BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
----------
LƢƠNG THỊ QUANG
KIỂM TRA KIẾN THỨC HỌC SINH BẰNG CÁC CÂU HỎI
TỰ LUẬN ĐỂ LỰA CHỌN CÁC PHƢƠNG ÁN NHIỄU CHO HỆ
THỐNG CÂU HỎI KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN CHƢƠNG I
SINH HỌC 11 BAN CƠ BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI - 2009
1
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
3
5
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
6
1.1. Cơ sở lý luận
6
1.1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
6
1.1.1.1. Trên thế giới
6
1.1.1.2. Trong nước
8
1.1.2. Những khái niệm cơ bản về kiểm tra đánh giá.
11
1.1.2.1. Kiểm tra
11
18
1.1.5.2. Quy trình kiểm tra đánh giá.
19
1.1.6. Những hạn chế trong thực tế về kiểm tra đánh giá
19
1.1.7. Trắc nghiệm dạng MCQ trong dạy học
20
1.1.7.1. Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan.
20
1.1.7.2. Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan dạng MCQ
23
1.1.8. Vai trò của phương án nhiễu trong xây dựng hệ thống câu
hỏi MCQ
23
1.1.9.Quan hệ giữa câu hỏi tự luận và câu hỏi MCQ
24
2.4.2. Quy trình xây dựng câu tự luận ngắn
35
2.4.3.Kết quả xây dựng các câu tự luận ngắn.
36
2.4.4. Sử dụng câu tự luận ngắn để kiểm tra kiến thức học sinh tìm
ra phương án nhiễu.
44
Chƣơng 3. Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
cho chƣơng ISinh học 11 cơ bản
86
5
3.1 Tiêu chuẩn một câu hỏi trắc nghiệm, một bài trắc nghiệm dạng
MCQ
86
3.1.1. Tiêu chuẩn của một MCQ
86
3.4.4. Xác định độ tin cậy tổng thể của bộ MCQ
96
3.4.5. Phân biệt độ giá trị và độ tin cậy của bài trắc nghiệm
98
3.5. Thực nghiệm định lượng cho bộ câu hỏi MCQ
99
3.5.1. Phương án tiến hành thực nghiệm
99
3.5.2. Phân tích các chỉ số về độ khó và độ phân biệt
99
3.5.3. Kết quả phân tích tổng thể xác định độ tin cậy, tính giá trị
102
Kết luận và đề nghị
105
Phụ lục
trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (MCQ). Trắc nghiệm khách quan được
7
quan tâm do: có thể đánh giá phạm vi kiến thức rộng hơn hình thức thi tự luận,
số lượng câu hỏi trong một bài kiểm tra nhiều hơn tự luận, mỗi câu lại có nhiều
phương án trả lời nên đề cập được khối lượng kiến thức lớn, có thể bao quát hầu
hết nội dung của chương trình học.
Đề trắc nghiệm khách quan với số lượng câu hỏi nhiều có thể phủ khắp
phạm vi kiến thức của môn học trong chương trình THPT. Vì vậy, bằng câu hỏi
trắc nghiệm khách quan, HS sẽ không học tủ, học lệch mà phải học đầy đủ, tồn
diện và khơng được bỏ qua bất cứ một kiến thức cơ bản nào có trong chương
trình. Việc chấm và cho điểm dễ bảo đảm khách quan hơn so với trắc nghiệm tự
luận. Có thể dễ dàng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tổ chức
thi, chấm bài một cách nhanh chóng, chính xác và an toàn.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy bộ ngân hàng câu hỏi TNKQ dùng để KTĐG
cịn ít về số lượng và chưa hoàn thiện về chất lượng thể hiện ở nhiều khía cạnh,
trong đó các phương án nhiễu thường cịn áp đặt, mang nhiều tính chủ quan của
người ra đề, thậm chí có phương án sai khơng có lý. Cần phải có một bộ ngân hàng
TNKQ bám sát nội dung chương trình sách giáo khoa (SGK), đo được nhiều mức
độ nhận thức khác nhau như: ghi nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp,...
Xuất phát từ việc nhận thức vai trò quan trọng của phương án nhiễu trong
xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan (MCQ) chúng tôi chọn đề tài: “Kiểm
tra kiến thức học sinh bằng các câu hỏi tự luận để lựa chọn các phương án
nhiễu cho hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương I
sinh học 11 ban cơ bản.”
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Xây dựng hệ thống câu hỏi tự luận ngắn tổng quát về nội dung kiến thức
của chương I sinh học 11 ban cơ bản.
