trị lớn của các cá nhân và tổ chức. Trong
thời đại ngày nay ô tô là một phương thức vận tải phát triển nhanh nhất và năng
động nhất bởi một số ưu thế sau: năng động linh hoạt, tiếp cận nhanh mọi nhu
cầu vận tải của toàn xã hội, là phương tiện vận tải rất có hiệu quả đối với đường
ngắn và thích hợp với cơ chế thị trường và quy luật cung cầu.
Trong quá trình hoạt động, xe ô tô có một số đặc điểm sau:
- Xe ô tô có tính động cơ cao, tính việt giã tốt và nó tham gia triệt để quá
trình vận chuyển nên xác suất rủi ro đã lớn lại càng lớn hơn so với các phương
tiện vận chuyển khác.
- Số lượng ô tô tham gia giao thông ngày càng tăng lên đặc biệt ở các
nước có nền kinh tế đang phát triển, chậm phát triển. Lượng xe ô tô ở Việt Nam
từ hàng trăm chiếc vào đầu thế kỷ 20 nay đã tăng lên hàng triệu chiếc, tỷ lệ tăng
trưởng trung bình hàng năm đối với ô tô là 8 - 8,5%. Vì vậy tai nạn giao thông
xảy ra ngày càng tăng và mức độ thiệt hại ngày càng nghiêm trọng.
Bảng 1: Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam giai đoạn
1999 - 2003
Năm Số vụ tai nạn
giao thông (vụ)
Số người chết
(người)
Số người bị
thương (người)
1999 20.733 6.670 23.911
2000 23.500 7.500 27.538
2001 29.713 10.477 34.000
2002 26.424 12.825 27.909
những thiệt hại do ô tô gây ra trong quá trình vận chuyển không phải là nhỏ.
Phần lớn những vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra đều có sự góp mặt
của ô tô. Tai nạn giao thông đường bộ xuất hiện ở khắp mọi nơi không trừ một
quốc gia nào kể cả những nước có hệ thống hạ tầng giao thông hiện đại như:
Anh, Pháp, Đức, Mỹ. Ở nước ta, cùng với đà tăng lên về số lượng ô tô cũng là
sự tăng lên của số vụ tai nạn giao thông đường bộ và mức độ thiệt hại. Các chủ
xe luôn phải đối mặt với không ít những nguy cơ rủi ro khác nhau trong quá
trình vận chuyển như:
- Nguy cơ rủi ro về tài sản
- Nguy cơ rủi ro về trách nhiệm pháp lý
- Nguy cơ rủi ro về nguồn nhân lực
Những rủi ro trên đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các chủ xe, làm cho họ mất
mát về tài sản, làm ngưng trệ quá trình sản xuất kinh doanh và đặc biệt là ảnh
hưởng lớn đến nguồn tài chính của họ.
Để đối phó với những tổn thất do các rủi ro trên gây ra, chủ xe có thể
thực hiện các biện pháp như: lập một quỹ dự phòng dùng vào việc khắc phục
tổn thất xảy ra cho xe ô tô, đi vay hoặc rút tiền gửi ngân hàng, mua bảo hiểm vật
chất xe ô tô. Trong số những biện pháp đó thì biện pháp mua bảo hiểm tỏ ra có
hiệu quả hơn hẳn bởi tính chắc chắn và ổn định của nó. Việc mua bảo hiểm
chính là việc chủ xe chuyển giao rủi ro của họ cho doanh nghiệp bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có trách nhiệm bồi thường cho họ những tổn thất
thuộc phạm vi bảo hiểm. Xe ô tô là loại tài sản có giá trị lớn trong các phương
tiện giao thông đường bộ bởi vậy thiệt hại đối với xe ô tô đôi khi cũng gây ra
gánh nặng vô cùng lớn cho các chủ xe đặc biệt đối với những xe dùng vào việc
kinh doanh. Rủi ro tai nạn là rủi ro bất ngờ không thể biết trước lúc nào sẽ xảy
ra, do đó việc nộp phí bảo hiểm sẽ tạo ra thói quen đề phòng cho các chủ xe
trước những rủi ro đó. Do đó việc mua bảo hiểm vật chất xe ô tô đã trở nên hết
sức cần thiết đối với các chủ xe hiện nay. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
việc mua bảo hiểm vật chất xe ô tô rất được người dân quan tâm tới bởi phương
tiện đi lại của họ chủ yếu là xe ô tô và các phương tiện công cộng. Sự cần thiết
thể dùng để đầu tư ngắn hạn đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất
nước như: cho vay, mua trái phiếu, kinh doanh bất động sản, tham gia vào thị
trường chứng khoán…
Như vậy với những tác dụng tích cực như trên việc triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm vật chất xe ô tô là cần thiết khách quan nhất là trong tình hình nền
kinh tế thế giới không ngừng phát triển như hiện nay.
