TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN - Pdf 76

TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN
1.1. Chứng khoán và đầu tư chứng khoán.
1.1.1. Chứng khoán
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chứng khoán, tuy nhiên, theo nghĩa
chung nhất, có thể hiểu Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá và có thể mua
bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán, khi đó chứng khoán là hàng
hóa trên thị trường đó. Dùng Security, nghĩa gốc là an toàn, để gọi tên chứng
khoán xuất phát từ việc coi nắm giữ chứng khoán là việc sở hữu an toàn và
thuận tiện một tài sản nào đó. Chứng khoán chính là tài sản tài chính vỉ nó mang
lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể bán nó để thu tiền về. Chứng
khoán có rất nhiều loại: cổ phiếu, trái phiếu và một số loại khác như quyền mua
cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư.
Nói chung, người ta phân chia chứng khoán thành 4 nhóm chính là cổ phiếu,
trái phiếu, chứng khoán có thể chuyển đổi và các chứng khoán phái sinh.
* Cổ phiếu: là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần.
Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, có hai
loại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
- Cổ phiếu phổ thông: là loại cổ phiếu có thu nhập phụ̀ thuộc vào hoạt động
kinh doanh của công ty. Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được tham gia họp
Đại hội đồng cổ đông và được bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng
nhất của công ty, được quyền bầu cử và ứng cử vào Hội đồng quản trị của công
ty.
- Cổ phiếu ưu đãi: tương tự như cổ phiếu phổ thông nhưng cổ đông sở hữu
nó không được tham gia bầu cử và ứng cử vào Hội đồng quản trị, nhưng lại có
quyền được hưởng thu nhập cố định hàng năm theo một tỷ lệ lãi suất cố định
không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty, được ưu tiên chia lãi cổ phần trước
cổ đông phổ thông và được ưu tiên chia tài sản còn lại của công ty khi công ty
thanh lý, giải thể.

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia
quản lý điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, được thực hiện dưới các hình
thức như góp vốn kinh doanh hoặc thực hiện các hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư không trực tiếp tham gia
điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, được thực hiện dưới
các hình thức như đầu tư chứng khoán hoặc cho vay đầu tư đối với các tổ chức
kinh tế.
Như vậy đầu tư chứng khoán là một trong những hình thức đầu tư gián tiếp
của các nhà đầu tư vào các doanh nghiệp, ở đó chủ đầu tư bỏ vốn để mua các
chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) của doanh nghiệp đang lưu hành trên thị
trường chứng khoán nhằm đạt được những lợi ích nhất định.
Đầu tư chứng khoán là một hình thức đầu tư khá phổ biến ở các nước có nền
kinh tế thị trường và thị trường chứng khoan phát triển. Mục đích của đầu tư
chứng khoán trước hết là nhằm thu được lợi nhuận từ số tiền đã bỏ ra đầu tư.
Phần lợi nhuận này được hình thành từ lợi tức chứng khoán mà chủ doanh
nghiệp trả cho người đầu tư theo quy định và phần chênh lệch giá chứng khoán
khi họ chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán trên thị trường. Tiếp đến mục
đích của đầu tư chứng khoán là để phân tán rủi ro có thể gặp trong tương lai như
đa dạng hoá các hình thức đầu tư; để thực hiện quyền kiểm soát hoặc tham gia
quản trị doanh nghiệp với tư cách người nắm cổ phần, vốn góp chi phối. Các
mục đích có thể khác nhau tuỳ theo ý định của nhà đầu tư, song cũng có thể là
tổng hợp các mục tiêu trên trong những tình huống cụ thể.
1.1.2.2. Các hình thức đầu tư chứng khoán
• Theo loại chứng khoán đầu tư
Các chứng khoán doanh nghiệp có nhiều loại như cổ phiếu (cổ phiếu ưu đãi,
cổ phiếu thường…), trái phiếu (trái phiếu thường, trái phiếu có khả năng chuyển
đổi…), các chứng khoán phái sinh (hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn,
chứng quyền, chứng khế…). Mỗi loại chứng khoán có khả năng sinh lời cũng
như mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản, quyền kiểm soát hoặc tham gia quản
trị doanh nghiệp khác nhau. Vì vậy, khi lựa chọn quyết định đầu tư chứng