Nghiên cứu tài liệu có liên quan : Lý luận và phương pháp dạy học Sinh
học, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, các luận án, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ có
liên quan.
7.2. Phương pháp điều tra
Khảo sát trực tiếp việc KT-ĐG kết quả học tập môn Sinh để thấy được
thực trạng của việc KT-ĐG môn Sinh ở trường THPT hiện nay. Khảo sát bằng
cách dự giờ, sử dụng phiếu điều tra để biết được thực trạng của việc thực hiện
KT- ĐG môn Sinh ở trường THPT hiện nay.
7.3. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: thực nghiệm bằng cách kiểm tra
học sinh bằng các câu hỏi ngắn để xác định các phương án trả lời mà học sinh
hay nhầm lẫn.
7.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phép thống kê trong xử lý các số liệu thu được trong các khảo
sát và thực nghiệm.
8. Luận cứ:
+ Hệ thống câu hỏi tự luận ngắn cung cấp nguồn phương án nhiễu hiệu
quả để xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chất lượng.
+ Câu hỏi trắc nghiệm khách quan là một công cụ để đổi mới phương pháp
dạy và học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
9. Những đóng góp mới của luận văn
9.1 Xác định thực trạng sử dụng câu hỏi trắc nghiệm MCQ trong dạy học bộ
môn Sinh học 11 ở trường THPT hiện nay.
9.2. Bổ sung, hồn chỉnh quy trình xây dựng MCQ
9.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi tự luận ngắn kiểm tra kiến thức HS để tìm các
phương án nhiễu hiệu quả để xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chất lượng.
10
quan, giúp cho xử lý kết quả nhanh hơn.
Đầu thế kỷ XX Alfred Binet - nhà tâm lý học người Pháp, khi nghiên cứu
khảo sát những trẻ em mắc bệnh tâm thần, khơng có khả năng tiếp thu tri thức
bằng cách dạy ở trường học, cùng với cộng sự, ông đã phát hiện ra bài trắc
nghiệm về trí thơng minh. Năm 1910, trắc nghiệm của Binet đã được dùng ở Mỹ.
Năm 1916, TS Lewis Terman ở trường Đại học Stanford tiến hành sửa
đổi, bổ sung nên gọi là trắc nghiệm Stanford - Binet và nó tiếp tục được sửa đổi
vào năm 1937 và 1960. Từ khi ra đời, mặc dù có nhiều trường hợp lạm dụng hay
áp dụng sai lầm bài trắc nghiệm trên nhưng mọi người đều phải công nhận rằng,
các bài trắc nghiệm trên đã giúp cho các nhà giáo dục đánh giá trí tuệ trẻ em hữu
hiệu hơn bất kỳ các phương pháp nào khác. Thực chất các trắc nghiệm của Bitnet
là dùng để đo năng lực trí tuệ tổng quát của cá nhân, không dùng cho việc đo
12
lường thành quả học tập ở trường, nhưng nó là sự mở đầu của con đường đi đến
các trắc nghiệm theo nhóm, có thể dùng được trong trường học.
Năm 1920, trắc nghiệm nhóm ra đời ở Mỹ, học sinh được trắc nghiệm với
mục đích xem họ có thể nhớ được tư liệu đã học từ các bài giảng và sách giáo
khoa nhanh chóng như thế nào. Các cơng cụ này thật sự có nhiều thuận tiện
(nhanh chóng, chính xác, khách quan) nên được nhiều nhà giáo dục hưởng ứng.
Do đó, cần tiêu chuẩn hoá các bài trắc nghiệm và các thủ tục để định chuẩn. Đây
chính là cơ sở để ra đời các nhà xuất bản trắc nghiệm tại các nước phát triển vào
những năm 30 của thế kỷ này.
Các bài trắc nghiệm dần được các chuyên gia củng cố, bổ sung, hoàn thiện
và kết quả những năm 40, các đề trắc nghiệm dùng trong tuyển sinh ra đời.
Giữa thế kỷ XX, các bài trắc nghiệm mang tính kinh doanh ra đời, chúng
được tin tưởng một cách tuyệt đối và sử dụng một cách máy móc nên đã khơng
thu được kết quả như ý đối với người sử dụng.
chương trình tài trợ của UNDP. Phát huy kết quả của hội thảo, khoa Sinh-KTNN
đã triển khai và xây dựng hàng loạt các bộ câu hỏi trắc nghiệm ở các bộ môn, sử
dụng như một phương tiện để kiểm tra một số môn.
