Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi;
các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và xuất phát từ tình hình
thực tế của đơn vị tôi nghiên cứu./.
Tác giả khóa luận
Sinh viên thực hiện: - Lớp Đ4CT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài Khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô
giáo trong khoa Công tác xã hội, các thầy cô giáo bộ môn đã giảng dạy suốt 4
năm học trên giảng đường Đại học. Đặc biệt, trong thời gian làm khóa luận này,
em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo Th.s Nguyễn Thị Vân – phó
trưởng khoa công tác xã hội đã dành nhiều thời gian, tận tình hướng dẫn và chỉ
bảo cho em từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành bài khóa luận.
Qua đây, em xin chân thành cám ơn đến các cán bộ lãnh đạo UBND
phường Đề Thám, Anh Đinh Ngọc Khuya cán bộ phụ trách công tác thương binh
xã hội của Phường đã cho phép và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em đi sâu tìm
hiểu nghiên cứu về công tác xã hội hóa chăm sóc người có công ở phường. Em
cũng xin chân thành cám ơn các Bác, các Cô, các Chú bên các nghành đoàn thể
địa phương, các gia đình chính sách người có công với cách mạng tại phường,
thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ đã hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho em
nghiên cứu và hoàn thành bài khóa luận.
Dù đã nỗ lực cố gắng và say mê tìm hiểu nghiên cứu nhưng do kiến thức,
kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định. Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp và sự chỉ bảo của
các thầy cô giáo và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thúy Hằng
Bảng 4
Tình hình xây dựng, sửa chữa nhà tình nghĩa phường
Đề Thám
42
Bảng 5
Các hình thức tham gia xây dựng sửa chữa nhà tình
nghĩa cho NCC
44
Bảng 6 Công tác thực hiện chi trả trợ cấp, phụ cấp ở địa
phương
48
Bảng 7 Mức độ hài lòng của NCC với mức trợ cấp hiện nay 50
Bảng 8
các hình thức hỗ trợ phát triển kinh tế gia đình cho
NCC
51
Bảng 9 Mức hỗ trợ của mỗi sổ tiết kiệm 58
Bảng 10 Các tổ chức, đoàn thể tham gia tặng sổ tiết kiệm và
mức độ thường xuyên tham gia
60
Bảng 11
Các hoạt động triển khai công tác chăm sóc phụng
dưỡng
62
Bảng 12
Các tổ chức, đoàn thể địa phương thường xuyên chăm
sóc NCC
73
Bảng 13
Thái độ tình cảm của cộng đồng dân cư đối với người
tàn phá nặng nề nền kinh tế vốn đã nghèo nàn và lạc hậu của nước ta, mà những
vết tích của chiến tranh vẫn còn theo mãi với những người con ưu tú của dân
tộc. Đó là những thương tật, bệnh tật mà họ sẽ phải sống và mang trên mình suốt
phần đời còn lại, nó ảnh hưởng đến mọi khía cạnh đời sống của những người có
công. Tuy nhiên, những tổn hại về kinh tế - xã hội vẫn có thể vựng dậy sau
chiến tranh, nhưng những nỗi đau của con người thì không gì có thể bù đắp hết.
