Bước 1
Chuẩn bị kiểm toán
Bước 2
Thực hiện công việc kiểm toán
Bước 3
Kết thúc công việc kiểm toán
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU, RỦI RO
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1. VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU, RỦI RO
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1. Vị trí của đánh giá trọng yếu, rủi ro trong quy trình kiểm toán báo
cáo tài chính
Mỗi công ty kiểm toán có quy định riêng về quy trình kiểm toán để đảm
bảo thực hiện được mục tiêu riêng của công ty. Tuy nhiên, tất cả đều cần đảm
bảo mục tiêu chung là một cuộc kiểm toán chất lượng cao, do đó, một cuộc
kiểm toán nói chung tuân theo trình từ gồm 3 bước chính như sau:
Sơ đồ 1.1: Trình tự kiểm toán tài chính
Thông thường, trọng yếu và rủi ro được coi là bước công việc cần thiết để
kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán, thiết kế chương trình kiểm toán trong
bước chuẩn bị kiểm toán. Trên thực tế, đánh giá trọng yếu, rủi ro được thực hiện
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và thiết kế chương trình kiểm toán
trong suốt cuộc kiểm toán, cả ở bước chuẩn bị kiểm toán và thực hiện kiểm
toán. Cụ thể như sau:
1.1.1.1. Đánh giá trọng yếu, rủi ro trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán bao gồm những bươc công việc theo trình tự
sau:
Sơ đồ 1.2: Trình tự công việc chuẩn bị kiểm toán
sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ
vững được uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng.
- Giúp kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như phối hợp hiệu
quả với các bộ phận có liên quan. Sự phối hợp hiệu quả đó là cơ sở để kiểm
toán viên tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với mức chi
phí hợp lý, tăng cường sức cạnh tranh cho công ty kiểm toán, giữ uy tín với
khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài.
- Kế hoạch kiểm toán là căn cứ để công ty kiểm toán tránh bất đồng với
khách hàng
- Kế hoạch kiểm toán cũng là cơ sở để giám đốc kiểm toán soát xét, đánh
giá chất lượng công việc kiểm toán, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả
của cuộc kiểm toán.
Kế hoạch kiểm toán lại được lập trên cơ sở đánh giá rủi ro, trọng yếu. Dựa
vào đánh giá rủi ro, trọng yếu, kiểm toán viên xác định được mức độ sai sót có
thể chấp nhận được đối với báo cáo tài chính, xác định được mức độ tin cậy của
hệ thống kiểm soát nội bộ. Trên cơ sở đó, kiểm toán viên xác định được bản
chất, số lượng, thới gian các thử nghiệm kiểm toán cần thực hiện, lập ra kế
hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán phù hợp. Đây chỉ là những vấn đề
chung nhất khi nói về vai trò của đánh giá trọng yếu, rủi ro trong một cuộc kiểm
toán. Vai trò cụ thể hơn sẽ được trình bày ở những phần sau khi phân tích cụ thể
về trọng yếu và rủi ro trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính.
1.2. LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH
1.2.1. Khái niệm về rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính
Rủi ro là một trong những khái niệm cơ bản của kiểm toán tài chính. Trong
mỗi cuộc kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đối mặt với hai loại rủi ro cơ
bản: rủi ro kiểm toán và rủi ro nghề nghiệp.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro
do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp
khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu”
toán mong muốn được ước tính theo tỷ lệ từ 0% đến 100%. Mức rủi ro kiểm
toán mong muốn càng thấp, càng thể hiện mức độ chắc chắn của kiểm toán viên
với ý kiến chấp nhận toàn phần. Mức 100% thể hiện kiểm toán viên hoàn toàn
không chắc chắn báo cáo tài chính không có sai phạm trọng yếu. Mức 0% thể
hiện kiểm toán viên hoàn toàn chắc chắn báo cáo tài chính không chứa đựng sai
phạm trọng yếu. Mức rủi ro kiểm toán mong muốn bằng 0 rất hiếm khi xảy ra
do hạn chế về chi phí kiểm toán. Thông thường, mức rủi ro kiểm toán mong
muốn được xác định nhỏ hơn 1%.