kinh tế của nhà nước; khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường;
chính sách chi trả lợi tức cổ phần của doanh nghiệp… Vì thế để tối đa hoá lợi
nhuận, nhà đầu tư cần phải phân tích, đánh giá kỹ các nhân tố có thể ảnh hưởng
đến khả năng sinh lời nêu trên để lựa chọn quyết định đầu tư cho phù hợp.
- Mức độ rủi ro có thể gặp của loại chứng khoán được đầu tư; để có thể thu
được lợi nhuận tối đa trong đầu tư chứng khoán nhà đầu tư còn phải biết cách
tối thiểu hoá các rủi ro có thể gặp. Việc đánh giá mức độ rủi ro trong đầu tư
chứng khoán không chỉ đối với từng loại chứng khoán riêng rẽ mà còn đối với
toàn bộ danh mục đầu tư chứng khoán nhằm hạn chế và phân tán rủi ro. Thông
thường, mức độ rủi ro có sự khác biệt nhất định giữa các chứng khoán vốn và
chứng khoán nợ, giữa chứng khoán có thời hạn thanh toán khác nhau, giữa
chứng khoán có khả năng chuyển đổi hoặc không chuyển đổi, giữa chứng khoán
của các doanh nghiệp hoặc ngành kinh doanh khác nhau.. .Việc đánh giá mức
độ rủi ro đầu tư chứng khoán cũng đòi hỏi năng lực, kỹ năng phân tích đánh giá
rủi ro nhất định của các nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường.
- Khả năng thanh khoản của chứng khoán đầu tư: tính thanh khoản (hay
còn gọi là tính lỏng) của chứng khoán là khả năng dễ dàng chuyển đổi chứng
khoán thành tiền mặt. Thông thường khi có số tiền mặt nhàn rỗi nhà đầu tư
thường đầu tư chứng khoán để thu lợi nhuận, song khi cần tiền mặt để đáp ứmg
các nhu cầu cá nhân hoặc chuyển hướng đầu tư họ lại muốn chuyển nhượng
chứng khoán đang sở hữu để thu tiền về. Nếu cá chứng khoán mà họ sở hữu có
khả năng thanh khoản cao, việc sở hữu chứng khoán cũng tiện ích không khác
gì việc nắm giữ tiền mặt thì sẽ khuyến khích họ đầu tư chứng khoán và ngược
lại. Do đo tính thanh khoản của chứng khoán cũng là một yếu tố quan trọng để
các nhà đầu tư cần xem xét, lựa chọn.
- Mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Đôi
khi mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp cũng là
một nhân tố được xét đến khi lựa chọn quyết định đầu tư chứng khoán. Quyền
hạn và lợi ích của nhà đầu tư chứng khoán thường được tăng them theo mức độ
nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp. Vì vậy khi đầu tư chứng khoán họ cũng cần