II/ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE Ô TÔ
1. Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm là đối tượng ở trong tình trạng chịu sự đe doạ của rủi
ro. Vì mục đích đảm bảo an toàn, phục hồi, tái tạo lại đối tượng bảo hiểm mà
một hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết.
Khác với loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với
người thứ ba và đối với hành khách trên xe được áp dụng bắt buộc bằng pháp
luật đối với chủ xe, bảo hiểm vật chất xe ô tô là loại hình bảo hiểm tự nguyện.
Bảo hiểm vật chất xe ô tô có đối tượng bảo hiểm là thiệt hại vật chất của
xe xảy ra do những tai nạn bất ngờ ngoài sự kiểm soát của chủ xe trong những
trường hợp cụ thể do quy tắc bảo hiểm quy định. Chủ xe có thể tham gia bảo
hiểm toàn bộ xe hoặc cũng có thể tham gia bảo hiểm từng tổng thành của chiếc
xe. Căn cứ vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật, xe ô tô được chia thành 7 tổng thành
sau:
- Tổng thành động cơ gồm động cơ, bộ chế hoà khí, bơm cao áp, bầu lọc
gió, bầu lọc dầu, bộ li hợp và các thiết bị điện.
- Tổng thành thân vỏ xe: có ba nhóm
Nhóm A: Thân vỏ: Ca bin, kalăng, cabrô, chắn bùn, toàn bộ cửa kính,
toàn bộ vỏ kim loại, nhựa và gỗ, các cần gạt, bàn đạp ga, côn, số, phanh.
Nhóm B: Ghế đệm nội thất: Toàn bộ ghế ngồi hoặc nằm, các trang thiết
bị điều hoà nhiệt độ, quạt, đài…
Nhóm C: Sắt xi gồm: khung xe bađờ sốc, các cơ cấu bắt chặt vào khung
xe, tổng bơm, phanh, dẫn động phanh chính và phanh tay, dẫn động côn, các
bình chứa hơi phanh, bình chứa nhiên liệu, các đường ống và tuyến dẫn nhiên
tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý phát sinh trong tai nạn
thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm:
- Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm;
- Bảo vệ xe và đưa xe bị thiệt hại đến nơi sửa chữa gần nhất;
- Giám định tổn thất.
Trong mọi trường hợp, tổng số tiền bồi thường trong một vụ tai nạn
không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm dù cho
chủ xe có tham gia bảo hiểm vật chất xe ở nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác
nhau đi chăng nữa.
Đồng thời doanh nghiệp bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm bồi
thường những thiệt hại vật chất xe trong những trường hợp sau:
* Những điểm loại trừ chung:
- Hành động cố ý gây tai nạn của chủ xe, lái xe;
- Xe không có Giấy chứng nhận kiểm định an toàn và bảo vệ môi trường
hợp lệ;
- Chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng Luật an toàn giao thông đường bộ
như:
+ Lái xe không có bằng lái hoặc có nhưng không hợp lệ;
+ Lái xe có nồng độ cồn, rượu bia vượt quá quy định của pháp luật
hiện hành trong khi điều khiển xe;
+ Xe vận chuyển chất cháy, nổ trái phép;
+ Xe sử dụng để tập lái, đua xe, chạy thử sau khi sửa chữa;
+ Xe đi đêm không có đèn chiếu sáng theo quy định;
+ Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm;
+ Xe chở quá trọng tải hoặc số hành khách quy định;
- Những thiệt hại có tính chất hậu quả gián tiếp như: Giảm giá trị thương
mại, ngừng sản xuất, sử dụng, khai thác;
- Thiệt hại do chiến tranh;
- Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam (trừ khi có thoả thuận khác);
* Những điểm loại trừ riêng:
xác định số tiền bảo hiểm.
Trong bảo hiểm vật chất xe ô tô, cách thức bảo hiểm toàn bộ hay bảo hiểm bộ
phận sẽ chi phối việc thoả thuận về số tiền bảo hiểm của hợp đồng.