Bởi nhiều gia đình đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn khi mất đi người
thân, người trụ cột trong gia đình, họ ra đi và mãi mãi không bao giờ có thể trở
lại, và còn nỗi đau nào hơn khi hàng ngày phải chứng kiến những đứa con thân
yêu quoằn quoại trong nỗi đau thể xác, đó là những đứa trẻ bị tật nguyền dị
dạng, dị tật, những nạn nhân chất độc màu da cam…
Công lao của những người đã quyên mình vì nước ấy sẽ mãi mãi được lưu
danh, ghi nhớ. Bởi vậy, Chăm lo mọi mặt đời sống người và gia đình người có
công với cách mạng vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước vừa là
trách nhiệm, tình cảm của nhân dân ta.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, dù nền kinh tế xã hội đã có nhiều đổi
thay nhanh chóng nhưng công tác ưu đãi người có công luôn được Đảng và Nhà
nước quan tâm chỉ đạo thực hiện đạt nhiều kết quả. Hiện tại cả nước đã có hơn 8
triệu người có công với cách mạng được hưởng chế độ ưu đãi một lần và hàng
tháng. Trong đó, khoảng 1,5 triệu người hưởng trợ cấp hàng tháng, hàng chục
nghìn con thương binh, con liệt sỹ được hưởng chế độ ưu đãi về giáo dục đào
tạo, chăm sóc y tế, hơn 1000 cán bộ lão thành cách mạng được hỗ trợ cải thiện
nhà ở…
Sinh viên thực hiện: Hoàng Thúy Hằng - Lớp Đ4CT2
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
Cùng với các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước còn có sự quan tâm
hỗ trợ của cộng đồng và đặc biệt quan trọng nhất vẫn là sự nỗ lực vươn lên của
đối tượng. Bởi vậy hiện nay 90% người có công với cách mạng đã có mức sống
bằng hoặc cao hơn so với mặt bằng mức sống nơi cư trú.
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
Vì những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng công tác
xã hội hóa chăm sóc Người có công tại phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng
Tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công tại
phường Đề Thám thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng. Từ đó đưa ra một số giải
pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa chăm
sóc Người có công.
3. Khách thể nghiên cứu
- Người có công với cách mạng.
- Cán bộ thực hiện công tác Thương binh - xã hội
- Các cán bộ cơ sở địa phương, các ban nghành đoàn thể của phường
trong việc tham gia công tác xã hội hóa chăm sóc người có công.
4. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công với
cách mạng tại phường Đề Thám thị xã Cao Bằng.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 – 2011.
- Địa bàn nghiên cứu: Tại Phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao
Bằng.
- Khách thể nghiên cứu:
+ 30 người có công với cách mạng;
+ 5 cán bộ UBND phường;
+ 3 cán bộ tổ trưởng tổ khu phố.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu: Các tài liệu, các nghị định,
chính sách ưu đãi người có công, các tài liệu có liên quan đến công tác xã hội
hóa chăm sóc người có công với cách mạng. phân tích các tài liệu, văn bản, các
tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng
nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ có những đóng góp, những cống hiến
xuất sắc, phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc.
(1)
Như vậy, theo khái niệm trên, người có công phải là người có đóng góp,
cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc. Những cống hiến đóng góp của họ
có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho tổ quốc và cũng có
thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
1.1.2. Khái niệm người có công với cách mạng theo nghĩa hẹp
Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân
tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ
trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng
dân tộc và bảo vệ tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.
(1)
Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng
ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2005 đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi gồm
người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng.
1. Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945
2. Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước
Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945
3. Liệt sỹ
4. Bà mẹ Việt Nam anh hùng
5. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động
6. Thương binh, người hưởng chính sách như Thương binh
7. Bệnh binh
8. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
1
Giáo trình ưu đãi xã hội trường ĐHLĐXH – Th.S Bùi Thị Chớm, tr.6
Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2
Xã hội hóa là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học được định
nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời, qua đó cá nhân phát
triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình.
(2)
2
Bách khoa toàn thư – Wikipedia Tiếng Việt
3
Theo nghị quyết 90/CP ban hành ngày 21 tháng 8 năm 1997
4
Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận, thực tiễn qua 20 năm đổi mới –NXB chính trị quốc gia 2005,
tr.115
Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
Xã hội hóa là thuật ngữ chỉ qúa trình chuyển hóa trên cơ sở cộng đồng
trách nhiệm giữa Nhà nước và xã hội, theo đó Nhà nước tạo cơ chế hoạt động tổ
chức quản lý mới nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội
bằng việc thu hút sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát
triển một số lĩnh vực trong nền kinh tế xã hội của đất nước.
