Nghiên cứu xây dựng bản đồ ngập lụt hạ lưu lưu vực sông Ba - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Bùi Minh Hoà NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG
BẢN ĐỒ NGẬP LỤT HẠ LƢU LƢU VỰC SÔNG BA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội - 2012
i
MỤC LỤC

MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG iii
DANH SÁCH CÁC HÌNH iv
LỜI CẢM ƠN vi
MỞ ĐẦU vii
CHƢƠNG 1. ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NGẬP LỤT 10
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN LƢU VỰC NGHIÊN CỨU 10
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 10
1.1.2. Đặc điểm mạng lưới sông ngòi 15
1.1.3. Đặc điểm khí tượng – khí hậu 19
1.1.4. Đặc điểm thủy văn 27
1.2. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI 29
1.2.1. Đặc điểm dân sinh kinh tế 29
1.2.2. Đặc điểm kinh tế 29
1.3. TÌNH HÌNH NGẬP LỤT HẠ LƢU SÔNG BA 30
1.3.1. Tình hình ngập lụt 30
1.3.2. Thiệt hại do ngập lụt 30
1.3.3. Hiện trạng công trình phòng chống lũ và tiêu úng 32
1.3.4. Mục tiêu phòng chống lũ trên lưu vực 33
1.3.5. Phương án quy hoạch phòng chống lũ 34
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGẬP LỤT 36
2.1. TỔNG QUAN CHUNG 36
2.1.1. Khái niệm về bản đồ ngập lụt 36

iii
DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1: Các đặc trưng chính của sông Ba và một số sông trong lưu vực 16
Bảng 2: Tốc độ gió trung bình tháng và năm (Đơn vị: m/s) 20
Bảng 3: Nhiệt độ trung bình tháng và năm (Đơn vị:
0
C) 22
Bảng 4: Một số đặc trưng mưa năm (Đơn vị: mm) 24
Bảng 5: Lượng mưa trung bình nhiều năm các tháng (Đơn vị: mm) 25
Bảng 6: Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng và năm (mb) 26
Bảng 7: Độ ẩm tương đối trung bình tháng và năm (Đơn vị: %) 27
Bảng 8: Lưu lượng lũ lớn nhất tại một số trạm trên lưu vực sông Ba 28
Bảng 9: Thiệt hại một số năm do ngập lũ vùng hạ lưu sông Ba 31
Bảng 10: Đặc trưng mặt cắt ngang sông trong sơ đồ tính toán thủy lực 68
Bảng 11: Thông số chính đập đâng Đồng Cam [6] 70
Bảng 12: Bảng đánh giá kết quả hiệu chỉnh mô hình NAM 75
Bảng 13: Bộ thông số mô hình NAM 76
Bảng 14: Vị trí các mặt cắt thực đo [6] 79
Bảng 15: Chỉ tiêu đánh giá sai số thực đo và tính toán tại trạm Phú Lâm 82
Bảng 16: Kết quả mô phỏng mực nước lũ tại các vị trí điều tra vết lũ 82
Bảng 17: Chỉ tiêu đánh giá sai số thực đo và tính toán tại trạm Phú Lâm 84
Bảng 18: Chỉ tiêu đánh giá sai số thực đo và tính toán tại trạm Phú Lâm 86
Bảng 19: Thống kê diện tích ngập theo xã - phường hạ lưu sông Ba trận lũ tháng 11/2009
87
Bảng 20: Tần suất lũ thiết kế tại trạm Củng Sơn - Sông Ba 90
Bảng 21: Diện tích lưu vực tại Củng Sơn và các vị trí nhập lưu 91

