ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC MAI
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ GĨP VỐN THÀNH LẬP CƠNG TY BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2012-L
HÀ NỘI, 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC MAI
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ GĨP VỐN THÀNH LẬP CƠNG TY BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2012-L
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. Phan Thị Thanh Thủy
HÀ NỘI, 2016
TRÍ TUỆ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI VIỆT NAM ..........................................7
1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ ...................................................7
1.1.1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ .............................................................7
1.1.2. Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ ...............................................................8
1.1.3. Phân loại quyền sở hữu trí tuệ được dùng để góp vốn thành lập cơng ty
....................................................................................................................... 13
1.2. Khái qt về góp vốn thành lập cơng ty................................................. 17
1.2.1.
Khái niệm góp vốn thành lập cơng ty .............................................. 17
1.2.2.
Thỏa thuận góp vốn thành lập cơng ty ............................................ 17
1.2.3.
Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp ......................................... 18
1.3. Góp vốn thành lập cơng ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ........................... 21
CHƯƠNG 2. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GĨP VỐN
THÀNH LẬP CƠNG TY BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ........................ 23
2.1. Nội dung các quy định hiện hành về góp vốn thành lập cơng ty bằng
quyền sở hữu trí tuệ.......................................................................................... 23
2.1.1.
Chủ thể góp vốn thành lập cơng ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ........ 23
2.1.2.
3.1. Thực trạng hoạt động góp vốn thành lập cơng ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
ở Việt Nam ....................................................................................................... 52
3.2. Kiến nghị giải pháp cải thiện thực trạng hoạt động góp vốn thành lập cơng
ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam ......................................................... 54
3.2.1. Xây dựng hệ thống hóa văn bản pháp luật riêng biệt ......................... 54
3.2.3. Vai trò của quản lý nhà nước trong hoạt động góp vốn thành lập doanh
nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ.................................................................. 56
3.2.4. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của chủ thể tham gia............... 56
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 60
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh dù ít hay nhiều đều liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), nhất là
trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay. Các doanh nghiệp
trên thế giới, khi xây dựng chiến lược, kế hoạch kinh doanh, đã sử dụng các tài
sản trí tuệ như sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng cơng nghiệp...làm địn bẩy để tìm
kiếm các nguồn lực để đầu tư vào doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, ngày càng xuất hiện những doanh nghiệp thành lập dựa
trên các phần vốn góp, đầu tư hoặc liên doanh bằng quyền SHTT, cụ thể như
quyền sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại; chỉ dẫn địa lý; sáng kiến hay phần
mềm, chương trình máy tính. Thực tiễn phát triển của hình thức góp vốn doanh
nghiệp này đặt ra yêu cầu về hệ thống pháp lý điều chỉnh những vấn đề liên quan
như làm thể nào để xác định giá trị phần vốn góp, chuyển giao sử dụng loại tài
sản “vơ hình” này như thế nào,…
Với đề tài “Pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập cơng ty bằng
quy định cũ hơn trong q trình pháp điển hóa luật pháp.
3. Mục đích nghiên cứu
Tác giả đưa ra cái nhìn tổng thể và giải pháp phù hợp để đảm bảo tính
minh bạch, thống nhất và hiệu quả khi áp dụng pháp luật trong việc góp vốn
thành lập cơng ty bằng quyền SHTT. Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn đi
sâu nghiên cứu những vấn đề sau:
+ Làm rõ các quy định pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập cơng ty
bằng quyền sở hữu trí tuệ.
5
+ Đánh giá và phân tích những bất cập trong việc áp dụng pháp luật thông
qua thực trạng tại một số doanh nghiệp Việt Nam.
+ Đề xuất phương án phù hợp nhằm cải thiện các bất cập trên.
4. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, phân tích các khái niệm vầ quyền SHTT, góp vốn
thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT, nghiên cứu những quy định của pháp
luật Việt Nam về góp vốn thành lập cơng ty bằng quyền sở hữu trí tuệ, nêu ra
những điểm hạn chế trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật, kết hợp
với thực tiễn q trình góp vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam để đưa ra kiến
nghị, cải thiện.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài góp vốn bằng quyền SHTT bao gồm nhiều nội dung nghiên cứu
khác nhau, để đảm bảo phân tích, đánh giá sâu sắc và đáp ứng nhu cầu thực tiễn,
luận văn tập trung chủ yếu vào việc phân tích các thủ tục góp vốn theo quy định
pháp luật của Việt Nam, đồng thời hướng đến nghiên cứu thực tiễn góp vốn bằng
tên thương mai – đối tượng góp vốn phổ biến trên thế giới và tại Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó
tuệ là quyền đối với giống cây trồng.
Theo Lê Nết: “Quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản
vơ hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể,
được pháp luật quy định bảo hộ”.
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) lại định nghĩa: “Sở hữu trí tuệ
được hiểu rộng rãi hơn và bao gồm các quyền liên quan tới các sảm phẩm văn
7
học, nghệ thuật, khoa học, sự trình diễn của các nghệ sĩ, các chương trình phát
và truyền thanh, phát và truyền hình, các sáng chế thuộc mọi lĩnh vực, các phát
minh khoa học, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ,
các tên thương mại và chỉ dẫn thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh
và các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực hoa học,
công nghệ, văn học nghệ thuật”.
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại đặc biệt của tài sản vơ hình. Quyền sở
hữu trí tuệ mang đầy đủ đặc tính kinh tế , mang giá trị kinh tế như các loại tài
sản vơ hình khác. Do tính đặc trưng của chúng, quyền sở hữu trí tuệ được công
nhận pháp lý và bảo hộ đặc biệt bới pháp luật quốc gia.
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đưa ra khái niệm: Quyền sở hữu trí tuệ là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và
quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với
giống cây trồng.
Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
những tài sản trí tuệ do con người sáng tạo. Đó là độc quyền được trao cho một
người, một nhóm người hoặc một tổ chức để khai thác, sử dụng, định đoạt những
sản phẩm của hoạt động sáng tạo trí tuệ.
1.1.2. Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại quyền tài sản, do đó nó có đầy đủ đặc
từ những hoạt động cảm hứng. Hoạt động như vậy mang tính riêng biệt và có ý
thức, sáng tạo, khó có thể xác định chính xác theo quy tắc tài sản hữu hình thơng
thường. Do đó, căn cứ phát sinh và xác lập quyền đối với quyền sở hữu trí tuệ
hầu hết là khi tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ hoặc nhận chuyển nhượng, thừa
kế từ chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.
9
Một số trường hợp ngoại lệ như quyền tác giả và quyền liên quan đến
quyền tác giả; quyền đối với bí mật kinh doanh; quyền đối với tên thương mại.
Căn cứ phát sinh và xác lập đối với những quyền này được quy định cụ thể dứoi
dạng các điều kiện mà không phải tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ.
Thứ ba, quyền sở hữu trí tuệ bị giới hạn bởi quốc gia bảo hộ và thời hạn
bảo hộ
Khác với quyền sở hữu thơng thường, quyền sở hữu trí tuệ bị giới hạn bởi
không gian và thời gian. Về không gian, việc bảo hộc mang tính lãnh thổ triệt để.
Điều này có nghĩa là quyền sở hữu trí tuệ chỉ phát sinh trên cơ sở công nhận bởi
cơ quan thẩm quyền một quốc gia cụ thể và chỉ được bảo hộ trong phạm vi lãnh
thổ quốc gia đó. Có thê rlaasy ví dụ như sáng chế cơng nghiệp tại Việt Nam chỉ
được bảo hộ khi được được cấp văn bằng bảo hộc và cũng chỉ được bảo hộ trên
lãnh thổ Việt Nam. Chính bản thân sáng chế này là sản phẩm trí tuệ được thể
hiện ra bằng hiện vật, chứa đựng sáng tạo của người phát minh, gắn liền với quá
trình áp dụng sáng chế vào hoạt động sản xuất công nghiệp tạo lợi nhuận và thỏa
mãn nhu cầu vật chất của cong người. Hay nói cách khác, chỉ khi được áp dụng
vào sản xuất thì sáng chế mới có giá trị, mà giá trị do sáng chế mang lại thường
có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội của
quốc gia. Vì tính khó kiểm sốt phạm vi phát tán của một loại tài sản vơ hình
cũng như tầm ảnh hưởng, tính giá trị lớn của tài sản trí tuệ mà quyền sở hữu trí
tuệ mang tính lãnh thổ tuyệt đối.