(3)
Có thể thấy có nhiều quan điểm khác nhau về xã hội hóa và xã hội hóa
được nhiều người nhìn nhận ở các khía cạnh lĩnh vực khác nhau. Đây là một vấn
đề khi tổng kết thực tiễn 10 năm đổi mới Đảng ta đã khẳng định “Trên lĩnh vực
văn hóa xã hội, con người về nhận thức chưa có một quan niệm thống nhất về
vấn đề xã hội hóa các hoạt động dịch vụ, về công bằng và bình đẳng, về sự phân
hóa giàu nghèo ở nước ta…”
(4)
Từ một số quan điểm trên có thể hiểu xã hội hóa là quá trình vận động, tổ
chức sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, của toàn thể xã hội vào sự
phát triển của một vấn đề nào đó, một việc nào đó và có sự tác động trở lại của
hiện chính sách ưu đãi xã hội của Nhà nước phát huy hiệu quả thế kiềng “Nhà
nước – cộng đồng – và người có công”, chăm lo tốt hơn đời sống vật chất cũng
như tinh thần cho người và gia đình NCC.
Thực hiện xã hội hóa chăm sóc người có công, vận động huy động sự
đóng góp rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào công tác chăm sóc người có
công với cách mạng cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện sự công bằng xã
hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, đảm bảo
cho mọi thành viên trong xã hội được hưởng những quyền lợi xứng đáng với sự
hy sinh của họ.
Thực hiện XHH chăm sóc NCC cũng cần lưu ý tới vấn đề công bằng xã
hội trong việc huy động các nguồn lực của nhân dân vào các hoạt động chăm
sóc NCC không phải là chủ nghĩa bình quân, mà việc huy động và mức hỗ trợ
đó phải tùy thuộc theo các loại đối tượng phù hợp với điều kiện kinh tế và mức
thu nhập của họ.
Như vậy, xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng là tập hợp
những hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, ban ngành, đoàn thể và của mọi cá
nhân trong cộng đồng với những mục tiêu cụ thể để giúp các gia đình chính sách
giải quyết những nhu cầu bức xúc về đời sống kinh tế, hòa hợp trong tình làng
nghĩa xóm đồng thời cũng tạo ra truyền thống đạo lý tốt đẹp cho con cháu thế hệ
sau noi theo.
1.3. Các khái niệm liên quan
1.3.1. Chính sách xã hội
Chính sách xã hội là một hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháp dựa
trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo, được cụ thể hóa và thể chế
hóa bằng pháp luật của Nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội phù hợp với
bản chất chế độ xã hội (chính trị), phản ánh lợi ích, trách nhiệm của cộng đồng
nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích thỏa mãn những
Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
4
6
Giáo trình An sinh xã hội trường ĐHLĐXH, tr.20
Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
Theo khái niệm trên thì:
Thứ nhất, an sinh xã hội không chỉ là chính sách, cơ chế của Nhà nước
mà còn bao gồm các giải pháp của cộng đồng nhằm bảo vệ các thành viên trong
xã hội trước các nguy cơ rủi ro.
Thứ hai, đối tượng của an sinh xã hội là các thành viên trong xã hội, nhất
là khi họ gặp phải rủi ro trong cuộc sống có nguy cơ giảm hoặc mất nguồn thu
nhập do các cú sốc về kinh tế - xã hội hoặc do già cả, ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên
tai bão lũ, hạn hán dẫn đến mất mùa…
Thứ ba, an sinh xã hội bao gồm 4 hợp phần cơ bản: Chính sách và chương
trình Bảo hiểm xã hội; Chính sách và chương trình Bảo hiểm y tế; Chính sách
và chương trình trợ giúp xã hội; Chính sách và chương trình trợ giúp đặc biệt
(chính sách ưu đãi xã hội).
Chính sách ưu đãi xã hội là một phần quan trọng trong chính sách an sinh
xã hội của nước ta, không chỉ là sự đãi ngộ của Nhà nước đối với những mất
mát hy sinh của họ mà còn nhằm đảm bảo cho các đối tượng người có công có
một cuộc sống tốt đẹp hơn, ngăn ngừa và phòng chống các vấn đề có thể sảy ra
đối với họ, hơn nữa cũng nhằm thực hiện việc ổn định và công bằng xã hội
1.3.3. Ưu đãi xã hội
Ưu đãi xã hội là một hệ thống chính sách quan trọng đặc biệt trong hệ
thống chính sách an sinh xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần
của Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhớ đền đáp công lao của các cá nhân, tổ chức
có cống hiến hy sinh đặc biệt cho tổ quốc.