iv
DANH SÁCH CÁC HÌNH

v
Hình 30. Biểu đồ đường quá trình mực nước thực đo và tính toán trận lũ 11/2003 85
Hình 31. Trường vận tốc tại thời điểm ngập lớn nhất trận lũ tháng 11/2003 85
Hình 32. Biểu đồ đường quá trình mực nước thực đo và tính toán trận lũ 11/2009 86
Hình 33. Trường vận tốc tại thời điểm ngập lớn nhất trận lũ 11/2009 87
Hình 34. Ảnh vệ tinh hiện trạng ngập lụt khu vực sông Ba tháng 11/2009 89
Hình 35. Lưu lượng lớn nhất tại trạm Củng Sơn qua các năm 90
Hình 36. Đường tần suất lũ trạm Củng Sơn 91
Hình 37. Trích xuất kết quả độ sâu ngập lớn nhất từ mô hình EFDC 92
Hình 38. Nội-ngoại suy độ sâu ngập lụt lớn nhất bằng công cụ Vertical mapper 93
Hình 39. Nền DEM được tạo ra từ phép nội-ngoại suy độ sâu ngập lụt lớn nhất 93
Hình 40. Xây đựng đường contour phân cấp ngập lụt từ công cụ của vertical
mappper 94
Hình 41. Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Ba ứng với thời điểm ngập lụt lớn nhất tháng
10/2003 96
Hình 42. Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Ba ứng với thời điểm ngập lụt lớn nhất tháng
11/2009 97
Hình 43. Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Ba_Ứng với tần suất 1% 98
Hình 44. Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Ba_Ứng với tần suất 2% 99
Hình 45. Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Ba_Ứng với tần suất 5% 100
Hình 46. Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Ba_Ứng với tần suất 10% 101 vii
MỞ ĐẦU

i. Đặt vấn đề
Từ xƣa tới nay lũ lụt luôn là mối đe dọa hàng đầu và đã gây ra nhiều thiệt hại
về ngƣời và của. Cùng với sự tăng trƣởng của các ngành kinh tế và sự phát triển của
xã hội, đòi hỏi công tác quản lý, phòng chống thiên tai đặc biệt là lũ lụt nhằm đảm
bảo mức độ an toàn ngày càng cao và hạn chế đến mức thấp nhất về thiệt hại.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, việc khai thác tổng hợp tài nguyên
nƣớc cho các mục đích khác nhau trên các hệ thống sông thuộc miền Trung nói
chung và lƣu vực sông Ba nói riêng đã đem lại những giá trị to lớn về của cải xã hội
đóng vai trò quan trọng cho các ngành kinh tế trong tỉnh nhƣ: du lịch, công nghiệp,
thủy lợi, năng lƣợng, thủy sản, nông nghiệp
Sông Ba là một trong những con sông lớn ở miền trung Trung Bộ Việt Nam
với tổng diện tích lƣu vực 14.132 km
2
nằm trên địa phận 3 tỉnh Gia Lai, ĐakLak và
Phú Yên. Hàng năm, về mùa lũ, nƣớc sông Ba dồn từ thƣợng lƣu về gây ngập lụt
nghiêm trọng cho hạ lƣu sông Ba. Lũ đã gây ngập lụt, thiệt hại khá lớn về ngƣời và
tài sản trên lƣu vực. Mƣa lũ gây chết ngƣời, nhà cửa bị ngập, bị sập, các công trình
hạ tầng cơ sở nhƣ trƣờng học, bệnh viện bị hƣ hỏng, đƣờng sá cầu cống công trình
thuỷ lợi bị sạt lở, bị vỡ và bồi lấp. Diện tích đất trồng trọt bị ngập lâu ngày làm cho
lúa, hoa màu và các loại cây trồng khác bị chết gây thất thu. Theo thống kê một số
năm gần đây cho thấy tình hình lũ lụt trên lƣu vực ngày càng nghiêm trọng với mức
độ thiệt hại có xu thế ngày càng tăng:
Lũ năm 1990 thiệt hại 21,6 tỷ đồng; Lũ năm 1992 thiệt hại 51,5 tỷ đồng; Lũ

ngập úng.
5. Tạo cơ sở nghiên cứu biện pháp phòng ngập trong xây dựng cơ bản.
6. Thiết kế và vận hành các công trình khống chế ngập úng. Việc thiết kế và vận
hành các công trình khống chế ngập nhƣ hồ chứa, trạm bơm phải dựa vào nhiều
tài liệu nghiên cứu, tính toán thuỷ văn, thuỷ lực trong đó bản đồ ngập lụt là tài
liệu không thể thiếu.
Quy trình Vận hành hồ chứa đã có ảnh hƣởng rất lớn đến ngập lụt vùng hạ
lƣu, điều này cần đƣợc đánh giá đầy đủ hơn.