Từ năm 1990, trắc nghiệm lượng giá mới được thực sự quan tâm và ứng
dụng ở nhiều cấp học.
Năm 1990, Bộ y tế với sự giúp đỡ của đề án “Hỗ trợ hệ thống đào tạo” của
chương trình hợp tác Việt Nam - Thuỵ Điển (03/SIDA) đã mở những lớp tập
huấn về kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ cho toàn bộ giảng viên các trường y
tế. Kết quả là, đã xây dựng được bộ công cụ đánh giá bằng hệ thống các câu hỏi
TNKQ chuyên khoa, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường y dược.
14
Tháng 2/1994, Bộ Giáo dục - đào tạo theo hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá, đã
phối hợp với Viện cơng nghệ Hồng gia Melbourne của Australia, tổ chức các
cuộc hội thảo với chủ đề “Kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ” tại thành phố Hồ
Chí Minh - Huế - Hà Nội. Nội dung hội thảo đã trang bị cho nhiều cán bộ giảng
dạy đại học những lý luận cơ bản về việc thực thi phương pháp mới mẻ này [33].
Năm 1994 - 1995, với sự tài trợ của Liên hiệp quốc, Đại học Tổng hợp Hà
Nội cũng đã mở những lớp dài hạn bồi dưỡng về phương pháp xây dựng câu hỏi
TNTQ và việc sử dụng nó vào dạy học, được rất nhiều giảng viên tham gia.
Vào những năm này, TS Lê Đình Trung với nghiên cứu về “Sử dụng câu hỏi
TNTQ dạng MCQ để kiểm tra hiệu quả của phương pháp giảng dạy tích cực ở
trường phổ thơng bằng toán học nhận thức” đã khẳng định được tác dụng lớn lao
của TNKQ trong đánh giá kết quả học tập.
Từ năm 1996 - 2000, nhiều luận văn thạc sỹ như: Nguyễn Thị Kim Giang,
Nguyễn Thị Lý, Nguyễn Kỳ Loan - dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đình Trung đã xây dựng được bộ câu hỏi TNKQ dùng cho sinh viên Đại Học và Cao đẳng
trong cả nước. Tác giả Nguyễn Thanh Mỹ cũng xây dựng được hệ thống câu hỏi
TNKQ dạng MCQ dùng cho chương trình sinh học 10 THPT dưới sự hướng dẫn
đã thành lập Nha khảo thí (trực thuộc Bộ giáo dục chế độ cũ) là nơi chuyên phát
hành các đề trắc nghiệm cho các kỳ thi ở trường phổ thông.
Sau năm 1975, một số trường tiểu học và trung học chuyên nghiệp vẫn áp
dụng thi TNKQ trong các bộ môn khoa học tự nhiên. Và mặc dù cịn nhiều tranh
luận nên hay khơng nên sử dụng TNKQ trong thi cử nhưng vấn đề này vẫn được
nghiên cứu ở bậc đại học. Bộ môn giải phẫu ở trường Đại học Y thành phố Hồ
Chí Minh, dưới sự chỉ đạo của giáo sư Nguyễn Quang Quyền, đã xuất bản cuốn
“Mục tiêu bài giảng và trắc nghiệm giải phẫu học”.
16
Năm 1995, trường Đại học Y, Dược, Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã
đi tiên phong trong việc áp dụng tin học vào trắc nghiệm đánh giá thành quả học
tập của sinh viên.
Từ năm 1992 - 1995 tại Đại học khoa học Huế, đã đồng loạt triển khai bộ
câu hỏi TNKQ ở các bộ môn trong khoa, đã thu được nhiều kết quả khả quan.
GS Nguyễn Phụng Hoàng là một trong những người có nhiều đóng góp tích cực
ở lĩnh vực này.
Từ năm 1995 đến nay, GS - TS Đặng Ứng Vân đứng đầu nhóm các nhà
khoa học thuộc trung tâm đảm bảo chất lượng và nghiên cứu phát triển giáo dục
đã xây dựng hệ thống câu hỏi MCQ dùng trong kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của sinh viên ở trường Đại học, Cao đẳng, sinh viên trực tiếp làm bài trên
máy và biết kết quả ngay sau khi làm bài xong.
