Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ch ơng i
hoạt động kinh doanh Bảo hiểm trong nền kinh tế
thị trờng và sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật
đối với hoạt động kinh doanh Bảo hiểm.
I. hoạt động kinh doanh Bảo hiểm trong nền kinh tế thị trờng.
1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động kinh
doanh bảo hiểm trên thế giới và ở Việt nam.
1.1. Trên thế giới.
Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xa trong lịch sử nền văn minh nhân loại mà
thậm chí cho đến bây giờ ngời ta vẫn cha xác định đợc bảo hiểm xuất hiện từ khi
nào. Chúng ta có thể dễ dàng tìm đợc phế tích của những ngôi nhà tác phẩm nghệ
thuật hoặc những dấu tích còn sót lại của những nền văn minh xa kia. Tuy nhiên việc
tái lập một cách chính xác cách thức mà các thị dân đầu tiên đã sử dụng để tổ chức
các hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế lại là một điều khó khăn hơn nhiều. Trong
một số những dấu tích vật chất gây ấn tợng của văn minh thời Tiền sử, thời Cổ đại,
thời Trung cổ và thời Cận đại có các kho lúa nơi mọi ngời dự trữ lơng thực để sử
dụng trong trờng hợp khẩn cấp. Câu chuyện trong kinh thánh Joeph giải thích giấc
mơ của vua Ai Cập là một ví dụ minh hoạ nguyên tắc mà ngời ta đã áp dụng để tổ
chức dịch vụ nói trên. Kinh nghiệm cho thấy rằng đôi khi cũng xảy ra mất mùa hoặc
quân xâm lợc ngăn cản ngời dân của một thành phố thu hoạch ở vùng nông thôn
xung quanh. Mặc dù mỗi hộ gia đình có thể tự dự phòng cho những trờng hợp xấu
nói trên nhng các thị dân đã sớm nhận ra rằng việc dự trữ chung hoặc theo từng cộng
đồng có hiệu quả hơn. Mỗi ngời có khả năng sẽ phải đóng góp vào một khoản thuế
nhỏ trong những năm đợc mùa, khi giá lơng thực xuống thấp. Ngời ta thực hiện việc
mua lơng thực có thể dự trữ đợc chủ yếu là lúa mỳ. Nông dân thấy hài lòng do họ có
thể bán đợc nhiều hơn( với giá cao hơn) so với khi cơ quan thuế không thực hiện việc
mua lơng thực trên thị trờng. Gặp khi mất mùa hoặc khi thành phố bị vây hãm, cơ
quan thuế sẽ xuất ra lơng thực dự trữ để nuôi sống c dân thành phố. Vì vậy, ý tởng về
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
công ty bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ thuê các chuyên gia để lựa chọn các rủi ro có
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thể bảo hiểm và bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm bằng số tiền trích ra từ quỹ chung
mà công ty đã đem ra đầu t khi rủi ro xảy ra. Quỹ này đợc xây dựng trên cơ sở tiền
mà công ty thu đợc sau khi bán các cổ phần cho các cổ đông cộng với thu nhập nhờ
đầu t quỹ và phí bảo hiểm do ngời đợc bảo hiểm nộp. Chỉ cần khai thác viên chuyên
nghiệp tính toán một cách đầy đủ và chính xác trong việc lựa chọn rủi ro và số phí
bảo hiểm phải đóng cho mỗi loại rủi ro, cụ thể thì quỹ này luôn luôn có khả năng để
bồi thờng tổn thất cho ngời đợc bảo hiểm nếu xảy ra rủi ro và trả lãi cho các cổ đông
ở mức đủ để họ hài lòng với việc đầu t của mình.