ix
iii. Mục tiêu, phương pháp:
1. Mục tiêu :
Xây dựng bản đồ ngập lụt do ảnh hƣởng của trận lũ thực năm 2009 và các
bản đồ ngập lụt ứng với các tần suất lũ đặc trƣng nhằm trợ giúp cho việc hoạch định
các hoạt động kinh tế - xã hội trong trong khu vực hạ lƣu sông Ba .
2. Phương pháp
Hiện nay trên thế giới có 2 phƣơng pháp đƣợc sử dụng để xây dựng bản đồ
ngập lụt, đó là:
a. Xây dựng bản đồ ngập lụt dựa vào điều tra các trận lũ lớn thực tế đã xảy ra.
b. Xây dựng bản đồ ngập lụt dựa vào việc mô phỏng bằng các mô hình thủy văn,
thủy lực.
Luận văn này sử dụng phƣơng pháp thứ 2, tập trung vào ứng dụng các mô
hình thủy văn, thủy lực kết hợp với cơ sở dữ liệu GIS để xây dựng bản đồ ngập lụt.
iv. Bố cục luận văn bao gồm
Mở Đầu
CHƢƠNG 1: Điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu liên quan đến ngập
lụt

Diện tích tự nhiên toàn lƣu vực là 14.132 km
2

nằm trên địa phận hành chính
của 15 huyện, thị thuộc 3 tỉnh Gia Lai, Đak Lăk và Phú Yên bao gồm hầu hết diện
tích đất đai các huyện K„bang, An Khê, KonchRô, Mƣang Yang, A. Yunpa, K.Rông
Pa, K.Rông H Năng, Mƣa Rak, Sơn Hoà, sông Hinh, Tuy Hoà và thị xã Tuy Hoà và
một phần diện tích các huyện Chƣ Sê, Ea H Leo, Krông Buk, Eaka. Tổng diện tích
nông nghiệp 352.811 ha. [6]
Phú Yên là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình
Định, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, phía
Đông giáp Biển Đông. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.045km
2