xuất phát từ đặc điểm của bản thân công ty (rủi ro không hệ thống), một loại
khác từ toàn bộ thị trường (rủi ro hệ thống). Những rủi ro đặc thù tác động đến
một hoặc một vài khoản đầu tư, trong khi rủi ro hệ thống tác động đến tất cả các
khoản đầu tư. Đây là một điều hết sức quan trọng trong quá trình tính toán rủi
ro. Rủi ro được phân chia thành dạng bảng như sau:
Toàn bộ
thị trường
Những dự án tốt hơn hoặc xấu hơn dự kiến
Khu vực tổng thể có thể bị tác động bởi những hành động nào đó
Lãi suất, lạm phát và những thông tin về nền kinh tế
Cạnh tranh lớn hơn hoặc yếu hơn
Tỷ giá hối đoái và rủi ro chính trị tác động đến nhiều lợi tức chứng khoán
Từng doanh nghiệp cụ thể
Rủi ro chỉ tác động đến 01 Công ty
Tác động đến một số công ty
Tác động nhiều công ty
Rủi ro tác động đến mọi khoản đầu tư
Bảng 1. Phân loại rủi ro
1.2.2.1. Rủi ro hệ thống:
Là những rủi ro có ảnh hưởng đồng thời đến hầu hết các chứng khoán đang
được lưu hành trên thị trường. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống thường là các
tác nhân kinh tế nằm ngoài sự kiểm soát của các công ty phát hành như: tình
trạng lạm phát hoặc thiểu phát của nền kinh tế, những biến động bất lợi của tỷ
giá hối đoái hoặc lãi suất thị trường, sự suy thoái hay khủng hoảng của nền kinh
tế… Các loại rủi ro hệ thống tiêu biểu bao gồm: rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất,
rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro sức mua…
- Rủi ro thị trường là rủi ro do sự biến động của giá cả chứng khoán trên
thị trường. Đó là kết quả của những hiệu ứng về tương quan giữa cung và cầu
của các loại chứng khoán trên thị trường. Nguyên nhân của những biến động giá
cả chứng khoán thường rất phức tạp, có thể cả những sự kiện hữu hình hoặc vô

thanh toán lợi tức chứng khoán hoặc hoàn vốn cho người sở hữu chứng khoán
do việc lựa chọn cơ cầu tài chính không hợp lý hoặc có sự mất cân đối giữa
doanh thu và chi phí của doanh nghiệp.
Rủi ro quản lý là rủi ro do tác động của các quyết định quản lý không hợp
lý từ các nhà quản trị doanh nghiệp.
1.3. Các biện pháp quản lý rủi ro trong đầu tư chứng khoán.
Để thực hiện đầu tư chứng khoán có hiệu quả, hạn chế rủi ro, chúng ta cần
thực hiện việc đầu tư và quản lý đầu tư chứng khoán theo các bước sau:
- Phân tích và lựa chọn danh mục đầu tư chứng khoán: Việc đầu tư chứng
khoán thường bắt đầu bằng việc phân tích và lựa chọn danh mục đầu tư chứng
khoán tối ưu sao cho vừa có thể đem lại tỷ suất sinh lời cao, đồng thời hạn chế
tối đa các rủi ro đầu tư có thể gặp phải. Việc lựa chọn một danh mục đầu tư
chứng khoán cụ thể sẽ tuỳ thuộc vào chiến lược đầu tư chứng khoán của từng
nhà đầu tư riêng biệt.
- Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán: Hoạt động đầu tư chứng khoán
không chỉ dừng lại ở chỗ lựa chọn được danh mục đầu tư chứng khoan mà còn
ở chỗ quản lý, điều chỉnh danh mục đầu tư trong suốt thời gian nắm giữ chúng
phù hợp với những diễn biến cụ thể của thị trường.
1.3.1. Phân tích chứng khoán
1.3.1.1. Khái niệm và quy trình thực hiện
Phân tích chứng khoán là bước khởi đầu cho hoạt động đầu tư chứng khoán.
Mục tiêu của phân tích chứng khoán là giúp cho nhà đầu tư chứng khoán lựa
chọn được các quyết định đầu tư chứng khoán có hiệu quả nhất, mang lại lợi
nhuận tối đa và rủi ro tối thiểu.
Kết quả phân tích chứng khoán phải làm rõ được các căn cứ cho sự lựa chọn
quyết định đầu tư. Nó phải trả lời được các câu hỏi cơ bản: khi nào thì nên đầu
tư, nên đầu tư vào loại chứng khoán nào và với giá cả ra sao, khi nào thì nên rút
khỏi thị trường… Để đạt được kết quả đó, việc phân tích chứng khoán cần được
tiến hành theo một quy trình cụ thể, khoa học.
Về lý thuyết phương pháp phân tích chứng khoán có thể theo quy trình từ