Vào thời gian đầu, lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty bảo hiểm là bảo
hiểm hoả hoạn. Tại những thành phố đông đúc của thế kỷ XVII, hầu hết nhà cửa đều
dựng bằng gỗ, ngời ta dùng lửa để sởi, đun nấu và dùng để chiếu sáng. Vì vậy rủi ro
nhà bắt lửa là rất cao. Trong cộng đồng làng xã trớc khi diễn ra quá trình đô thị hoá,
khi một nhà bị cháy rụi, tất cả những nhà hàng xóm sẽ hợp sức với nhau để giúp xây
dựng lại ngôi nhà. Ngợc lại ở thành phố, do hàng xóm của gia đình có nhà bị cháy
đều có những nghề nghiệp chuyên môn riêng( nh thợ dệt, thợ may, th ký...) họ không
có khả năng cũng nh thời gian để giúp hàng xóm xây lại ngôi nhà trong trờng hợp
xảy ra hoả hoạn. Thay vào đó, họ đóng phí bảo hiểm cho một công ty bảo hiểm để
nhận đợc hai cam kết: cung cấp dịch vụ cứu hoả (nh dập lửa, ngăn không cho lan
sang nhà khác, và hạn chế mức thấp nhất do vụ cháy gây ra) và bồi thờng bằng tiền
mặt cho ngời đợc bảo hiểm để tạo điều kiện cho họ thuê mớn những thợ chuyên môn
cần thiết (nh thợ xây, thợ mộc...), sửa chữa lại h hỏng (hoặc xây lại ngôi nhà trong tr-
ờng hợp xảy ra hoả hoạn nghiêm trọng).
Cùng với bảo hiểm hoả hoạn, các quỹ bảo hiểm nhân thọ cũng xuất hiện. Một
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không phải là một hợp đồng bồi thờng. Mục đích của
nó là cung cấp một khoản tiền cụ thể khi xảy ra những trờng hợp đợc nêu trong hợp
đồng bảo hiểm. Không ai có thể biết chắc chắn tuổi thọ của một ngời sẽ là bao nhiêu.
Chỉ một phần c dân trên thế giớ qua đời mỗi năm. Vào giữa thế kỷ XVII, ngời ta đã
quan lại và các phú gia hảo tâm đóng góp. Thực chất của quỹ này chỉ là Lấy của ng-
ời giàu chia cho ngời nghèo. Bảo hiểm cha đủ khả năng duy trì đời sống và hoạt
động bình thờng.
Dới thời Pháp thuộc, do kinh tế cha phát triển nên bảo hiểm cũng cha thực sự
đáng kể. Hầu hết hoạt động bảo hiểm chỉ dừng lại ở chế độ bảo hiểm xã hội cho
công, viên chức bảo hiểm thơng mại có ít nhng hoàn toàn do ngời Pháp nắm giữ.
1.2.2. Từ năm 1945 đến năm 1994.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khi giành đợc độc lập năm 1945, nhà nớc ta đã phát triển tài chính Xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm với t cách là một dịch vụ tài chính mới phát
triển đợc 30 năm nay. Ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt nam (gọi tắt là
(BAOVIET) ra đời theo Quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của Thủ tớng Chính
phủ. Sự ra đời của BAOVIET đánh dấu một bớc phát triển trong lịch sử của ngành tài
chính Việt Nam. Tuy nhiên bảo hiểm Việt Nam lúc này cũng hoàn toàn mang tính
bao cấp, không hề tồn tại khái niêm Hạch toán kinh doanh nh ở các nớc T bản chủ
nghĩa. Ban đầu chỉ có 5 nghiệp vụ: bảo hiểm hàng Xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân
tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu và tái bảo hiểm.
Sự có mặt của một công ty duy nhất với cơ chế độc quyền trong Kinh doanh bảo
hiểm đã duy trì trong một thời gian dài. Cho đến tháng 12 năm 1993, việc ban hành
Nghị định 100/CP về Kinh doanh Bảo hiểm của Chính phủ đã đánh dấu một bớc
ngoặt trong quá trình phát triển hoạt động kinh doanh Bảo hiểmở nớc ta.
Độc quyền về cơ bản đã chấm dứt với sự ra đời của hàng loạt các Doanh nghiệp
bảo hiểm, đó là:
- Công ty bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh ( Bảo Minh).
- Công ty bảo hiểm Nhà Rồng ( Bảo Long).
- Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex ( PJICO).
- Công ty bảo hiểm Dầu khí Việt nam ( PVIC).
- Công ty liên doanh môi giới bảo hiểm Inchcape ( INCHIBROK).
- Công ty liên doanh bảo hiểm - Việt nam Internationnal asurance Company
ớc cần thực hiện vai trò quản lý đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm ra sao? Thị
trờng bảo hiểm mở cửa một quốc gia cần những gì để đứng vững trong cạnh tranh
trên trờng Quốc tế? Những vấn đề này sẽ đợc giải trình ở phần tiếp theo.