1.2.2.1.2. Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn
Mức rủi ro kiểm toán mong muốn đối với toàn bộ báo cáo tài chính được
kiểm toán viên xác định căn cứ vào các yếu tố sau:
a) Số lượng người sử dụng thông tin tài chính
Số lượng người sử dụng thông tin trong báo cáo tài chính càng lớn, ảnh
hưỏng của sai sót trọng yếu không được phát hiện càng lớn, mức rủi ro kiểm
toán, do đó, phải càng thấp để tăng mức độ chính xác cho kết luận của kiểm
toán viên. Số lượng người sử dụng thông tin tài chính có thể được kiểm toán
viên ước lượng bằng các chỉ tiêu sau:
- Quy mô công ty khách hàng: Quy mô công ty khách hàng thể hiện ở tổng
tài sản, doanh thu, số lượng chi nhánh, mức độ rải rác của các chi nhánh. Có thể
thấy với quy mô càng lớn, số người có liên quan đến công ty càng lớn, do đó, số
lượng người sử dụng báo cáo tài chính càng lớn.
- Phân phối quyền sở hữu: Những công ty sở hữu công cộng có ảnh hưởng
đến nhiều người hơn những công ty sở hữu tư nhận. Do đó, số lượng người
quan tâm đến thông tin tài chính của những công ty sở hữu công cộng cũng
nhiều hơn. -
- Tình hình công nợ , khả năng thanh toán của khách hàng: Công ty có
nhiều chủ nợ, khả năng thanh toán không tôt, số lượng chủ nợ quan tâm đến báo
cáo tài chính của công ty càng lớn.
- Khả năng tăng doanh thu, lợi nhuận của công ty: Khả năng tăng doanh
thu, lợi nhuận của công ty càng lớn, số lượng người muốn đầu tư vào công ty
chưa kể đến sự tác động của bất kỳ hoạt động kiểm toán nào, kể cả hoạt động
của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh, loại hình kinh doanh
của khách hàng, năng lực của nhân viên trong công ty khách hàng.
1.2.2.2.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng
a) Đánh giá rủi ro tiềm tàng cho toàn bộ báo cáo tài chính
Để đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng đối với báo cáo tài chính của công ty
khách hàng, kiểm toán viên căn cứ vào các yếu tố sau:
a1) Đặc thù về quản lý của công ty khách hàng
Chất lượng quản lý càng cao, mức độ rủi ro tiềm tàng được đánh giá càng
thấp. Chất lượng quản lý được đánh giá dựa vào những tiêu chí sau:
- Các quyết định quản lý được thực hiện bởi một người hay một nhóm
người: Nếu công ty khác hàng bị chi phối bởi một cá nhân, mức độ xuất hiện rủi
ro trọng yếu trong báo cáo tài chính sẽ cao hơn trường hợp những quyết định
quản lý được thực hiện bởi một nhóm người. Có thể thấy nếu một cá nhân riêng
lẻ chi phối toàn bộ tổ chức, khả năng gian lận nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân
đó sẽ cao. Mặt khác, những quyết định quản lý được thực hiện bởi một cá nhân
chi phối toàn bộ tổ chức không được soát xét lại bởi những thành viên khác, do
đó, làm tăng khả năng xuất hiện những quyết định sai lầm.
- Mức độ luân chuyển các nhà quản lý cấp cao: Nếu kiểm toán viên nhận
thấy các nhân sự quản lý cấp cao liên tục thay đổi, kiểm toán viên nên đặt ra
những nghi ngờ về tính liêm khiết cũng như năng lực của các nhà quản lý đo, từ
đó, đánh giá rủi ro tiềm tàng ở mức cao.
- Các nhà quản lý kỳ vọng quá mức vào một mức lợi nhuận cao: Nếu kiểm
toán viên nhận thấy nhà quản lý có động cơ mạnh mẽ để tìm kiếm một mức lợi
nhuận cao như để vay vốn ngân hàng, để chuẩn bị phát hành chứng khoán; kiểm
toán viên nên chú ý đến khả năng ghi nhận tăng doanh thu, giảm chi phí, nên
đánh giá rủi ro tiềm tàng ở mức cao.
- Các nhà quản lý tỏ thái độ bất hợp tác, trốn tránh cam kết về trách nhiệm
của nhà quản lý đối với các thông tin trên báo cáo tài chính của khách hàng: