ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------------------
Hoàng Thái Bình XÂY DỰNG BẢN ðỒ NGẬP LỤT HẠ LƯU HỆ THỐNG SÔNG
NHẬT LỆ (MỸ TRUNG – TÁM LU – ðỒNG HỚI) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2009
ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------------------
1.2 ðặc ñiểm kinh tế xã hội ................................................................12
1.3 Tình hình lũ lụt trên hệ thống sông Nhật Lệ.................................15
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT XÂY DỰNG BẢN ðỒ NGẬP LỤT .....................19
2.1 Tổng quan chung...........................................................................19
2.2 Tổng quan về các mô hình thủy văn,
thủy lực tính toán ngập lụt ............................................................21
2.3 Cơ sở lý thuyết mô hình MIKE FLOOD......................................27
2.4 Giới thiệu quy trình xây dựng bản ñồ ngập lụt
kết hợp công cụ GIS ....................................................................38
CHƯƠNG 3.
XÂY DỰNG BẢN ðỒ NGẬP LỤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU.............43
3.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu................................................................. 43
3.2 Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD .............................................. 45
3.3 Tính toán ngập lụt theo kịch bản ứng với
tần suất 1%, 5% và 10%......................................................................58
3.4 Xây dựng bản ñồ ngập lụt.............................................................61
3.5 Nhận xét........................................................................................62
KẾT LUẬN ................................................................................................ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 64
MỞ ðẦU
Lũ lụt miền Trung nói chung và lưu vực sông Nhật Lệ nói riêng là một
trong những tai biến tự nhiên, thường xuyên ñe dọa cuộc sống của người dân
và sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng.
Vào những năm cuối thế kỷ XX, ñầu thế kỷ XXI thiên tai lũ lụt ñã liên
tiếp xảy ra ở lưu vực sông Nhật Lệ. ðặc biệt các trận lũ lịch sử vào tháng XI
và tháng XII/1999 ước tính tổn thất nhiều tỷ ñồng, làm chết hàng trăm
người... [3, 10]. Lũ lụt ñã ñể lại hậu quả hết sức nặng nề, hàng ngàn hộ dân
phải di dời khỏi các vùng sạt lở, ngập lụt, hệ sinh thái môi trường các vùng
ðồng Hới)”. Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở quy hoạch phòng chống lũ
cho khu vực cũng như là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà hoạch ñịnh chính
sách và ra quyết ñịnh ở ñịa phương.
Bố cục của luận văn bao gồm:
Mở ñầu
Chương 1. ðặc ñiểm ñịa lý tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên
cứu liên quan ñến vấn ñề ngập lụt
Chương 2. Cơ sở lý thuyết xây dựng bản ñồ ngập lụt
Chương 3. Xây dựng bản ñồ ngập lụt khu vực nghiên cứu.
Kết luận
Tài liệu tham khảo. CHƯƠNG 1 - ðẶC ðIỂM ðỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ðẾN VẤN ðỀ NGẬP LỤT
1.1. ðặc ñiểm ñịa lý tự nhiên
a. Vị trí ñịa lý
Quảng Bình là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, dựa lưng vào dãy
Trường Sơn hùng vĩ và trông ra Biển ðông rộng lớn. Lãnh thổ của tỉnh nằm
trong khoảng từ 16
o
55'08'' ñến 18
o
05'12'' vĩ ñộ Bắc và từ 105
o
36'55'' ñến
106
o
59'37'' kinh ñộ ðông. Về phía Bắc, Quảng Bình giáp Hà Tĩnh (136,5 km),
phía Nam giáp Quảng Trị (78,8 km), phía ðông giáp Biển ðông với ñường
soong" trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ và cũng là ñiểm xuất
phát của con ñường "xẻ dọc Trường Sơn ñi cứu nước"...