giới hạn bởi tọa độ
12
0
39‟

10‟‟

đến 13
0
45‟20‟‟ độ vĩ bắc, 108
0
39‟45‟‟

đến 109
0
29‟20‟‟

thành bức tƣờng chắn gió, cản trở việc hoạt động của hƣớng gió Đông và Đông
Nam. Phía Tây Bắc có các đỉnh núi cao hơn ở phía Đông, nhƣng bị chia cắt nhiều,
không liên tục. Độ cao các đỉnh núi biến động từ (700-1.700)m và chạy theo hƣớng
Bắc Nam. Các đỉnh nhƣ Ngọc Rô cao 1549m, Kon Ka Kinh cao 1761m, Chƣ Rơ
Pan cao 1571m. Đến Cheo Reo, độ cao các đỉnh núi thấp dần (300-400)m. Sau đó
lại đƣợc nâng lên từ (700-1.200)m và chuyển hƣớng Tây Bắc - Đông Nam cho đến
thƣợng nguồn sông KRông H Năng: Chƣ Tun cao 1215m. Do các dãy núi phía Tây
bị chia cắt mạnh và không liên tục đã hình thành trên lƣu vực các thung lũng An
Khê, Cheo Reo, Phú Túc và vùng đồng bằng hạ lƣu.
Dƣới tác động của các yếu tố địa hình phức tạp có thể chia lƣu vực thành 5
vùng địa hình sau:
-Vùng núi cao: chiếm 60% diện tích lƣu vực. Độ cao bình quân trong vùng
này (600-800)m, độ dốc địa hình từ thoải đến rất dốc.
-Vùng thung lũng: kéo dài từ An Khê đến Phú Túc. Cao độ phổ biến ở thung
lũng An Khê (400-500)m, thung lũng Cheo Reo (150-200)m và Phú Túc (100-150)m.
Địa hình bằng phẳng, tập trung thành những cánh đồng lớn dọc theo hai bờ sông.
-Vùng cao nguyên: có cao độ phổ biến từ (300-500)m.
-Vùng gò đồi: chủ yếu là vùng An Khê, Sơn Hoà, hạ lƣu sông Hinh và lƣu
vực sông Krông H Năng.
-Vùng đồng bằng: tập trung ở hạ lƣu sông Ba, cao độ (5-7)m.
Phú Yên phía Đông giáp Biển Đông, ba mặt còn lại đều giáp núi, có dãy Cù
Mông ở phía Bắc, dãy Vọng Phu - Đèo Cả ở phía Nam, phía Tây là rìa đông của
dãy Trƣờng Sơn. Ở giữa sƣờn Đông của dãy Trƣờng Sơn cũng có một dãy núi thấp
hơn đâm ngang ra biển tạo nên cao nguyên Vân Hòa là ranh giới phân chia hai đồng
bằng trù phú, màu mỡ do sông Ba, sông Kỳ Lộ bồi đắp. Toàn tỉnh ngoại trừ vài đỉnh 13
núi cao trên 1.000m nhƣ Hòn Dù, Hòn Ông, Hòn Chùa phía Nam huyện Tuy Hòa,
Chƣ Ninh, Chƣ Đan, Chƣ Hle nằm phía Đông Nam, Tây Nam huyện Sông Hinh,

14
Đất phù sa: chiếm 9,8% diên tích tự nhiên, tập chung chủ yếu ở huyện Phú
Hòa, huyện Tuy Hòa và thị xã Tuy Hòa, rải rác ở Tuy An, Đồng Xuân, sông Cầu.
Đất xám: chiếm 6,9% diện tích tự nhiên đƣợc phân bố từ địa hình trung gian
nơi tiếp giáp vùng núi và vùng thấp có địa hình chia cắt trung bình, tƣơng đối bằng
tập trung ở Sơn Hòa, Đồng Xuân, Sông Hinh và phía tây huyện Phú Hòa.
Đất đen: chiếm 3,5% diện tích, phân bố ở phía nam huyện Tuy An, xã Bình
Kiến, huyện Sông Hinh và một phần huyện Sơn Hòa.
Đất đỏ vàng: chiếm 65% diện tích tự nhiên phân bố đều khắp ở vùng đồi núi.
Đất mùn vàng đỏ chiếm 2,2% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu trên núi cao từ 900
-1000m. Đất dốc tụ chiếm 0,3% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở địa hình thấp.[6]
d. Lớp phủ thực vật
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên năm 2002 có 363.948,2ha
đất lâm nghiệp chiếm 72% đất tự nhiên, độ che phủ rừng là 32%. Trong đó rừng tự
nhiên 144.664,6ha, rừng trồng 18.324,3ha, đất đồi trọc là 200.959ha, còn lại là đất
nông nghiệp canh tác theo thời vụ. Thực vật gồm hai loại chính, thực vật tự nhiên
và thực vật trồng.
Thực vật tự nhiên đƣợc phân bố trên các kiểu rừng với mật độ và số lƣợng loài
khác nhau gồm có:
Kiểu rừng nhiệt đới núi thấp có diện tích lớn nhất tỉnh, phân bố ở độ cao dƣới
1000m, nằm trong phạm vi vùng núi huyện Tuy Hòa, Sông Hinh, Sơn Hòa, Đồng
Xuân. Đặc điểm kiểu rừng này là rừng xanh quanh năm, ít thay lá tại vùng có địa
hình khá cao, rừng thƣa rụng lá và nửa rụng lá phân bố ở vùng thấp hơn.
Kiểu rừng truông gai, cây bụi: đây là kiểu rừng tƣơng đối đặc biệt, hình thành
do các yếu tố tổng hợp của khí hậu, đất đai, địa hình, hệ thực vật có tác động mạnh
của nhân tố con ngƣời. Đặc điểm kiểu rừng này là phần lớn cây cối gồm các loại
cây chịu hạn, có gai, lá nhỏ, thƣờng sống ở vùng có đất đai rất xấu, khô cứng, tầng
mỏng, xói mòn mặt, thiếu nƣớc nên mùa hè có hiện tƣợng héo lá khi trời nắng hạn.
Loại rừng này phân bố nhiều ở ven biển huyện Sông Cầu, Tuy An, thị xã Tuy Hòa.
Kiểu thực vật trên cát có diện tích khoảng 10.000ha, chủ yếu là cỏ, vùng kín