trường chứng khoán. Bởi lẽ sự thay đổi về thể chế chính trị thường kéo theo sự
thay đổi về chính sách kinh tế, xã hội, chính sách chi tiêu ngân sách… ảnh
hưởng to lớn đến đời sống kinh tế của đất nước.
- Ảnh hưởng của môi trường pháp luật
Ngày nay, hầu hết các nước đều quản lý đất nước theo chế độ pháp quyền, vì
thế môi trường pháp luật cũng có tác động quan trọng đến hoạt động của doanh
nghiệp và thị trường chứng khoán. Nền kinh tế thị trường có đặc điểm cơ bản là
thị trường đóng vai trò chính trong sự phân bổ sử dụng các nguồn lực trong xã
hội, còn nhà nước chỉ là người tạo lập khung pháp lý và giám sát thực thi pháp
luật của các chủ thể tham gia thị trường. Do đó, việc ban hành các bộ luật, các
chính sách của Nhà nước, các ban ngành, đặc biệt là các chính sách kinh tế, tài
chính, tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và thị trường chứng
khoán. Việc phân tích môi trường pháp lý cần được xem xét trên nhiều mặt như:
tính hệ thống, đồng bộ, ổn định, minh bạch, khả thi của hệ thống pháp luật chi
phối đến hoạt động của các doanh nghiệp và thị trường chứng khoán.
- Tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô khác như chu kỳ kinh tế, năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô:
Sự phát triển của nền kinh tế thường biến động theo nhiều chu kỳ kinh tế
nhất định. Thông thường một chu kỳ kinh tế thường bao gồm các giai đoạn tăng
trưởng, ổn định, suy thoái và hồi phục. Việc nghiên cứu, nắm bắt và dự đoán
các chu kỳ kinh tế là rất cần thiết trong đầu tư chứng khoán.
Việc mở cửa, hội nhập kinh tế cũng là một xu thế tất yếu trong phát triển
kinh tế của mỗi nước. Mở cửa, hội nhập vừa đem lại những thời cơ, song đồng
thời cũng đem lại những thách thức, nguy cơ đối với nền kinh tế mỗi nước. Để
đối phó với những nguy cơ trong quá trình hội nhập đòi hỏi kinh tế các nước
phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh,thích ứng dần với nền kinh tế
thê giới.
Khi phân tích các yếu tố kinh tế vĩ mô không thể không xem xét sự biến
động của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản như: tốc độ tăng trưởng kinh tế
(GDP),tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát và lãi suất thị trường, tỷ giá hối đoái, thu

f
+ β( R
m
- R
f
)
Trong đó: E(R) : Mức lợi suất đòi hỏi
R
f
: Mức lợi suất phi rủi ro
R
m
: Mức sinh lời bình quân thị trường
β: Hệ số rủi ro ngành
- Phân tích hệ số P/E của ngành: Hệ số P/E phản ánh thị trường trả giá cho
một đồng thu nhập sau thuế của cổ phiếu công ty như thế nào. Nếu hệ số P/E
cao chứng tỏ công ty làm ăn có hiệu quả nên được thị trường đánh giá cao và
ngược lại. Việc phân tích hệ số P/E thường được xem xét cả trên 2 góc độ:
- (i) xem xét mối quan hệ giữa hệ số P/E của ngành và hệ số P/E tổng thể
của thị trường để thấy được tính hiệu quả trong hoạt động của công ty so với
các doanh nghiệp trong cùng ngành như thế nào;
- (ii) Xem xét các nhân tố ngành tác động đến hệ số P/E ngành như: hệ số trả
cổ tức, mức doanh lợi đòi hỏi, tỷ lệ tăng trưởng lợi tức hàng năm..
- Uớc tính thu nhập trên một cổ phiếu (EPS hoặc E): thu nhập trên một cổ
phiếu được xác định dựa vào các phương pháp chủ yếu như phân tích chu kỳ
kinh doanh, phân tích đầu vào- đầu ra, phân tích mối quan hệ giữa ngành và nền
kinh tế.
- Ước tính mức lợi suất đạt được: Để ước tính mức lợi suất đạt được phải
tiến hành qua 2 bước. Trước hết cần xác định được giá trị cuối kỳ của chỉ số
ngành bằng cách nhân hệ số P/E cuối kỳ tính toán được với ước tính thu nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status