Thực trạng tổ chức kế toán nguyên vật liệu và phân tích tình hình cung cấp và sử dụng nguyên vật liệu ở Công ty CP xây dựng lắp máy điện nước Hà nội. - Pdf 76

Chơng 3
Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán
và nâng cao hiệu quả sử dụng vật liệu ở Công ty xây
dựng lắp máy điện nớc Hà Nội.
3.1 Đánh giá về công tác kế toán vật liệu tại Công ty CP
xây dựng lắp máy điện nớc
Công tyCP xây dựng lắp máy điện nớc Hà nội qua nhiều năm phát triển đến
nay công ty đã có nhiều những bớc tiến rõ rệt. Sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đảm
bảo đời sống cho cán bộ công nhân ngày một khá hơn, thực hiện đầy đủ mọi nghĩa
vụ đối với nhà nớc. Công ty luôn chú ý tới việc nâng cao tay nghề, cấp bậc thợ cho
công nhân cũng nh nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý. Hơn thế nữa, công ty đã
tìm cho mình một hớng đi đúng đắn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
thi công, không những tăng cờng vốn đầu t vào việc mua sắm máy móc và trang
thiết bị hiện đại để bắt kịp với xu hớng phát triển của thị trờng. Đến nay công ty đã
có một chỗ đứng khá vững chắc trên thị trờng xây dựng, là một doanh nghiệp luôn có
uy tín đã và đang thi công nhiều công trình trên khắp mọi miền đất nớc.
Là một thành viên trực thuộc Sở Xây dựng Hà nội, một đứa con trong gia đình
của ngành XDCB, công ty cũng luôn cố gắng thực hiện tốt những qui chế quản lý của
ngành nói chung và đối với công tác quản lí, nâng cao hiệu quả sử dụng vật t nói
riêng. Mục tiêu lâu dài của công ty cũng chính là tuân theo xu hớng của tất cả các
ngành kinh tế khác tồn tại trong nền kinh tế quốc dân.Đó là ,bảo đảm đúng mục tiêu
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ theo định hớng XHCN. Thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đẩy nhanh
tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả, ở bất kỳ loại hình
doanh nghiệp nào cũng cần đến một nguồn đối tợng lao động ( nguyên nhiên vật
liệu, bán thành phẩm...) dồi dào. Những đối tợng lao động nói trên nếu xét về hình
thái hiện vật gọi là các tài sản lu động, còn xét về hình thái giá trị đợc gọi là vốn lu
động của doanh nghiệp.Trong điều kiện kinh tế thị trờng, công tác quản lí vốn lu
động nói chung và nhiệm vụ giám sát, theo dõi quá trình vận động không ngừng qua
các chu kỳ sản xuất kinh doanh, luôn đợc biểu hiện dới hình thái ban đầu là vốn tiện

phí bảo quản, chi phí bảo hiểm kho hoặc những rủi ro làm giảm chất lợng vật liệu tồn
kho..Nh vậy, trong chiến lợc phát triển mới của mình, mục đích của công ty là hạn
chế đến mức tối thiểu có thể số nguyên vật liệu tồn kho, tránh để một lợng nguyên
vật liệu lớn hơn nhiều so với nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình luôn bị ứ đọng,
dẫn đến tồn đọng vốn, phần nào làm giảm tốc độ luân chuyển của vốn lu động.
Qua tính toán ta thấy đợc sự phân bố của giá trị vật t chiếm trong tổng số vốn
lu động của công ty, từ đó nhận ra những nhu cầu vốn về vật t cho từng năm cũng có
sự biến động khá mạnh. Nếu xác định đúng đắn, chính xác đợc nhu cầu về vật t thì
công ty sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế,tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, đặt biệt đối với
vốn lu động là vật t dự trữ tránh tình trạng ứ động vốn, sử dụng vốn không hợp lý, vỏ
bọc giả tạo về nhu cầu vật t...
Đặt trong tình hình thực tế của công ty CP XD lắp máy điện nớc HN, tỉ trọng
vật t chiếm trên tổng số vốn lu động trong 2 năm gần đây giảm, tuy nhiên xét trong
hoàn cảnh thực tế sản xuất kinh doanh của công ty và tình hình cung cấp vật t trên thi
trờng thì điều này lại là tín hiệu tốt. Thật vậy, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp
trong ngành xây lắp đều có mức dự trữ vật t trong kho càng ít càng tốt. Nhu cầu dự
trữ thờng xuyên cho các công trình, nhu cầu dự trữ thời vụ vào cuối năm nh trớc kia
hiện nay không còn nữa. Các nhà cung cấp vật t cho công ty luôn sẵn sàng cung ứng ,
đáp ứng không những vế số lợng mà cả về chất lợng. Các nguyên vật liệu chính phục
vụ chủ yếu trong các công trình xây dựng, lắp đặt nh: sắt, thép các loại, gạch, xi
măng...luôn sẵn có trên thị trờng. Ngoài ra công ty còn có một mạng lới kho tàng tập
kết vật t tốt, hạn chế hao hụt trong khâu bảo quản. Chu kỳ giao hàng , thời gian vận
chuyển từ nơi cung ứng đến chân công trình hay về kho đều đợc rút ngắn đến mức
tối thiểu. Mặt khác, tỉ trọng vật liệu so vốn lu động giảm cho thấy vòng quay vật liệu
tại công ty ngày càng nhanh, công ty chỉ tập trung một lợng vốn nhất định vừa đủ
vào việc dự trữ vật liệu là sự mạnh dạn, táo bạo trong sản xuất kinh doanh. Bởi vì,
công ty muốn có thêm một lợng vốn bằng tiền, các khoản vốn đầu t ngắn hạn, các
khoản vốn trong thanh toán... để phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh khác của công
ty.
Gắn với nhiệm vụ kế toán vật liệu và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng

3.1.2 Những mặt hạn chế
Tuy nhiên, do đặc thù là một doanh nghiệp của ngành XDCB, sản phẩm xây lắp
là công trình hoặc hạng mục công trình dở dang, các công trình dân dụng,các công
trình lắp đặt điện nớc...Hầu hết các sản phẩm này đều có qui mô lớn, kết cấu phức
tạp, thời gian sử dụng lâu dài, giá trị lớn, có tính tổng hợp về kinh tế, chính trị, kỹ
thuật,nghệ thuật...Mặt khác, quá trình thi công lại đợc chia làm nhiều giai đoạn:
chuẩn bị điều kiện cho thi công, xây dựng, lắp đặt kết cấu, thiết bị công nghệ và các
thiết bị kỹ thuật phục vụ cho các đối tợng sử dụng . Mỗi giai đoạn thi công lại bao
gồm rất nhiều công việc khác nhau, khối lợng thi công chủ yếu đợc tiến hành ngoài
trời nên chịu ảnh hởng rất nhiều của điều kiện thiên nhiên nh: nắng, ma, gió, bão
...Do đó, quá trình và điều kiện sản xuất thi công không ổn định, có tính lu động
cao..Điều này làm cho việc quản lí và nâng cao hiệu quả sử dụng vật liệu nói riêng và
công tác hạch toán kế toán nói chung ở công ty cũng có một số khó khăn, cụ thể là:
- Việc tổ chức quản lý vật liệu ở các xí nghiệp đội thi công đặc biệt vật t mua đ-
ợc chuyển thẳng đến chân công trình còn cha chặt chẽ. Vì việc giao nhận các loại vật
liệu này không đợc cân đong đo đếm, lại để ngay tại chân công trình nên công tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status