Năng, diện tích lƣu vực 1750
km
2
, chiều dài sông 130km, đổ vào bên phải sông Ba tại ranh giới Gia Lai - Phú
Yên. Sông Hinh diện tích lƣu vực 932km
2
, dài 85km, bắt nguồn từ dãy núi Chƣ Mu
cao 2051m, đổ vào bên phải Sông Ba tại xã Đức Bình Đông huyện Sông Hinh, đây
là vùng mƣa lớn nhất trong toàn lƣu vực sông Ba. Năm 2000 thuỷ điện Sông Hinh
bắt đầu tích nƣớc phát điện, làm cho chế độ thuỷ văn ở đây khác biệt cón bản đặc
biệt là trong mùa lũ.
Đoạn sông cuối cùng chảy theo hƣớng gần nhƣ Tây - Đông, nhƣng từ Đồng
Bò, sông hơi chuyển hƣớng lệch về phía Bắc và đổ nƣớc ra cửa Đà Rằng. Đoạn
sông này còn nhận thêm nƣớc sông Con, sông Cái bên trái, sông Đồng Bò bên phải,
lòng sông khá rộng, độ dốc nhỏ chỉ khoảng 1‰. Dọc theo hai bên bờ sông là các bãi 16
bồi rộng lớn tạo thành cánh đồng phì nhiêu, trù phú. (hình 2)
Ngoài dòng chính, lƣu vực sông Ba có 3 nhánh sông đáng chú ý:
 Sông Ayun: bắt nguồn từ đỉnh núi Krong Hơ Dung ở độ cao 1.220m, chảy
theo hƣớng Bắc Nam, sau chuyển hƣớng Tây Bắc - Đông Nam rồi nhập với dòng
chính sông Ba tại vị trí cách thị trấn Cheo Reo khoảng 1km về phía Bắc. Sông có
diện tích lƣu vực 2.950km
2
, độ dài sông 175km.
 Sông Krong H'Năng: bắt nguồn từ đỉnh núi Chƣ Tung ở độ cao 1.215m.
Hƣớng dòng chảy tƣơng đối phức tạp song chủ yếu là Bắc - Nam và Tây Bắc -
Đông Nam rồi nhập với sông chính tại ranh giới Gia Lai và Phú Yên. Sông có diện
tích lƣu vực là 1.840km

Hệ
số
uốn
khúc
(K)
Độ
dốc
sông
(J
‰)
Mật độ
lƣới
sông
(km/km
2
)
Sông Ba

1500
13043
360
33,9
0,1
2,0
2,7
0,5
S. Hinh
750
932
85

1,5
15,0
0,6
S. Tha
300
148
25
7,9
0,2
1,5
8,9
0,2
S. Cà
Lúi
750
190
48
5,9
0,1
1,5
10,0
0,2
Bàn Thạch