Về mặt kinh tế, với các tuyến giao thông ñường bộ (mà quan trọng nhất
là ñường quốc lộ 1 A, rồi ñến quốc lộ 15 và các nhánh chạy sang phía Tây)
cũng như các tuyến ñường sắt, ñường thuỷ, Quảng Bình có nhiều thuận lợi ñể
mở rộng việc giao lưu kinh tế hàng hoá với các tỉnh trong nước và quốc tế,
sớm hội nhập vào xu thế chung của cả nước.
Cửa Nhật Lệ thuộc ñịa phận thành phố ðồng Hới, tỉnh Quảng Bình có
toạ ñộ ñịa lý 17
0
29' vĩ ñộ Bắc và 106
0
38' kinh ñộ ðông. Trước khi ñổ ra biển,
ñoạn cửa sông Nhật Lệ từ Quán Hầu cho tới thành phố ðồng Hới, có hướng
gần như á kinh tuyến và khi ñổ ra biển, cửa sông có hướng ðông Bắc, còn
ñường bờ biển khu vực cửa sông có hướng Tây Bắc - ðông Nam. Vùng hạ
lưu của lưu vực sông Kiến Giang là ñồng bằng duyên hải, chủ yếu là các cồn
cát, bậc thềm, ñồi thấp... và xen lẫn giữa chúng là các ñồng bằng nhỏ hẹp kéo
dài theo thung lũng sông.
b. ðịa hình, ñịa mạo
ðịa hình khu vực nghiên cứu nhìn chung thấp dần từ Tây sang ðông,
bởi ñây là chân sườn phía ðông của dãy Trường Sơn tiếp giáp với biển ðông.
ðồi núi chiếm 85% diện tích toàn tỉnh và bị chia cắt mạnh.
Chạy dần về phía ðông là các bề mặt nghiêng thấp dần ra phía biển có
ñộ cao trên 15 m, ñó là các ñịa hình ñồi thấp, các bậc thềm sông, thềm biển...,
ñược thành tạo bởi các trầm tích cuội, sạn, cát, sét, sét bột... tiếp theo là ñồng
bằng duyên hải nhỏ và hẹp của khu vực thành phố ðồng Hới có nguồn gốc
sông, sông biển phân bố ở ñộ cao từ 15 m trở xuống. Sau cùng là những trảng
cát ven biển có dạng lưỡi liềm hoặc dẻ quạt, các cồn cát này có nguồn gốc
trong việc ña dạng hoá nền kinh tế theo hướng kết hợp giữa ñất liền với vùng
biển và ven biển. Tuy nhiên, sự xuất hiện của ñịa hình cồn cát là yếu tố bất lợi
ñáng kể và cùng với nó là vấn ñề bảo vệ môi trường. [10]
c. ðịa chất, thổ nhưỡng
Trầm tích hiện ñại ở dải ven biển cửa sông Nhật Lệ phân bố ở diện hẹp,
kéo dài cùng phương với ñường bờ biển. Trầm tích cát trung, cát nhỏ, bột có
chiếm từ 50 - 90%, các trầm tích chuyển tiếp cát thô - cát trung, cát trung - cát
nhỏ, cát - bột mỗi cấp hạt chỉ chiếm từ 30 - 40%. Trầm tích tầng mặt hiện ñại
ña phần có ñộ chọn lọc (So) tốt, giá trị So ñạt từ 1 - 2, riêng ñối với các trầm
tích sét bột ñộ chọn lọc kém hơn với giá trị So ñạt từ 2,7 - 5. Trầm tích ở dải
ven biển có ñường kính trung bình (Md) thay ñổi từ 0,1 - 1,1 mm, có màu
trắng, trắng xám, trắng nhạt và vàng trắng. ðối với các trầm tích trong sông
do có lẫn thành phần hữu cơ nên thường có màu xám xanh hoặc nâu xám, giá
trị Md thay ñổi từ 0,003 - 0,1 mm. Dưới ñây là các ñặc trưng cơ học của từng
loại trầm tích.