Về mặt thời gian, quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ trong một khoảng thời
quyền năng cơ bản nhất. Điều này xuất phát từ tính vơ hình của đối tượng sở hữu
trí tuệ. Chủ sở hữu khó có thể chiếm hữu (cầm, nắm, giữ) tài sản trí tuệ mà chỉ
có thể chiếm hữu hình thái vật chất được thể hiện của sở hữu trí tuệ. Chính bản
thân hình thái vật chất ấy khơng thể bị giới hạn số lượng sao chép, chính bản
thân thơng tin trong hình thái vật chất ấy với có giá trị độc quyền. Quyền sử
11
dụng tài sản là quyền của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung khai thác công
dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ khai thác
quyền này thơng qua hành vi ứng dụng vào các loại vật chất hữu hình cụ thể và
phát sinh giá trị quá trình sử dụng, vận hành, khai thác các laoij vật chất hữu
hình này. Vì vậy, về bản chất việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là bảo hộc độc
quyền khai thác, sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ.
Cũng phải nhắc thêm, quyền sử dụng của chủ sở hữu đối với tài sản hữu
hình sẽ làm giảm tính tác dụng của nó đối với người khác. Nhưng đối với tài sản
trí tuệ, việc chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng sẽ khơng làm thun giảm tính
tác dụng của nó đối với các chủ thể khác. Có thể nhận thấy đặc tính này trong
trường hợp chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ li-xăng quyền cảu mình cho người
khác sử dụng. Khác với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền sở hữu trí tuệ
đem lại cho các cá nhân đặc quyền kiểm sốt đối với một đối tượng nào đó.
Quyền sở hữu trí tuệ cho phép chủ sở hữu kiểm sốt số lượng sản phẩm được
khai thác và thiết lập mức giá độc quyền trong phạm vi giới hạn mà lượng cầu
sản phẩm chấp nhận. Do vậy bất kỳ người nào muốn thực hiện việc khai thác giá
trị tài sản trí tuệ đều phải được sự cho phép của người có bản quyền và phải trả
tiền.
Thứ năm, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu tài sản.
Đối với tài sản nói chung, pháp luật quy định quyền sở hữu chấm dứt
trong các trường hợp: Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người
khác; chủ sở hữu từ chối quyền sở hữu của mình; tài sản bị tiêu hủy; tài sản bị xử
cơng ty
Các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ đó chính là các tài sản trí tuệ. “Tài
sản trí tuệ” có thể được hiểu là bao gồm tất cả các thơng tin có giá trị thương
mại. Cịn theo khái niệm được thừa nhận rộng khắp, “tài sản trí tuệ” là những
thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo thể hiện thành
13
các vật thể hữu hình trong cùng một thời gian và không gian với số lượng bản
sao không giới hạn và được thừa nhận là tài sản. Hình thức hữu hình của tài sản
trí tuệ có thể kể đến như: tác phẩm văn học, nghệ thuật; cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tình mang chương trình được
mã hóa; sáng chế, kiểu dáng cơng nghiệp, thết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;
nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh; giống cây trồng vật
nuôi mới,…
Quyền tác giả là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với tác phẩm
văn học, nghệ thuật và khoa học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, thường gọi là
bản quyền tác giả. Quyền tác giả thường được xác lập đối với những người sáng
tạo ra tác phẩm gốc về văn học, kịch, âm nhạc, nghệ thuật. Nội dung quyền tác
giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân cho phép người
sáng tạo kiểm soát được việc khai thác, sao chép, cải biên, công bố tác phẩm của
mình và khơng thể chuyển giao cho người khác. Quyền tài sản bao gồm những
quyền nhằm khai thác, sử dụng tác phẩm như là tác phẩm tái sinh; biểu diễn tác
phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc
bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu
tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiễn kỹ thuật nào
khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy
tính,… Quyền tài sản có thể chuyển giao cho người khác thực hiện hoặc chính
người sáng tạo tác phẩm thực hiện.
Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
tiện ích của sản phẩm.
Chỉ dẫn địa lý không chỉ là tên gọi xuất xứ hàng hóa như thường được
hiểu mà cịn bao gồm cả dấu hiện, biểu tượng, hình ảnh dùng để chỉ một khu vực
địa lý. Đối với những sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý phải là sản phẩm có đặc
15
trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác mà khơng một khu
vực địa lý khác có. Đối với những đối tượng khơng được bảo hộ với danh nghĩa
chỉ dẫn địa lý là những đối tượng chỉ mang tính gọi chung cho hàng hóa quốc gia
hay có thể gây nhầm lẫn về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm.
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ
chức, cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đồng thời đáp ứng hai điều
kiện: Dấu hiệu sử dụng làm nhãn hiệu là (i) dấu hiệu nhìn thấy được, có thể là
dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ảnh ba chiều hoặc kết
hợp các yếu tố trên, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; (ii) dấu hiệu đó
có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá,
dịch vụ của chủ thể khác. Nhãn hiệu phải đăng ký và được Cục Sở hữu trí tuệ
cấp văn bằng bảo hộ là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Chủ sở hữu có tồn
quyền đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ. Phân loại nhãn hiệu bao gồm nhãn
hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng.
Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh
doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh
khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Khu vực kinh doanh là khu vực
đại lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc danh tiếng. Để được
bảo hộ, tên thương mại phải có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh sử dụng
tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực.
Quyền đối với giống cây trồng: Giống cây trồng là quần thể cây trồng
thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định
qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính
nội dung chính việc cá nhân, tổ chức góp phần vốn là tài sản thuộc sở hữu hợp
pháp của mình để hợp tác sản xuất, kinh doanh với cá nhân, hộ gia đình, chủ thể
khác và hưởng một hoặc một số quyền lợi từ doanh nghiệp mới thành lập theo
quy định pháp luật dân sự và pháp luật doanh nghiệp, bao gồm các nguyên tắc tự
do ý chí, giới hạn tài sản góp vốn, giới hạn ngành nghề kinh doanh,…
17
Pháp luật Việt Nam đồng nhất hợp đồng thành lập doanh nghiệp với điều
lệ doanh nghiệp trong khi pháp luật quốc tế thiên về khái niệm điều lệ doanh
nghiệp là các quy tắc nội bộ của doanh nghiệp, có thể ghi nhận những nguyên
tắc quản lý nhân sự hay văn hóa doanh nghiệp, văn hóa cơng sở. Trong khi đó,
hợp đồng thành lập doanh nghiệp ghi nhận phần góp vốn của các thành viên, số
vốn đóng góp hay cổ phần sẽ mua, cách thức phân chia lợi nhuận và chế độ trách
nhiệm đối với từng thành viên/ nhóm thành viên.
1.2.3. Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp
Những doanh nghiệp thành lập theo hiệu lực của Luật doanh nghiệp năm
2005 sẽ khó có thể đóng góp thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ
khi mà Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 quy định tài sản có thể dùng để
góp vốn thành lập doanh nghiệp bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền
tài sản; đồng thời mở rộng các tài sản thống nhất trong Điều lệ doanh nghiệp.
Thì đến khi Luật doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực đã sử đổi nhiều quy định
điều chỉnh vấn đề này, cụ thể: tài sản góp vốn có thể là “Đồng Việt Nam, ngoại
tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ,
cơng nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng
Việt Nam.”
Tuy nhiên, nhà làm luật Việt Nam vẫn sử dụng phương pháp liệt kê để
hướng dẫn các loại tài sản được góp vốn, việc này rất dễ dẫn tới sự khơng đầy
đất phải được định giá thơng qua các bên thỏa thuận định giá, đồng thời các bên
cùng chịu trách nhiệm về thỏa thuận định giá đó hoặc thuê tổ chức định giá
chuyên nghiệp.1
Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất là tài sản phải đăng ký, do vậy sau khi
thỏa thuận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất thì thời điểm góp vốn, bên
góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải chuyển quyền sử dụng đất cho doanh
1
Điều 37 Luật doanh nghiệp 2014
19
nghiệp và doanh nghiệp là chủ thể đăng ký để được cấy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Kể từ thời điểm doanh nghiệp hoàn thành việc đăng ký quyền sử
dụng đất thì việc góp vốn thành lập doanh nghiệp của thành viên hoặc cổ đơng
được hồn thành. Đây chính là điểm đặc thù của hình thức góp vốn bằng loại tài
sản đặc thù - giá trị quyền sử dụng đất.