1400
5900
68
4,0
0,1
1,8

0,8
Sông Cầu
600
146
137
9,9
0,2
1,2
16,0
0,3

 Sông Hinh: bắt nguồn từ đỉnh núi Chƣ H'Mu ở độ cao 2.051m. Hƣớng dòng
chính là Tây Bắc - Đông Nam đến vĩ độ 12
0
5' sông chảy theo hƣớng Bắc - Nam rồi
nhập với dòng chính tại phía trên Sơn Hòa. Sông có diện tích lƣu vực là 1.040km
2
,
độ dài là 88km. Các sông suối thuộc lƣu vực sông Ba đều hẹp và sâu, độ dốc lớn có 17
tiềm năng lớn về thủy điện. Địa hình bị chia cắt mạnh, lƣu vực sông Ba có dạng
lòng máng chạy dài từ thƣợng nguồn đến cửa sông; phía Bắc, Đông, Nam có núi
20
Ngoài ra, trong hai mùa gió mùa, khi các trung tâm gió mùa hoạt động yếu
thì tín phong hoặc gió địa hình chiếm ƣu thế với hƣớng có thành phần Đông khá
thịnh hành.
 Tốc độ gió
Ở Phú Yên tốc độ gió trung bình năm khá nhỏ từ 1,5 -2,5m/s, hàng tháng
trung bình dao động từ 0,9 - 3,1m/s (bảng 2). Tháng có tốc độ gió trung bình lớn
nhất vào tháng V, VI đạt 2,8 -3,1m/s, tháng nhỏ nhất vào tháng XII hoặc tháng 1 đạt
0,9 -1,6m/s. Vùng ven biển, tốc độ gió trung bình vào thời kỳ gió mùa mùa đông
lớn hơn so với thời kỳ gió mùa mùa hạ và lớn nhất vào tháng XI, tháng XII. Ngƣợc
lại, các thung lũng thuộc vùng núi có tốc độ gió trung bình tháng vào thời kỳ gió
mùa mùa hạ lớn hơn vào thời kỳ gió mùa mùa đông và lớn nhất vào tháng VII, VIII.
Trên cao nguyên thoáng gió, tốc độ gió trung bình lớn hơn đối với vùng thấp và
thung lũng kín gió. Nếu ở cùng một độ cao, tốc độ gió ở vùng ven biển có xu hƣớng
lớn hơn những vùng nằm sâu trong đất liền. [6]
Bảng 2: Tốc độ gió trung bình tháng và năm (Đơn vị: m/s)
Tháng
Trạm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X

1,6
Miền Tây
2,0
2,0
2,6
2,7
3,0
3,0
2,5
2,2
2,4
2,2
1,8
1,8
2,3
Nguồn: Đài KTTV Khu vực NTB
b. Bão và áp thấp nhiệt đới
Ở Phú Yên, không phải bão đổ bộ trực tiếp vào tỉnh mới gây những hiện tƣợng
thời tiết cực đoan, mà nhiều cơn bão đổ bộ vào những tỉnh lân cận cũng gây thời tiết
nguy hiểm không kém. Ví nhƣ cơn bão ngày 3/XI/1978 đổ bộ vào Khánh Hòa, tốc
độ gió đo đƣợc ở Tuy Hòa 20m/s, Sơn Hòa 10m/s và Miền Tây 28m/s. Hay bão số 7
ngày 24/IX/1977 đổ bộ vào Bình Định; áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Ninh Thuận
2/XII/1986 cũng gây ra mƣa lớn trong toàn tỉnh, mƣa phổ biến 400 - 700mm, mƣa
ngày lớn nhất từ 200 - 400mm.
Từ năm 1956 cho đến năm 2002, trung bình mỗi năm các tỉnh Nam Trung Bộ 21
có hơn 01 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào khu vực. Nếu tính tất cả các
cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Khánh Hòa và Bình Định đều ảnh hƣởng trực