Quảng Bình có 2 hệ ñất chính là hệ phù sa (ở ñồng bằng) và hệ feralit
(ở vùng ñồi núi) với 15 loại thuộc 5 nhóm khác nhau:
- Nhóm ñất cát có hơn 4,7 vạn ha, bao gồm các cồn cát dọc bờ biển từ
Quảng Trạch ñến Lệ Thuỷ và ñất cát biển phân bố chủ yếu ở Lệ Thuỷ, Quảng
Ninh, Quảng Trạch. Nhìn chung, ñất xấu, ít dinh dưỡng, thành phần cơ giới
rời rạc. ở các cồn cát thường xuất hiện nạn cát bay, cát chảy, cát di ñộng với
lượng cát di chuyển trung bình năm là 3,2 triệu m3, làm mất ñi 20 - 30 ha ñất
canh tác. Vùng ñất cát ven biển chủ yếu ñược sử dụng vào mục ñích lâm
nghiệp.
- Nhóm ñất mặn với hơn 9,3 nghìn ha, phân bố phần lớn ở các cửa sông
(sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Dinh). Diện tích ñất mặn có chiều hướng gia
tăng do nước biển tràn sâu vào ñất liền dưới tác ñộng của bão hoặc triều
cường.
- Nhóm ñất phù sa chủ yếu là loại ñất ñược bồi hằng năm, với diện tích
Hới là những huyện, thành phố 2 bên bờ sông Nhật Lệ, nên chủ yếu diện tích 2
bên bờ sông ñược dùng ñể trồng lúa, trồng cây lương thực…
Ngoài ra, tại vùng cát ven biển thuộc Quảng Ninh- Lệ Thủy có ñộ che
phủ thực vật từ 20-40%. Trên vùng cát người ta còn trồng rừng (chủ yếu là cây
thân gỗ- phi lao) ñể ngăn chặn tình trạng cát bay. Tại ðồng Hới có diện tích
trồng rừng lớn nhất, chưa kể rừng tự nhiên- phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp.
Tính ñến 31/12/1999, diện tích rừng của tỉnh là 486,7 nghìn ha. Trữ
lượng gỗ của rừng tự nhiên khoảng 30,9 triệu m
3
(riêng rừng giàu chiếm 13,4
triệu m
3
, chủ yếu phân bố ở vùng núi cao). Trong rừng có nhiều loài gỗ quý
như mun, lim, lát hoa... Dưới tán rừng có nhiều loài có giá trị kinh tế như song,
mây, các dược liệu quý...
Theo ước tính, không kể các loài thực vật bậc thấp, tảo, nấm thì khu hệ
thực vật bậc cao của Quảng Bình gồm 134 họ, 285 chi và 577 loài, chiếm hơn
1/2 số loài phân bố trong vùng Trường Sơn Bắc. Về ñộng vật có 38 loài thú,
34 loài bò sát và 120 loài chim...
e. Khí hậu
Nằm trong ñới khí hậu gió mùa chí tuyến, á ñới nóng ẩm, Quảng Bình
có khí hậu mang tính chất chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam với nét
ñặc trưng là vào tháng lạnh nhất, nhiệt ñộ ñã vượt quá 18
o
C. Tuy nhiên, do
front cực ñới vẫn còn ảnh hưởng tương ñối mạnh, nên vào mùa ñông có ngày
nhiệt ñộ xuống khá thấp.
Nhiệt ñộ trung bình năm của Quảng Bình là 24 - 25
o
triển của cây công nghiệp và cây ăn quả.
f. Mạng lưới thủy văn
Mạng lưới sông ngòi Quảng Bình nhìn chung khá phong phú. Mật ñộ
trung bình ñạt 0,8 - 1,1 km/km
2
, trong ñó ở vùng núi là 1 km/km
2
, ở ven biển
là 0,6 - 0,8 km/km
2
.