Tóm lại, trong giáo dục ngày nay, đổi mới nội dung dạy học kết hợp với
đổi mới phương pháp KT- ĐG theo hướng TNKQ đang và đã được triển khai
rộng rãi ở các cấp học, bậc học trong toàn quốc. Thực tiễn đã dần khẳng định,
việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng TNKQ một cách hợp lý trong dạy học là
cần thiết, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đổi mới GD& ĐT theo chiến lược phát
triển kinh tế xã hội năm 2001 - 2010 của Đảng cộng sản Việt Nam.
xảo của HS được ghi nhận bằng điểm số (có thể là các thang điểm 5, 10, 20,
100…). Điểm số là những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ của mỗi HS về mặt
định tính (theo thang giỏi, khá, trung bình, yếu) [10] ;
1.1.2.4.Lượng giá
“Lượng giá (Assessment) căn cứ vào các số đo để ước lượng năng lực
hoặc phẩm chất của sản phẩm đào tạo” [27].
18
Dựa vào các số đo người ta đưa ra các thơng tin ước lượng trình độ kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo của một HS, đây là bước trung gian giữa đo và ĐG.
Lượng giá theo chuẩn : đây là sự so sánh tương đối với chuẩn trung bình
chung của tập hợp.
Lượng giá theo tiêu chí : đối chiếu với tiêu chí đã đề ra.
1.1.3.Vai trị của kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra, đánh giá là một khâu có vai trị, chức năng rất quan trọng và
không thể thiếu được trong giáo dục. Có thể coi kiểm tra đánh giá là cơng cụ chủ
yếu điều chỉnh hoạt động dạy và học của thày và trò, là động lực để đổi mới
phương pháp, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo
mục tiêu giáo dục.
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ giúp giáo viên thu
thập và xử lý thơng tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS
để điều chỉnh học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn.
Đánh giá chính xác, khách quan, cơng bằng, kịp thời và khơng bỏ sót sẽ có
tác dụng giáo dục và động viên học sinh, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót kịp
thời. Kiểm tra đánh giá với nhiều hình thức đa dạng và độ phân hoá cao sẽ giúp
ta đánh giá được cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh. Tăng cường các
phương thức đánh giá trong giờ, ngoài giờ, qua quan sát, trao đổi- thảo luận, qua
tự học không chỉ nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của học trò mà
nghiệm khách quan)
Subjective Test
Objective Test
Tiểu
Cung
Đúng/
Điền
Ghép
Lựa
Bằng
luận
cấp TT
Sai
khuyết
đơi
điều chỉnh hoạt động dạy học.
Hình thức trắc nghiệm tự luận thường được sử dụng khi:
- Nhóm học sinh được khảo sát khơng quá đông và đề thi chỉ được sử
dụng một lần.
- Khuyến khích và khen thưởng sự phát triển kỹ năng diễn tả bằng văn viết.
- Vừa thăm dò thái độ hoặc tìm hiểu tư tưởng của học sinh về vấn đề nào
đó vừa khảo sát được kết quả học tập của học sinh, về nhiều phẩm chất khác
nhau.
21
- Giáo viên có nhiều thời gian chấm bài và khi chấm bài có thể kiểm tra,
đánh giá kết quả định tính bên cạnh định lượng bằng điểm số.
* Trắc nghiệm khách quan:
TNKQ có nhiều loại, mỗi loại có ưu nhược điểm riêng và được chọn để sử
dụng phù hợp với các mục đích và đối tượng khác nhau.
- Loại chọn đúng sai: Đưa ra một nhận định, học sinh phải lựa chọn một
trong hai phương án trả lời để khẳng định nhận định đó đúng hay sai.
Ưu điểm: Loại câu này thích hợp cho việc kiểm tra kiến thức về các sự
kiện, định nghĩa, khái niệm, công thức...
Nhược điểm: Loại câu này chỉ địi hỏi trí nhớ, ít kích thích suy nghĩ, do đó
khả năng phân biệt học sinh giỏi và học sinh kém rất thấp. Mặt khác, chỉ có hai
phương án nên dễ xảy ra sự lựa chọn ngẫu nhiên theo kiểu may - rủi.
- Loại ghép đôi: Loại này thường gồm hai dãy thông tin. Một dãy là
những câu hỏi (hay câu dẫn). Một dãy là những câu trả lời (hay câu lựa chọn).
Học sinh phải tìm ra từng cặp câu trả lời ứng với câu hỏi.
Ưu điểm: Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, đặc biệt rất thích hợp khi
dùng để thẩm định các mục tiêu ở mức tư duy thấp. Chúng thường được dùng
để đo lường việc hiểu thực tế về các môn học như nghiên cứu xã hội, khoa học
- Có thể áp dụng cơng nghệ thơng tin vào các khâu: ra đề thi, chấm điểm,
lưu trữ và xử lý kết quả đảm bảo tính khách quan, chính xác, tiện lợi.