0
C, vùng núi ở độ cao dƣới 400m giảm còn trên dƣới 8500
0
-
C9500
0
C, ở độ cao 1000m chỉ còn trên dƣới 7500
0
C.
Biến trình năm của nhiệt độ không khí:
Hàng năm, nhiệt độ thấp nhất thƣờng xảy ra vào tháng I (21-23
0
C), sau đó tăng
dần và thƣờng đạt cực đại vào tháng VI (26-29
0
C) rồi lại giảm dần đến tháng I năm
sau. Tuy nhiên, đây là tình hình chung của nhiều năm. Từng năm cụ thể tháng lạnh
nhất trong mùa đông có thể là tháng XII hoặc tháng I. Tháng nóng nhất có thể là
tháng VI, tháng VII hoặc tháng VIII. Ta có thể nhận thấy rằng, biến trình năm nhiệt
độ ở Phú Yên khá thống nhất với biến trình năm ở các nơi khác thuộc duyên hải 22
Trung Bộ và có dạng nhiệt đới, đạt cực đại vào tháng VII và cực tiểu vào tháng I
nhƣng còn mang dáng dấp biến trình năm dạng xích đạo, tức là cực đại hơi lệch về
đầu mùa hè.
Bảng 3: Nhiệt độ trung bình tháng và năm (Đơn vị:
0
C)
Trạm

V
28,8
28,7
28,6
27,4
26,6
VI
29,2
28,6
29,1
27,5
26,5
VII
29,0
28,5
29,1
27,4
26,3
VIII
28,7
28,2
29,0
26,6
26,1
IX
27,7
27,0
27,5
26,3
25,0

0
C. Cao nhất xảy ra trong tháng
VII ở ven biển, tháng V ở vùng núi đạt 33 - 36
0
C, thấp nhất xảy ra vào tháng XII
hoặc tháng I đạt 25 - 27
0
C (bảng 3).
d. Chế độ nắng
Do nằm ở vĩ độ thấp, quanh năm độ dài ban ngày lớn, lại thêm hàng năm có
cả một thời kỳ mùa khô trời quang mây kéo dài 5 - 6 tháng, nên Phú Yên là một tỉnh
có thời gian nắng lớn. Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm từ 2300 - 2500 giờ.
Trong suốt 6 tháng từ tháng III đến tháng VIII, số giờ nắng trung bình mỗi tháng
dao động từ 230 - 270 giờ, mỗi ngày trung bình có tới 8 giờ. Tháng IV, tháng V là
hai tháng có thời gian nắng nhiều nhất, trung bình hàng tháng có từ 250 - 270 giờ. 23
Các tháng ít nắng là những tháng mùa mƣa, số giờ nắng trung bình hàng tháng cũng
trong khoảng 100 - 200 giờ, trung bình mỗi ngày 5 - 6 giờ. Tháng ít nắng nhất là
tháng XII, trung bình hàng tháng từ 100 - 112 giờ nắng. Nhƣ vậy, số giờ nắng của
tháng ít nắng nhất chỉ xấp xỉ bằng một nửa số giờ nắng của tháng cực đại. Sự chênh
lệch số giờ nắng này cũng phản ánh rõ nét sự tƣơng phản giữa hai mùa: mùa khô và
mùa mƣa ẩm.
e. Bốc hơi
Tổng lƣợng bốc hơi năm ở Phú Yên tƣơng đối ổn định. Năm nhiều nhất và
năm ít nhất không quá 30% so với tổng lƣợng bốc hơi trung bình. Hàng năm tổng
lƣợng bốc hơi đạt từ 1100 - 1400mm, phân bố không đều trong các tháng. Từ tháng
X năm trƣớc đến tháng III năm sau, tổng lƣợng bốc hơi hàng tháng trung bình từ 50
đến dƣới 100mm, riêng thung lũng Sơn Hòa tháng II dến tháng III hàng tháng trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status