Do lãnh thổ hẹp ngang, ñộ dốc lớn nên sông ngòi thường ngắn, dốc, có
hiện tượng ñào lòng mạnh. Hướng chảy từ Tây sang ðông. Lượng dòng chảy
trong năm tương ñối phong phú với môñun dòng chảy bình quân là 57
lít/s.km
2
(tương ñương với 4 tỷ m
3
/năm). Thuỷ chế có 2 mùa rõ rệt, tương ứng
với mùa và mùa khô. Trong mùa mưa, ở vùng ñồi núi, sông suối có khả năng
tập trung nước rất nhanh, nhưng lũ không kéo dài nhờ khả năng thoát nước
tốt. Mùa lũ tập trung vào các tháng X, XI, XII và chiếm 60 - 80% tổng lượng
dòng chảy cả năm. Vào mùa này, sông ngòi thường có lũ ñột ngột, gây úng
trầm trọng ở vùng cửa sông.
Trong mùa khô, nhiều ñoạn suối bị cạn dòng, ở vùng cửa sông, thuỷ
triều tăng cường xâm nhập vào ñất liền. Dòng chảy kiệt kéo dài trung bình tới
8 - 9 tháng (dài nhất là 10 tháng, ngắn nhất là 7 tháng). Trong mùa kiệt vẫn có
mưa và lũ tiểu mãn.
Bảng 1.2 Sông và hệ thống sông ở Quảng Bình
2
), sông Lý Hoà (22 km và 177 km
2
), sông Dinh (37 km và
212 km
2
) và sông Nhật Lệ (96 km và 2.647 km
2
). Lớn nhất là sông Gianh và
sông Nhật Lệ.
- Hệ thống sông Nhật Lệ
ðây là hệ thống sông lớn thứ 2 của tỉnh, sau hệ thống sông Gianh. Sông
Nhật Lệ nhận nước từ 2 con sông chính là sông Kiến Giang và sông Long
ðại. ðoạn sông mang tên Nhật Lệ ñược tính từ ngã 3 sông Long ðại (cách
cầu Long ðại 1,5 km) về ñến cửa Nhật Lệ (ðồng Hới) dài 17 km. Nếu tính từ
nguồn Kiến Giang về ñến cửa Nhật Lệ có chiều dài 96 km. Hệ thống sông
Nhật Lệ có lưu vực rộng 2.647 km
2
. Hệ thống sông bao gồm 24 phụ lưu vực
45 km
2
, bình quân sông, suối trong lưu vựa có chiều dài 0,84 km/km
2
.[6, 16]
- Sông Kiến Giang
Là hợp lưu của nhiều nguồn sông suối phát nguyên từ vùng núi phía
Tây -Nam huyện Lệ Thủy ñổ về phường Luật Sơn (xã Trường Thủy, Lệ
Thủy) chảy theo hướng Nam Bắc. Từ ñây, sông chảy theo hướng Tây Nam-
ðông Bắc, về ñến ngã ba Thượng Phong, sông chảy theo hướng ðông Nam-
năm 1995 và hơn 79,7 vạn - năm 1999. Theo số liệu thống kê năm 2007
(Bảng 1.3) thì dân số tỉnh Quảng Bình là 854.918 người với mật ñộ là 106
người/km
2
, trong ñó mật ñộ dân số cao nhất tỉnh là tại TP ðồng Hới là 687
người/km
2
cao gấp 6 lần so với mật ñộ chung của tỉnh, còn tại Quảng Ninh và
Lệ Thủy thì mật ñộ dân số ở ñây là trung bình (do diện tích ñất rộng) nhưng
dân số tập trung ở ñây tương ñối cao, ñây là 3 trong số 4 huyện có dân số cao
nhất tỉnh.