2. Khái niệm, vai trò, đặc trng của hoạt động kinh doanh
bảo hiểm.
2.1. Khái niệm.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là việc doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro
trên cơ sở ngời đợc bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp bảo hiểm bồi thờng hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện thuộc trách
nhiệm bồi thờng hay trả tiền bảo hiểm.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm cả hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm
và hoạt động trung gian bảo hiểm.
2.2. Vai trò của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm.
Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên Thế giới, bảo hiểm đã trở thành một
ngành kinh doanh thu hút sự tham gia đông đảo của các doanh nghiệp, các tổ chức và
dân c. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn
có ý nghĩa cả về mặt xã hội. Những lợi ích kinh tế và công dụng xã hội của hoạt
động kinh doanh bảo hiểm thể hiện trên các mặt chủ yêu sau:
2.2.1. Bảo hiểm góp phần bảo vệ tài sản, ổn định cuộc sống con ngời mang lại sự
an toàn trong xã hội.
Hoạt động bảo hiểm trớc hết là nhằm khắc phục hậu quả của rủi ro. Hậu quả
của rủi ro có nhiều dạng và nói chung đều liện quan đến khía cạnh tài chính phát
sinh các khoản chi phí, chi tiêu bất thờng mà thông thờng ngời mua bảo hiểm phải tự
gánh chịu.
Sự có mặt của các tổ chức bảo hiểm là để cung cấp dịch vụ đặc biệt cho khách
hàng đáp ứng nhu cầu đảm bảo về mặt vật chất, tài chính trớc rủi ro đối với họ. Thực
tế việc bồi thờng, trả tiền bảo hiểm của bên bảo hiểm đã giúp các tổ chức bảo toàn
vốn liếng tài sản, các cá nhân, các gia đình khắc phục khói khăn không rơi vào tình
trị thặng d cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Dù rằng những tổ chức bảo hiểm đợc
sinh ra không phải nhằm mục đích kinh doanh tiền tệ, nhng trong nền kinh tế thị tr-
ờng tổ chức bảo hiểm chỉ có thể Kinh doanh rủi ro trên cơ sở thực hiện song song
công việc đầu t tài chính.
Thức tế ở nhiều quốc gia phát triển, các tổ chức bảo hiểm hoạt động rất mạnh
trên thị trờng bất động sản, thị trờng chứng khoán đặc biệt là thị trờng vốn. Nh một
loại hình trung gian tài chính, các tổ chức bảo hiểm thu hút vốn, cung ứng vốn, góp
phần đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy sự tăng nhanh sự luân chuyển vốn, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
Bên cạnh những vấn đề đã nêu ở trên, vai trò của bảo hiểm còn thể hiện ở nhiều
mặt khác nh : Tác động đến sự phát triển các ngành kinh tế, khu vực kinh tế đặc biệt(
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, khu vực kinh tế đối ngoại); góp phần vào sự đảm bảo
xã hội, tăng thu nhập ngân sách Nhà nớc, tăng tích luỹ tiền tệ cho nền kinh tế quốc
dân.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.3. Đặc trng củA ngành hoạt động Kinh doanh bảo hiểm.
Đặc trng cơ bản của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là sự kết hợp giữa hoạt
động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm với các rủi ro đợc bảo hiểm.
Rủi ro đợc bảo hiểm: Chỉ là sự cố dự tính, nếu xảy ra gây thiệt hại hoặc ảnh h-
ởng đến đối tợng bảo hiểm sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thờng hoặc trả tiền bảo hiểm.
Những rủi ro đợc bảo hiểm thờng đợc nêu trong phạm vi bảo hiểm của qui tắc
bảo hiểm.
Phạm vi bảo hiểm: Là phạm vi giới hạn những rủi ro mà theo đó thoả thuận nếu
những rủi ro đó xảy ra ngời bảo hiểm sẽ chiụ trách nhiệm.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm do các doanh nghiệp thực hiện với t cách là ng-
ời bảo hiểm. Các doanh nghiệp bảo hiểm lập quỹ bảo hiểm trên cơ sở đóng góp phí
bảo hiểm của ngời tham gia bảo hiểm.
Ngời tham gia bảo hiểm: Là ngời có thân thể, tài sản trách nhiệm dân sự cần đ-
ợc bảo hiểm hoặc là ngời có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp
hiểm theo đơn bảo hiểm đã cấp.