Giá trị quyền sở hữu trí tuệ, cơng nghệ, bí quyết kỹ thuật. Điểm mới của
Luật doanh nghiệp 2014 so với Luật doanh nghiệp 2005 đó chính là quy định rõ
về hình thức góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ. Bằng phương pháp liệt
kê, luật đã quy định các đối tượng được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác
giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với
giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về
sở hữu trí tuệ.2
Các loại tài sản trí tuệ dùng góp vốn thành lập doanh nghiệp phải kể đến
các yếu tố sau: mạng lưới tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ; tên thương
mại; biển hiệu; nhãn hiệu; bí mật kinh doanh,…
Cũng như giá trị quyền sử dụng đất, yêu cầu của Luật doanh nghiệp 2014
đối với tài sản đặc thù này về định giá tài sản và chuyển quyền sử dụng được quy
vốn, mua, bán, tặng cho,… Quyền sở hữu trí tuệ đã mang lại cho chủ sở hữu tài
sản trí tuệ những quyền như đối với các loại tài sản khác, trong đó có quyền góp
vốn thành lập doanh nghiệp. Và việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu trí tuệ cũng được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, Luật doanh
nghiệp 2014 lại quy định: “Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, cơng
nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt
Nam”3. Theo khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu đối tượng dùng để góp vốn thành
lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ là “giá trị quyền sở hữu trí tuệ”.
Theo đó, giá trị quyền sở hữu trí tuệ là giá trị bằng tiền của quyền sở hữu trí tuệ
đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ được xác định trong thời hạn bảo hộ. Ở đây,
dường như có sự mâu thuẫn với các quy định của pháp luật về góp vốn thành lập
doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật trong hoạt động góp vốn thành lập
doanh nghiệp, sẽ có sự dịch chuyển về tài sản góp vốn từ bên góp vốn sang cho
doanh nghiệp nhận góp vốn. Tuy nhiên, nếu sử dụng khái niệm “giá trị quyền sở
3
Điều 35, khoản 1 Luật doanh nghiệp 2014
21
hữu trí tuệ” thì sẽ khơng thể hiện được sự chuyển dịch tài sản đó. Ngay chính
khái niệm “giá trị sở hữu trí tuệ” cũng khó xác định do khi hình thành tài sản trí
tuệ, giá trị của nó chưa thể định ra chính xác ngay lập tức. Đối với loại tài sản
này, cần phải xác định thời điểm định giá trị, hoàn cảnh trị giá và nhiều yếu tố dễ
thay đổi khác. Cũng không thể không nhắc đến đối tượng các bên hướng đến khi
góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ chính là bản thân quyền, hay đúng hơn là
quyền được sử dụng các tài sản trí tuệ. Cịn việc xác định giá trị quyền sở hữu trí
cơ bản như Luật doanh nghiệp, Luật thương mại, Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí
tuệ và các văn bản dưới luật khác.
Quá trình nghiên cứu vấn đề góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ cần quan
tâm đến những yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật góp vốn bằng nói chung cũng
như những yếu tố cấu thành riêng của hoạt động góp vốn thành lập cơng ty bằng
quyền sở hữu trí tuệ. Khi nói đến hoạt động góp vốn, yếu tố đầu tiên được đề cập
đến là chủ thể góp vốn.
2.1.1. Chủ thể góp vốn thành lập cơng ty bằng quyền sở hữu trí tuệ
Chủ thể góp vốn thành lập cơng ty bằng quyền sở hữu trí tuệ theo như quy
định tại Luật doanh nghiệp 2014 là “tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ
phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ cơ quan nhà nước, đơn vị vũ
trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi
riêng cho cơ quan, đơn vị mình; các đối tượng khơng được góp vốn vào doanh
23