Bảng 1.3 Diện tích và mật ñộ dân số tỉnh Quảng Bình năm 2007
Huyện,TP Diện tích (km
2
) Dân số (ng)
Mật ñộ Dân số
(ng/km
2
)
TP ðồng Hới 156 107.187 687
Minh Hóa 1.413 45.699 32
Tuyên Hóa 1.151 81.414 71
Quảng Trạch 614 205.187 335
Bố Trạch 2.124 176.54 83
Quảng Ninh 1.191 92.315 76
Lệ Thủy 1.416 146.576 104
Tổng số 8.065 854.918 106
Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2007
Tuy nhiên dân cư phân bố không ñều tập trung ở khu vực ven biển và
ñồng bằng, ở khu vực miền núi và gò ñồi dân cư thưa thớt. Khu vực ven biển,
- Lớp 4: Cát hạt trung bình màu xám trắng, xám ghi, xám ñen, bão hoà
nước, chặt vừa. Lớp ñất này phân bố hạn chế trong khu vực khảo sát. Bề dày
lớp biến ñổi từ 1,1 ñến > 5,8 m. Lớp cát này có cường ñộ chịu tải và tính
kháng biến cao, biến dạng nhỏ, mức ñộ thẩm thấu lớn
- Lớp 5: ðất dăm sạn lẫn sét pha màu nâu xám, cứng. ðây là sản phẩm
phong hoá của ñá gốc. Lớp 5 ta mới gặp ở một số lỗ khoan. Bề dày của lớp
lớn > 5,0 m. Lớp ñất này có cường ñộ chịu tải và tính kháng biến cao, biến
dạng nhỏ.[6]
1.3 Tình hình lũ lụt trên hệ thống sông Nhật Lệ
Tại hạ lưu sông Nhật Lệ mỗi khi ñến mùa mưa lũ thì việc tiêu thoát lũ
tại ñây xảy ra rất chậm và gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân kết hợp
với nhau tạo nên. Mùa mưa chính lệch về cuối hè sang thu và kéo ñến ñầu
ñông với lượng mưa rất lớn là do ảnh hưởng của các hình thái gây mưa như
gió mùa ñông bắc kết hợp với các nhiễu ñộng gây mưa lớn trên diện rộng như
bão, áp thấp nhiệt ñới, hội tụ nhiệt ñới,...(do có vị trí gần biển nên chịu ảnh
hưởng rất lớn của các cơn bão) dẫn ñến thừa nước, thậm chí gây lũ lụt, úng
ngập tại hạ lưu. Lượng mưa chiếm 65-70% lượng mưa cả năm nên lưu lượng
nước trong mùa mưa này chiếm 70-80% lượng nước cả năm. Hơn nữa mùa
mưa lại trùng vào với thời kỳ không khí ẩm và thời gian hoạt ñộng các khối
không khí lạnh cực ñối biến tính, trong các tháng này ñộ ẩm tháng ñạt 85 -
90% nên bầu trời lãnh thổ ñầy mây và mưa. Những tháng mùa ðông là thời
kỳ ẩm do khối không khí lạnh biến tính khi ñi qua biển ñã mang theo hơi
nước gây mưa.
Với một lượng nước lớn gây nên những cơn lũ lớn như vậy, thì tại khu
vực nghiên cứu (KVNC) lại có ñịa hình bề ngang khá hẹp, nơi hẹp nhất là
khoảng 45km bên phía tây lại có vùng núi trung bình thấp nên sông ở ñây vừa
ngắn lại vừa dốc ñã tạo ñiều kiện ñể tập trung nhanh lượng nước hình thành
những cơn lũ nhanh chóng ñổ về hạ lưu. Còn tại hạ lưu nơi cuối nguồn của
con sông, như tại các nơi khác sau khi nhận nước từ thượng nguồn thì sẽ chảy
ñông ñúc với mật ñộ cao ở hai bên bờ sông Nhật Lệ cũng gây khó khăn cho
việc thoát lũ của Nhật Lệ. Những công trình xây dựng như nhà cửa, ñê ñiều ...
làm cản dòng chảy khi lũ về.
Dân cư sinh sống hai bên bờ sông ñã phát triển nghế nuôi trồng thủy
sản khá mạnh, hoạt ñông kinh tế này trực tiếp làm biến ñổi, thay ñổi dòng
sông, lấy nước, xây các hồ nuôi tôm cá trên sông. ðặc biệt tại ðồng Hới, các
khu công nghiệp, dân số, các cơ sở kinh doanh tập trung dày ñặc hai bên bờ
sông cũng gây cản trở rất lớn cho dòng chảy vì bị ngăn cản khá nhiều, làm
cho dòng chảy chậm hơn, tăng thời gian úng ngập tại ñồng bằng. Mặt khác
ñời sống dân cư ở ñây còn nghèo làm cho các công trình phục vụ dân sinh và
sản xuất kém chất lượng không ñủ ñộ bền vững, và rất sơ sài dễ bị phá huỷ
khi có thiên tai bão - lũ. Chính các vật liệu từ các công trình dân sinh này ñã
làm gia tăng, thậm chí trực tiếp gây ra bồi lấp luồng lạch sông Nhật Lệ.
Hệ thống ñường giao thông vận tải ñường bộ, ñường sắt và ñường thủy
nội ñịa có hướng vuông góc với dòng chảy của sông nên làm giảm khả năng
tiêu thoát nước, nhất là tuyến ñường Quốc lộ 1A và ñường sắt Bắc - Nam,
chúng trở thành các tuyến ñê ngăn cản ñường tiêu thoát lũ. Nếu như không có
các tuyến ñường này thì dòng chảy không bị ngăn cản nhưng giờ dòng chảy
phải vượt qua những tuyến ñường có tác ñộng như những con ñê chắn lũ, và
một phần nước bị chúng giữ lại làm cho tình trạng úng ngập càng thêm trầm
trọng. Tại ñây cũng có rất nhiều công trình thủy lợi ñược xây dựng ñể phục vụ
ñời sống cũng như sản xuất nông nghiệp.
Cụ thể ñầu tiên là ñập Mỹ Trung sau khi ñi vào hoạt ñộng ñã làm xuất
hiện khá nhiều bãi nổi, bãi cạn nằm so le, những bãi này cũng làm cho dòng
chảy bị ngăn cản chậm lại. Các hồ chứa khá nhiều nhưng ña số là với dung
tích nhỏ chỉ chủ yếu nhằm phục vụ cho việc tưới tiêu vào mùa khô còn ñể
phòng chống lũ thì với dung tích nhỏ như vậy lại ñứng trươc những cơn lũ
lớn, trong khi ñó hai hồ chứa lớn là An Mã và Cẩm Ly lại nằm ở ñầu nguồn
nên việc làm giảm lượng nước, tiêu thoát lũ không có tác dụng ở hạ lưu.
Bản ñồ ngập lụt thường thể hiện các nội dung sau:
Vùng úng ngập thường xuyên.
Vùng ngập lụt ứng với tần suất mưa - lũ khác nhau
Khu vực nguy hiểm khi có lũ lớn.
Khu vực có nguy cơ bị trượt lở, sạt lở ñất.
Vết xói lở bờ sông, sạt lở bờ biển, trượt lở sườn.
Ngoài ra còn thể hiện hệ thống thuỷ lợi: hồ chứa, trạm bơm, ñập dâng,
cống ñê… và các yếu tố nền ñịa lý.
Bản ñồ ngập lụt phải xác ñịnh rõ ranh giới những vùng bị ngập do một
trận mưa lũ nào ñó gây ra trên bản ñồ. Ranh giới vùng ngập lụt phụ thuộc vào
các yếu tố mực nước lũ và ñịa hình ,ñịa mạo của khu vực ñó; trong khi nhân
tố ñịa hình ít thay ñổi nên ranh giới ngập lụt chỉ còn phụ thuộc vào sự thay
ñổi của mực nước lũ.