3. Các hình thức hoạt động Kinh doanh bảo hiểm.
3.1. Kinh doanh bảo hiểm gốc.
Đây là một loại hình kinh doanh truyền thống của các doanh nghiệp bảo hiểm
trên thị trờng, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp ký hợp đồng bảo hiểm với
khách hàng là các tổ chức, cá nhân( không phải là một doanh nghiệp bảo hiểm) và
cam kết trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho khách hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
3.2. Kinh doanh tái bảo hiểm.
Kinh doanh Tái bảo hiểm là một loại hình kinh doanh bảo hiểm do các doanh
nghiệp tái bảo hiểm chuyên nghiệp thực hiện đối với khách hàng là các doanh nghiệp
bảo hiểm gốc trên cơ sở ký kết và thực hiện hợp đồng tái bảo hiểm với doanh nghiệp
bảo hiểm gốc.
Có hai hình thức tái bảo hiểm chính:
- Tái bảo hiểm tạm thời.
- Tái bảo hiểm cố định.
Mọi hoạt động tái bảo hiểm là tạm thời. Điều này có nghĩa là mỗi rủi ro mà
công ty bảo hiểm gốc mời chào cho công ty tái bảo hiểm thì công ty tái bảo hiểm đều
có thể quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận. Điều này liên quan rất nhiều đến
việc quản lý nh chúng ta có thể hình dung và do vậy rất tốn kém. Hình thức tái bảo
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hiểm cố định ngày càng trở nên phổ biến. Một thoả thuận sẽ đợc lập giữa công ty bảo
hiểm gốc và công ty tái bảo hiểm cam kết rằng, tất cả những rủi ro đáp ứng một số
tiêu chuẩn đã thoả thuận sẽ đợc chào (tái) cho công ty tái bảo hiểm.
Có hai dạng tái bảo hiểm cố định.
3.2.1. Tái bảo hiểm cố định theo tỉ lệ.
Theo phơng pháp tái bảo hiểm này, công ty bảo hiểm gốc quyết định tỷ lệ rủi ro
giữ lại là bao nhiêu và thảo thuận chuyển nhợng phần còn lại cho các công ty tái bảo
hiểm theo một hợp đồng cố định.
Có hai loại hợp đồng tái bảo hiểm theo tỷ lệ.
vụ bảo hiểm vợt quá con số cụ thể thì công ty tái bảo hiểm đồng ý thanh toán. Tỷ lệ
tổn thất là tỷ lệ khiếu nại theo phần trăm của phí bảo hiểm. Do vậy phí bảo hiểm là
100.000VND một khiếu nại thanh toán là 50.000VND. tỷ lệ tổn thất là 50%.
Khi tỷ lệ này vợt quá một con số nhất định, công ty tái bảo hiểm sẽ không sẵn
sàng bồi thờng toàn bộ tổn thất vợt quá tỷ lệ đã đợc thoả thuận vì điều này sẽ không
khuyến khích công ty bảo hiểm gốc thận trọng trong việc đánh giá rủi ro giải quyết
khiếu nại của họ.
3.3. Kinh doanh môi giới bảo hiểm.
Hoạt động môi giới bảo hiểm là việc cung cấp thông tin, t vấn cho bên mua bảo
hiểm, điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và các công
việc liên quan đến việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu
cầu của bên mua bảo hiểm.
Ngời môi giới bảo hiểm có thể là một cá nhân hoặc một công ty bảo hiểm mà
toàn bộ thời gian làm việc của họ là thu xếp để khách mua bảo hiểm ký kết hợp đồng
với các công ty bảo hiểm.
Ngời đợc bảo hiểm có thể nhận đợc sự t vấn độc lập từ một ngời môi giới về
một loạt vấn đề bảo hiểm mà không phải trả phí trực tiếp cho ngời môi giới.
Ví dụ: Một ngời môi giới bảo hiểm sẽ t vấn về các nhu cầu bảo hiểm, các hoạt
động bảo hiểm tốt nhất và những hạn chế chúng, về thị trờng bảo hiểm tốt nhất, các
thủ tục khiếu nại, nghĩa vụ của ngời đợc bảo hiểm theo các điều kiện của đơn bảo
hiểm và ngời môi giới sẽ cập nhật các thông tin theo thời gian bao gồm cả những
thay đổi của thị trờng.
Theo quan điểm của các công ty bảo hiểm, những cuộc đàm phán với ngời môi
giới thờng dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn so với việc tiếp xúc trực tiếp với ngời
mua bảo hiểm.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ở Việt Nam hiên nay mới có một công ty liên doanh môi giới bảo hiểm, đó là
công ty Aon Inchinbrok thành lập năm 1993( vốn điều lệ 250.000 USD). Đây là
công ty liên doanh giữa một bên là Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam (BAOVIET) và
an toàn cao, rủi ro ít nh nớc ta.
1.1. Bảo hiểm có tác dụng đảm bảo sự an toàn và ổn định cho đời sống kinh
tế xã hội ở nớc ta trong giai đoạn chuyển đổi.
ở nớc ta, hàng năm có một số vùng thờng xuyên bị thiên tai đe doạ nhng nhờ có
bảo hiểm mà các Doanh nghiệp , các tổ chức kinh tế xã hội và dân c đã đợc bồi thờng
kịp thời, tránh đợc tình trạng gián đoạn trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm việc xây
dựng kinh tế nớc nhà. Trong năm 1996 Tổng Công ty bảo hiểm Việt nam
( BAOVIET) đã giải quyết bồi thờng hơn 400.00 vụ tổn thất trong đó có một số vụ
tổn thất lớn đã đợc BAOVIET bồi thờng nh :
Vụ việc. Số tiền bồi thờng.
- Vụ tổn thất về khống chế giếng dầu 9.000.000 USD.
của hãng AEDC
- Vụ tổn thất toàn bộ một máy bay lên 1.600.000 USD.
.thẳng.
- Vụ tổn thất hàng Xuất khẩu bột mỳ do 1.500.000 USD.
chở trên tàu bị mất tích.
- Vụ tổn thất cháy nhà máy giầy An Đỉnh 1.000.000 USD.
Hải Phòng
- Bồi thờng về trách nhiệm dân sự chủ tàu 16,5 tỷ đồng VN.
Trờng Sa đối với hu hỏng đờng ống dẫn khí.
Nhằm mục đích chủ động và tích cực đề phòng và hạn chế tổn thất, BAOVIET
đã cùng ngành giao thông vận tải tài trợ cho việc xây dựng một nhánh đờng lánh nạn.
Cho đến nay, đã có gần 20 nhánh đờng lánh nạn đợc xây dựng với sự đóng góp tài
trợ của BAOVIET với số vốn đầu t tới hàng trăm triệu đồng. Nhờ những con đờng
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lánh nạn đó mà hàng chục xe chở khách đã đợc cứu thoát khỏi tai nạn, nhiều sinh
mạng đã đợc cứu thoát khởi lỡi hái của tử thần.
1.2. Hoạt động Kinh doanh bảo hiểm là giải pháp đảm bảo sự an toàn cho các
thị trờng bảo hiểm.
1. Qui chế pháp lý của Doanh nghiệp bảo hiểm.
1.1.Khái niệm Doanh nghiệp bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm là pháp nhân đợc thành lập theo những điều kiện và
trình tự do luật định, chuyên hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm mục đích tạo ra
thu nhập và lợi nhuận.
1.2. Các đặc điểm của Doanh nghiệp bảo hiểm.
1.2.1. Doanh nghiệp bảo hiểm đợc thành lập theo những điều kiện và trình tự do
luật định.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Doanh nghiệp bảo hiểm gắn bó chặt chẽ với quốc kế dân sinh, đợc coi là một tổ
chức kinh doanh ngành nghề đặc biệt, giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh
tế và phải đợc thành lập theo đúng pháp luật.
Điều 63 Luật Kinh doanh Bảo hiểm đã đợc Quốc hội nơc Cộng Hoà XHCN
Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09/12/200 quy định Điều kiện để
đợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm;
Các điều kiện để đợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh bảo
hiểm bao gồm:
1, Có số vốn điều lệ đã góp không đợc thấp hơn mức vốn pháp định theo quy
định của Chính phủ.
Mức vốn pháp định của Doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm
đợc quy định nh sau: Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, Công ty liên doanh bảo
hiểm: 20 tỷ đồng Việt nam hoặc 2 triệu đô la Mĩ(Khoản 1 Điều 22 Nghị định
100/CP, ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm)
2, Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64
Luật Kinh doanh Bảo hiểm.
3, Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật kinh
doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật.
4, Ngời quản trị, ngời điều hành có năng lực quản lý chuyên môn nghiệp vụ về
Hình thức tổ chức của doanh nghiệp bảo hiểm quyết định điều kiện và trình tự
thành lập, phơng thức tập chung vốn và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp này. Nghị
định 100/CP Kinh doanh bảo hiểm quy định: Doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm
Doanh nghiệp Nhà nớc, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tơng hỗ, Công ty liên doanh
bảo hiểm, chi nhánh của tổ chức bảo hiểm nớc ngoài, Doanh nghiệp bảo hiểm 100%
vốn nớc ngoài hoạt đọng trên lãnh thổ Việt Nam.
1.3. Thành lập và đăng ký kinh doanh đối với Doanh nghiệp bảo hiểm.
1.3.1. Thành lập Doanh nghiệp bảo hiểm.
Việc thành lập doanh nghiệp bảo hiểm phải đợc thực hiện theo đúng điều kiện
và trình tự do luật định và phải có đủ một số vốn nhất định. ở nớc ta, Chính phủ
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thống nhất quản lý Nhà nớc về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ Tài chính là cơ
quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nớc về hoạt động kinh doanh
bảo hiểm.
Vì vậy khi thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, trớc hết phải xin phép Bộ Tài
chính xét duyệt về việc này. Các điều kiện cần thiết để Bộ Tài chính xét duyệt cấp
giấy Chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm( gọi tắt
là giấy chứng nhận) đã đợc quy định trong Luật Kinh doanh bảo hiểm đợc Quốc hội
thông qua ngày 09/12/200 tại Điều 63. Còn Điều 64 quy định cụ thể về Hồ sơ xin
cấp giấy phép thành lập và hoạt động và Điều 60 quy định Nội dung hoạt động
của doanh nghiệp bảo hiểm.
Quản lý chặt chẽ doanh nghiệp bảo hiểm, không cho phép những doanh nghiệp
cha đợc phép đăng ký mà đã kinh doanh bảo hiểm là nguyên tắc chung trong Luật
Kinh doanh bảo hiểm ở nhiều nớc trên thế giới.
Khi thành lập doanh nghiệp bảo hiểm phải có đủ số vốn theo luật định. Điều 22
Nghị định 100/CP quy định mức vốn pháp định của Doanh nghiệp bảo hiểm và tổ
chức môi giới bảo hiểm nh sau:
1- Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam , công ty liên doanh bảo hiểm: 20tỷ
đồng Việt Nam hoặc 2 triệu đô la Mĩ.
những hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện mục tiêu đề ra trên các nguyên tắc
và quy tắc quản trị quy định.
Cơ cấu tổ chức là hình thức tồn tại của tổ chức, biểu thị việc sắp xếp các bộ
phận đợc chuyên môn hoá với những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, có mối liên
hệ mật thiết với nhau và đợc bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm thực
hiện các chức năng quản lý.
Cơ cấu tổ chức quản lý tốt sẽ đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp có hiệu
quả và đối phó với mọi biến động của thị trờng.
Nguyên tắc hình thành cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức phải đi theo và đáp ứng
nhu cầu của chiến lợc kinh doanh, tính tối u, tính linh hoạt, tính tin cậy và tính kinh
tế.
Các nhân tố tác động đến cơ cấu tổ chức là chiến lợc của doanh nghiệp bảo
hiểm, nhiệm vụ của doanh nghiệp, công nghệ, môi trờng kinh doanh và mối quan hệ
phụ thuộc giữa số lợng ngời bị quản lý và khả năng kiểm tra của ngời lãnh đạo.
Để thiết kế cơ cấu tổ chức một cách hoàn chỉnh và có hiệu quả, thì phải xem xét
kĩ lỡng các điều kiện liên quan môi trờng, chiến lợc công nghệ... của doanh nghiệp.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vì vậy cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bảo hiểm không có tính cứng nhắc, mà có
thể thay đổi tuỳ thuộc vào các điều kiện ảnh hởng.
Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đợc tổ chức theo:
Văn phòng chính: có trách nhiệm xác định chính sách tổng thể và điều hành
các hoạt động của doanh nghiệp.
Các văn phòng chi nhánh: có trách nhiệm kinh doanh dịch vụ đối với khách
hàng và thanh toán dàn xếp các khoản bồi thờng.