- Có thể sử dụng tốn thống kê để xác định giá trị câu hỏi, qua đó có thể
chỉnh lí nâng cao chất lượng câu hỏi.
23
Nhược điểm:
- Phải soạn rất nhiều câu hỏi, lại phải qua thử nghiệm công phu mới chọn
được những câu đạt yêu cầu sử dụng. Do vậy, việc đầu tư công sức, trí tuệ vào
xây dựng câu hỏi là rất lớn.
- Các câu trắc nghiệm MCQ có thể khơng đo được khả năng phán đoán
tinh vi, khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi
tự luận soạn kỹ, nhưng nếu có sự phối hợp nhuần nhuyễn với câu tự luận thì sẽ
mang lại hiệu quả sư phạm cao.
Trong các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thì
trắc nghiệm hiện nay đang được quan tâm và sử dụng để thi tốt nghiệp, thi đại
học đối với một số bộ môn học.
Trắc nghiệm cũng có nhiều loại: Trắc nghiệm khách quan, trắc nghiệm chủ
quan, trắc nghiệm chuẩn hoá, trắc nghiệm theo tiêu chí…. Nhưng loại trắc nghiệm
được sử dụng nhiều nhất là trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm chủ quan.
1.1.5. Quy trình kiểm tra, đánh giá.
1.1.5.1. Những nguyên tắc trong kiểm tra, đánh giá
KT- ĐG cần được tiến hành một cách có hệ thống (để xác định phạm vi
đạt được của các mục tiêu môn học đã được đề ra), và đảm bảo thu được thông
tin phản hồi về kết quả dạy học một cách chính xác, phong phú, kịp thời.
Quy trình và cơng cụ KT- ĐG phải được chọn hệ thống nhất theo mục tiêu
môn học.
Nắm vững những hạn chế của từng công cụ KT-ĐG để sử dụng một cách
Việc quay cóp bài, chép tài liệu, gian lận trong thi cử, học tủ, học lệch...đã
trở thành thói quen của một bộ phận HS. Tuy nhiên, thói quen này khơng thể hồn
tồn đổ lỗi cho HS được mà có sự tiếp tay của một bộ phận GV, phụ huynh HS
...dẫu sao các em cũng chỉ là sản phẩm của một PPDH lỗi thời và những quan
25
niệm tiêu cực phát sinh từ nó. Việc thay đổi PPDH cũng như KTĐG kết quả học
tập của HS là một tất yếu của lịch sử, một việc làm cần thiết như ăn và thở.
1.1.7.Trắc nghiệm dạng MCQ trong dạy học
1.1.7.1. Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan
Nếu KT là phương tiện, là hình thức quan trọng của ĐG thì TN được coi
là phương tiện, là hình thức quan trọng của KT.
Theo Trần Bá Hoành [10]: TN trong giáo dục là một PP đo để thăm dò
một số đặc điểm năng lực trí tuệ của HS (chú ý, tưởng tượng, thông minh, năng
khiếu...) hoặc để KTĐG một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của HS.
Trong quá trình dạy học, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của
TN là cung cấp sự phản hồi về thành tích học tập của một HS cho cả GV lẫn HS
đó [27].
Trắc nghiệm nâng cao hiệu quả dạy - học. Người dạy được cung cấp thông
tin phản hồi để điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp trình độ năng lực của
người học, tìm ra những khó khăn vướng mắc giúp đỡ người học đạt hiệu quả
cao trong học tập. TN sử dụng hiệu quả trong ôn tập, củng cố kiến thức kiến thức
cũ, học và tự học kiến thức mới, KTĐG sau khi học xong một đơn vị kiến thức,
thi sát hạch, dạy bài mới.
Mặt khác, sử dụng trắc nghiệm giúp người học có thể phát hiện năng lực
tiềm ẩn của mình và phát triển năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến
thức đã học để giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tế cuộc sống [21].
Trắc nghiệm khách quan có ưu điểm rõ ràng là đánh giá phạm vi kiến thức
chuẩn bị ở nhà, thảo luận và tranh luận trên lớp, phụ đạo và hướng dẫn cách học.
Làm tăng hứng thú học tập của người học vì được đối thoại, tránh độc thoại.
- Chuẩn hố kiến thức mơn học: Tránh dạy tuỳ tiện, sai sót trong việc
truyền thụ kiến thức.
27