2.1.2 Các phương pháp xây dựng bản ñồ ngập lụt
Hiện nay trên thế giới có ba phương pháp thường ñược ứng dụng ñể
xây dựng bản ñồ ngập lụt, ñó là:
• Phương pháp truyền thống: xây dựng bản ñồ ngập lụt dựa vào ñiều tra
thủy văn và ñịa hình.
• Xây dựng bản ñồ ngập lụt dựa vào ñiều tra các trận lũ lớn thực tế ñã
xảy ra
• Xây dựng bản ñồ ngập lụt dựa vào việc mô phỏng các mô hình thủy
văn, thủy lực.
Mỗi một phương pháp trên ñây ñều có các ưu nhược ñiểm riêng trong
việc xây dựng và ước lượng diện tích ngập lụt. Bản ñồ ngập lụt xây dựng theo
phương pháp truyền thống chỉ tái hiện lại hiện trạng ngập lụt, chưa mang tính
dự báo nhưng nó vẫn mang ý nghĩa to lớn về nhiều mặt trong công tác chỉ huy
phòng chống lũ lụt cũng như làm cơ sở ñể ñánh giá, so sánh các nghiên cứu
tiếp theo. Tuy vậy phương pháp này tốn công, mất nhiều thời gian, không ñáp
ứng nhu cầu thực tế và có những ñiểm người nghiên cứu không thể ño ñạc
dụng tốt cho lưu vực vừa và nhỏ.
Mô hình HEC-HMS: là mô hình mưa dòng chảy của Trung tâm Thủy
văn kỹ thuật quân ñội Hoa Kỳ ñược phát triển từ mô hình HEC-1, mô
hình có những cải tiến ñáng kể cả về kỹ thuật tính toán và khoa học
thuỷ văn thích hợp với các lưu vực sông vừa và nhỏ. Là dạng mô hình
tính toán thủy văn ñược dùng ñể tính dòng chảy từ số liệu ño mưa trên
lưu vực. Trong ñó các thành phần mô tả lưu vực sông gồm các công
trình thủy lợi, các nhánh sông.
Kết quả của Hec-HMS ñược biểu diễn dưới dạng sơ ñồ, biểu bảng
tường minh rất thuận tiện cho người sử dụng. Ngoài ra, chương trình có thể
liên kết với cơ sở dữ liệu dạng DSS của mô hình thủy lực Hec-RAS.
Mô hình NAM: ñược xây dựng 1982 tại khoa thủy văn viện kỹ thuật
thủy ñộng lực và thủy lực thuộc ñại học kỹ thuật ðan Mạch. Mô hình
dựa trên nguyên tắc các bể chứa theo chiều thẳng ñứng và hồ chứa
tuyến tính. Mô hình tính quá trình mưa - dòng chảy theo cách tính liên
tục hàm lượng ẩm trong năm bể chứa riêng biệt tương tác lẫn nhau.
Các mô hình thủy văn trên ñây cho kết quả là các quá trình dòng chảy
tại các ñiểm khống chế (cửa ra lưu vực) vì vậy tự thân chúng ñứng ñộc lập
chưa ñủ khả năng ñể ñưa ra các thông tin về diện tích và mức ñộ ngập lụt mà
phải kết hợp với một số các công cụ khác như GIS, hoặc là biên cho các mô
hình thủy ñộng lực 1-2 chiều khác.
b. Mô hình thủy lực:
- Mô hình VRSAP: tiền thân là mô hình KRSAL do cố PGS.TS
Nguyễn Như Khuê xây dựng và ñược sử dụng rộng rãi ở nước ta trong vòng
25 năm trở lại ñây.
ðây là mô hình toán thuỷ văn-thuỷ lực của dòng chảy một chiều trên hệ
thống sông ngòi có nối với ñồng ruộng và các khu chứa khác. Dòng chảy
trong các ñoạn sông ñược mô tả bằng hệ phương trình Saint-Venant ñầy ñủ.
Các khu chứa nước và các ô ñồng ruộng trao ñổi nước với sông qua cống