Do tính phân bố rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp nên rất khó miêu tả
mẫu chuẩn cơ cấu tổ chức. Nhng nhìn chung, các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động
theo nguyên tắc:
a. Văn phòng chính.
Văn phòng chính thờng đặt tại Thủ đô hoặc một trong các thành phố chính
phụ trách bảo hiểm hoả hoạn, Giám đốc( trởng phòng) phụ trách bảo hiểm tai nạn và
bộ phận khai thác hàng hải chịu trách nhiệm trong phạm vi khai thác thuộc công việc
của mỗi bộ phận khai thác và quản lý bồi thờng.
b. Văn phòng chi nhánh( còn gọi là công ty hay chi nhánh công ty)
Tổ chức tại văn phòng chi nhánh thờng khác với văn phòng chính: Đây là đơn vị
trực tiếp giao dịch với bên ngoài thông qua các nhân viên và các đại diện.
...
Giám đốc văn phòng chi nhánh có trách nhiệm đối với hoạt động của công ty
trong phạm vi địa lý mà chi nhánh kiểm soát. Giúp việc cho Giám đốc có thể là một
vài Phó giám đốc.
Công việc tại văn phòng chi nhánh đợc chia thành các phòng dới sự kiểm soát
của các giám sát( hoặc trởng phòng).
Mặt khác, do đặc trng của ngành bảo hiểm nên các nhà bảo hiểm mở rất nhiều
chi nhánh và các cấp bên dới các chi nhánh, có thể gọi là văn phòng khu vực( hoặc
văn phòng đại diện) dù cho việc phát triển các chi nhánh thỉnh thoảng bị chỉ trích là
lãng phí.
Nh vậy một công ty bảo hiểm có thể khái quát mô hình cơ cấu tổ chức nh sau:
...
22
giám đốc chi nhánh
Nhân viên
đại lý và
quản lý
viên
Thanh tra
viên
Nhân viên
nhân thọ là marketing, thẩm định và phân loại rủi ro, dịch vụ khách hàng, giải quyết
khiếu nại, đầu t, kế toán, hệ thống thông tin, luật và nhân lực.
sơ đồ tổ chức theo chức năng.
Cách thứ 2 : Tổ chức theo sản phẩm.
Nếu một công ty đợc tổ chức theo sản phẩm, thì công việc của nó đợc tổ chức
theo loại hình bảo hiểm của công ty. Mỗi loại hình bảo hiểm đợc quản lý bởi một
phòng của công ty. Kết quả là phòng bảo hiểm nhân thọ chịu trách nhiệm marketing,
23
Giám đốc điều hành
Ban kế toán Hệ thống thông tin
Phòng cán bộ Phòng chuyên giá
bảo hiểm
Marketing
tiếp thị
Thẩm
định và
đánh giá
rủi ro
Định giá
bảo hiểm
Actuarial
Đầu t
Dịch vụ
khách
hàng
Giải
quyết
khiếu
nại
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Marketing Dịch vụ
khách
hàng
Khai
thác
Định giá
bảo hiểm
Giải
quyết
khiếu nại
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cách thứ 3: Tổ chức theo lãnh thổ.
Nếu một công ty đợc tổ chức theo lãnh thổ, thì các bộ phận chủ yếu của nó đợc
xác định theo khu vực địa lý, mà tại đó nó hoạt động. Một công ty kinh doanh tại
Việt Nam, có thể có các bộ phận Bắc, bộ phân Nam, tức là hoạt động của nó là trong
phạm vi các tỉnh của đất nớc. Trong mỗi bộ phận hoạt động theo lãnh thổ, thì hoạt
động của nó có thể chia nhỏ theo loại sản phẩm hoặc chức năng.
Giám đốc điều hành của mỗi văn phòng khu vực sẽ báo cáo lên Tổng Giám đốc
của công ty. Hoạt động của văn phòng khu vực bao gồm khai thác phát hành đơn bảo
hiểm, thu phí bảo hiểm, giải quyết khiếu nại, dịch vụ cho khách hàng, giám sát và hỗ
trợ cho các hoạt động marketing của vùng.
sơ đồ tổ chức theo l nh thổ.ã
25
Giám đốc điều hành
Các văn phòng khu
vực
Trụ sở chính của
Tập đoàn
Phòng kế