LÝ LUẬN CHUNG VỀ KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH - Pdf 76

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG
KIỂM TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH
1.1. Bằng chứng kiểm toán và thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm
toán báo cáo tài chính
1.1.1. Khái niệm về bằng chứng kiểm toán và phân loại bằng chứng kiểm toán
Bằng chứng là một khái niệm hay được dùng trong lĩnh vực pháp lý,
dùng để chứng minh cho điều gì đó là đúng, là có thật. Bằng chứng thu thập
được góp phần đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của luật
pháp.
Trong lĩnh vực kiểm toán, theo chuẩn mực kiểm toán số 500, Bằng chứng
kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên
quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình
thành nên ý kiến của mình. Theo chuẩn mực này bằng chứng kiểm toán gồm cả
thông tin nhân chứng và vật chứng mà kiểm toán viên thu thập làm cơ sở cho
nhận xét của mình về báo cáo tài chính được kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán
rất đa dạng cả về loại bằng chứng, nguồn gốc hình thành và cách thức thu thập.
Mỗi loại bằng chứng có tác động khác nhau tới việc hình thành ý kiến kiểm
toán. Kiểm toán viên khi tiến hành thu thập bằng chứng phải xem xét đến tính
hiệu lực, tính đầy đủ và số lượng bằng chứng cần thu thập. Bằng chứng kiểm
toán cần phải được thu thập và đánh giá đúng nhằm đảm bảo cho kết luận kiểm
toán là xác đáng.
* Phân loại bằng chứng kiểm toán
Theo nguồn gốc hình thành, bằng chứng kiểm toán được phân loại thành:
- Bằng chứng thu thập từ đơn vị được kiểm toán: là các tài liệu kế toán lấy từ
đơn vị được kiểm toán. Loại bằng chứng này có độ tin cậy thấp nhất bởi đây là
loại bằng chứng do chính đơn vị được kiểm toán cung cấp, ảnh hưởng đến tính
khách quan của bằng chứng thu thập.
- Bằng chứng thu thập từ bên thứ ba như hoá đơn chứng từ của người bán, giấy
xác nhận từ người bán, giấy xác nhận từ ngân hàng… Loại bằng chứng này có
độ tin cậy cao hơn được thu thập từ bên thứ ba mang tính khách quan hơn, tuy

toán khác, trong quá trình thu thập tài liệu, kiểm toán viên có thể sử dụng tư liệu của kiểm toán
viên tiền nhiệm nếu như được công ty khách hàng đồng ý.
Kiểm toán viên cũng có thể sử dụng bằng chứng từ các bên hữu quan, khi đó kiểm toán
viên phải yêu cầu đơn vị trình bày rõ các yếu tố về các bên hữu quan như: các chính sách được
áp dụng, số liệu khối lượng nghiệp vụ thể hiện dưới dạng giá trị và tỷ lệ phần trăm tương ứng.
Tư liệu từ các bên hữu quan có thể được tập hợp thông qua gửi thư xác nhận, soát xét các
nghiệp vụ đầu tư của đơn vị, xác minh các nghiệp vụ bất thường.
Bằng chứng kiểm toán đặc biệt chỉ yêu cầu thu thập trong một số trường hợp tuy nhiên
có vai trò quan trọng không kém các bằng chứng khác. Bằng chứng kiểm toán đặc biệt do kiểm
toán viên thu thập từ các bên khác tuy nhiên kiểm toán viên vẫn là người chịu trách nhiệm cuối
cùng và cao nhất do đó kiểm toán viên cần cân nhắc, đánh giá cẩn thận khi sử dụng các bằng
chứng đặc biệt này.
1.1.2. Yêu cầu đối với bằng chứng kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng tới thu
thập bằng chứng kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán số 500, “Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ
các bằng chứng kiểm toán thích hợp cho mỗi loại ý kiến của mình. Sự “đầy đủ”
và tính “thích hợp” luôn đi liền với nhau và được áp dụng cho các bằng chứng
kiểm toán thu thập được từ các thủ tục thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ
bản.” Bằng chứng do kiểm toán viên thu thập được dùng để giúp kiểm toán viên
đưa ra ý kiến trên báo cáo tài chính chính vì vậy mà bằng chứng phải đảm bảo
tính thuyết phục. Tính thuyết phục của bằng chứng được quy định bởi hai tính
chất: tính hiệu lực và tính đầy đủ.
Yêu cầu về tính hiệu lực của bằng chứng là khả năng chỉ độ tin cậy hay chất
lượng của bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng có hiệu lực là bằng chứng đáng
tin cậy và liên quan tới mục tiêu kiểm toán.
Tính đáng tin cậy của bằng chứng thu thập được lại chịu ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố: nguồn gốc và bản chất của thông tin, tính thời điểm và tính khách
quan. Theo chuẩn mực kiểm toán số 500, “Độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán
phụ thuộc vào nguồn gốc (ở bên trong hay bên ngoài); hình thức (hình ảnh, tài
liệu, hoặc lời nói) và từng trường hợp cụ thể. Việc đánh giá độ tin cậy của bằng

một lúc (như việc thu hồi các khoản phải thu có thể cung cấp bằng chứng cho sự
hiện hữu và giá trị của các khoản phải thu đó).”
Yêu cầu về tính đầy đủ là khả năng chỉ số lượng hay quy mô cần thiết của bằng
chứng kiểm toán để đưa ra ý kiến, kết luận kiểm toán. Thông thường không có
thước đo chung cho tính đầy đủ do đó nó đòi hỏi sự suy đoán nghề nghiệp của
kiểm toán viên. Kiểm toán viên sẽ dựa trên mục đích của cuộc kiểm toán để đề
ra tiêu chuẩn về tính đầy đủ của bằng chứng.
Các yếu tố ảnh hưởng tới tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán gồm:
Tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng có độ tin cậy càng
thấp thì càng cần thu thập nhiều, một hay một số ít bằng chứng thu thập không
thể đủ để đưa ra nhận định xác đáng về đối tượng kiểm toán cụ thể.
Tính trọng yếu của đối tượng kiểm toán cụ thể: Đối tượng kiểm toán càng
trọng yếu thì số lượng bằng chứng cần thu thập càng nhiều. Các sai phạm được
xem là trọng yếu thường là sai phạm có giá trị lớn do đó có ảnh hưởng lớn tới
báo cáo tài chính.
Mức rủi ro của đối tượng kiểm toán cụ thể: Khoản mục có độ rủi ro cao
thì lượng bằng chứng thu thập càng nhiều và ngược lại. Trong kiểm toán ba loại
rủi ro thường được xét đến là rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát
hiện. Với rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng kiểm toán viên chỉ thu thập bằng
chứng để đánh giá. Để đảm bảo mức độ rủi ro mong muốn, trên cơ sở kết quả
đánh giá rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên xác định số lượng
bằng chứng thích hợp.
Bảng 1.1. Quan hệ giữa rủi ro và số lượng bằng chứng
Trường hợp
Rủi ro kiểm
toán
Rủ ro tiềm tàng
Rủi ro kiểm
soát
Rủi ro phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status