Đối với bảo hiểm toàn bộ xe, số tiền bảo hiểm dựa vào việc xác định giá
trị bảo hiểm của xe. Giá trị bảo hiểm của xe ô tô là giá trị thực tế trên thị trường
của xe tại thời điểm người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm.Việc xác định đúng
giá trị của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường
chính xác thiệt hại thực tế cho chủ xe tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên giá xe trên
thị trường luôn luôn biến động và có thêm nhiều chủng loại xe mới gây khó
khăn cho việc xác định giá trị xe. Hiện nay ở Việt Nam rất nhiều xe đã qua sử
dụng, sửa chữa tân trang lại nên việc xác định đúng giá trị thực tế của xe là vô
cùng khó khăn và phức tạp.
Về nguyên tắc để xác định giá trị xe một cách đầy đủ chính xác nhất thì phải
thành lập một hội đồng đánh giá giá trị hoặc tổ chức đấu giá. Nhưng trong thực
tế thì các bên không đủ chi phí và thời gian để làm như vậy với hàng trăm chiếc
xe ô tô tham gia bảo hiểm. Do đó trước khi tham gia bảo hiểm các công ty bảo
hiểm và các chủ xe sẽ tiến hành thoả thuận đánh giá giá trị thực tế của xe theo
cách sau:
* Đánh giá giá trị thực tế của xe theo thị trường: doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ cùng với chủ xe thảo luận xác định giá trị thực tế của xe trên thị trường kết
hợp với giám định tình trạng thực tế của xe trong quá trình sử dụng. Việc xác
định giá trị thực tế của xe trên thị trường căn cứ vào các yếu tố sau:
- Giá mua ban đầu của xe
- Giá mới của xe cùng loại trên thị trường vào thời điểm hiện tại có tham
khảo bảng giá trị xe mới do doanh nghiệp bảo hiểm ban hành hàng năm và giá
xe tại các hãng xe ô tô trên cơ sở sự biến động về giá cả xe mới trên thị trường.
- Xu hướng tiêu dùng các loại xe của thị trường, tình hình sản xuất trong
nước hoặc nhập khẩu của các xe cùng loại hay các phụ tùng thay thế.
- Tình trạng hao mòn thực tế của xe: Có thể dựa vào các căn cứ sau để
đánh giá:
S
.T
TTĐB
)
Trong đó:
-
Chi phí sửa
chữa lớn, đại
tu (nếu có)
Giá trị
còn lại
của xe
Khấu hao tài
sản theo
thời gian sử
dụng
Nguyên
giá
+
=
GT
TT
: Giá trị thực tế của xe
CIF: Giá CIF (*)
T
S
.T
NK
: Thuế suất thuế nhập khẩu
T
Tỷ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Xác suất thống kê các vụ tai nạn xảy ra nói chung
- Thiệt hại bình quân mỗi vụ tai nạn nói chung
- Địa hình và phạm vi hoạt động của chiếc xe
- Tình hình sửa chữa lớn và hiện đại hoá xe
- Thời hạn bảo hiểm: Thông thường thời hạn bảo hiểm là một năm tuy
nhiên nếu chủ xe có yêu cầu thì nhà bảo hiểm vẫn nhận bảo hiểm ngắn hạn và
chủ xe sẽ được giảm phí theo tỷ lệ giảm phí do bộ tài chính quy định.
Bảng 2: Biểu phí ngắn hạn theo quy định của Bộ Tài chính
Thời hạn bảo hiểm Mức phí áp dụng (% phí bảo hiểm năm)
Đến 3 tháng 30%
Trên 3 đến 6 tháng 60%
Trên 6 đến 9 tháng 90%
Trên 9 đến 12 tháng 100%
Bảng 3: Biểu phí dài hạn theo quy định của Bộ Tài chính
Thời hạn bảo hiểm Mức phí áp dụng (% phí bảo hiểm năm)
Trên 12 đến 15 tháng 124%
Trên 15 đến 18 tháng 144%
Trên 18 đến 21 tháng 162%
Trên 21 đến 24 tháng 168%
Trên 24 đến 30 tháng 208%
Trên 30 đến 36 tháng 240%
Bảng 4a: Biểu phí bảo hiểm vật chất xe ô tô của Tổng công ty bảo hiểm
Việt Nam (chưa tính thuế VAT)
Phạm vi bảo hiểm Phí bảo hiểm
Bảo hiểm toàn bộ xe 1,36% số tiền bảo hiểm
Bảo hiểm thân vỏ xe 2,27% số tiền bảo hiểm
(Nguồn: Công ty Bảo Việt Hà Nội)