Ưu đãi xã hội góp phần ổn định thể chế chính trị, phát triển kinh tế - xã
riêng, và trong từng thời kì cách mạng khác nhau họ cũng có những đặc điểm
tâm lý khác nhau.
Thương binh, bệnh binh thời kì kháng chiến chống Pháp: Hầu hết NCC
trong thời kì này độ tuổi đã gần 70tuổi, hơn nửa đời người cống hiến cho cách
mạng, sự nghiệp của đất nước. Những đòi hỏi, nhu cầu về vật chất đối với họ trở
thành bình thường nhưng nhu cầu về tinh thần lại rất cao, họ luôn có nhu cầu
được sống cùng con cháu để bù đắp những thiếu thốn về tình cảm trong những
ngày chiến đấu gian nan. Họ ham đọc sách, đọc báo, thích quan tâm theo dõi
tình hình thời sự, hay quan tâm tới tình hình phát triển kinh tế của đất nước, của
địa phương.
Thương binh, bệnh binh thời kì kháng chiến chống Mỹ: Số lượng NCC
trong thời kỳ này nhìn chung chiếm tỷ lệ lớn, phần lớn các đối tượng này ở độ
tuổi trung niên 50, 60 tuổi, có trình độ văn hóa vì vậy họ có những hiểu biết nhất
Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
định về tình hình đất nước, chính sách liên quan đến người có công. Phần lớn
những thương, bệnh binh trong thời kì này vẫn giữ được truyền thống cách
mạng và luôn là những tấm gương đi đầu ở địa phương, đặc biệt luôn quan tâm
đến tình hình phát triển của địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn một số ít còn có tư
tưởng công thần, thậm chí lợi dụng danh nghĩa thương, bệnh binh để làm trái
pháp luật.
Thương binh, bệnh binh từ năm 1975 trở lại đây: Phần lớn TBB trong độ
tuổi này tuổi đời còn trẻ, trình độ văn hóa cao nhưng một số có cảm giác thua
thiệt bạn bè, nhất là đối với những người có hoàn cảnh khó khăn hơn do đó họ
thường có tâm lý bi quan.
Đối với thân nhân Liệt sỹ: Đối với thân nhân Liệt sỹ do sự mất mát
người thân nên họ thường nhớ lại những kỉ niệm, hình ảnh của người thân khi
còn sống. Họ cảm thấy tự hào về những cống hiến của mình cho cách mạng. Đối
với thân nhân Liệt sỹ và người thờ cúng liệt sỹ họ luôn có tâm niệm muốn đưa
kì, được giám định lại tình trạng thương tật, bệnh tật đánh giá đúng mức độ
cống hiến hy sinh.
Đối với những người có công với cách mạng còn khả năng lao động, họ
có nhu cầu được học nghề, được hỗ trợ tìm kiếm việc làm phù hợp với trình độ
và khả năng lao động để có thêm thu nhập, họ mong muốn được hỗ trợ kinh phí
nguồn vốn để đầu tư sản suất, cải thiện chất lượng cuộc sống. Đồng thời họ
cũng mong muốn con em của mình có được công ăn việc làm ổn định.
Nhu cầu được tiếp tục cống hiến, xây dựng đất nước với những công việc,
việc làm thiết thực.
3. Chính sách Ưu đãi xã hội đối với người có công với cách mạng
Phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”,
trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chế
độ để chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người có công với cách mạng,
giải quyết những hậu quả những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh. Chính
sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là một chính sách lớn được
Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng và được ban hành ngay sau khi đất nước
mới giành được độc lập.
Chính sách ƯĐXH đối với người có công với cách mạng là chính sách
“Đền ơn đáp nghĩa”, là thực hiện nghĩa vụ công dân và công bằng xã hội không
mang tính chất “Đền bù”. Sự “Đền ơn đáp nghĩa” thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm
của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là đạo lý, truyền thống nhân văn của dân
tộc, là lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc của nhiều thế hệ hôm nay và mai sau đối
với người có công với cách mạng.
Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
Thể chế chính sách ưu đãi xã hội bao gồm 2 lĩnh vực ưu đãi:
- Trợ cấp, phụ cấp ưu đãi thường xuyên, hàng tháng.
- Các chính sách ưu đãi trong các lĩnh vực khác: ưu đãi trong giáo dục -
đào tạo, chăm sóc y tế sức khỏe, ưu đãi về nhà ở, ưu đãi trong phát
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
thành công việc thường xuyên của toàn xã hội. Phong trào “Đón thương binh về
làng” từ những năm chống thực dân Pháp đến phong trào “Chăm sóc thương
binh nặng tại nhà” những năm gần đây đã giúp phần lớn thương binh nặng ổn
định cuộc sống, ổn định thương tật, bệnh tật. Nhân dân đã góp tiền của, công sức
để xây dựng hệ thống nghĩa trang liệt sỹ và các công trình tưởng niệm liệt sỹ.
Hàng chục vạn ngày công được nhân dân đóng góp vào việc tìm kiếm, qui tập
hài cốt liệt sỹ. Các cháu thiếu nhi với phong trào “Đi tìm địa chỉ đỏ” và các
phong trào “Đi tìm đồng đội” của các đơn vị quân đội, hội cựu chiến binh đã thể
hiện tính nhân văn sâu sắc.
Những năm gần đây dấy lên các phong trào chăm sóc người có công với
cách mạng như tặng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, phụng dưỡng
bố mẹ liệt sỹ cô đơn, đỡ đầu con liệt sỹ mồ côi, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam
anh hùng. Các phong trào đã phát triển nhanh, mạnh cả bề rộng và chiều sâu và
trở thành các chương trình bền vững (5 chương trình chăm sóc người có công
với cách mạng) góp phần cải thiện đời sống người có công.
Như vậy, cùng với hệ thống chính sách ưu đãi của Nhà nước, việc huy
động toàn dân chăm sóc người có công đã góp phần chăm lo tốt hơn đời sống
mọi mặt của những thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công, đúng
với qui định trong pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; việc quan tâm
chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của người có công và gia đình người có
công là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội.
4. Ý nghĩa của công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công với cách mạng.
Xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng là tập hợp các biện
pháp, các phương thức hành động của toàn dân, các cấp, các ngành cùng tham
gia tổ chức thực hiện các chương trình hành động cụ thể nhằm nâng cao hiệu
quả của việc chăm sóc người có công về cả vật chất lẫn tinh thần, để nâng cao
chất lượng đời sống người có công và điều quan trọng họ thấy rằng mình được
tôn trọng, được quan tâm, chia sẻ đặc biệt là họ thấy mình còn có ích cho xã hội
+ Đóng góp công lao động giúp gia đình chính sách sản xuất kịp thời vụ,
xây dựng sửa chữa nhà ở.
+ Vốn đóng góp để giúp đỡ các gia đình chính sách đầu tư cho sản xuất
dịch vụ để khỏi vay nặng lãi, thoát khỏi đói nghèo.
+ Kinh nghiệm làm ăn giúp các gia đình chính sách sản xuất, kinh doanh,
chăn nuôi.
+ Chăm sóc gia đình chính sách neo đơn các công việc hàng ngày.
+ Động viên họ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng.
+ Chăm sóc thương binh nặng, đỡ đầu con liệt sỹ, phụng dưỡng cha, mẹ
liệt sỹ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
+ Việc cộng đồng chăm lo cho người có công còn góp phần giáo dục
truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ, để thế hệ trẻ ngày nay và mai sau noi theo
tấm gương đạo đức cách mạng.
Như vậy, cùng với hệ thống chính sách Ưu đãi của Nhà nước, việc huy
động toàn dân chăm sóc Người có công đã góp phần chăm lo tốt hơn đời sống
mọi mặt của những thương, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với
cách mạng. Tuy hình thức và mức độ có khác nhau nhưng ở thời kì nào nhân
dân ta cũng luôn giành cho người có công với cách mạng sự giúp đỡ thiết thực,
đầy tình nghĩa, góp phần cùng nhà nước đem lại cho hàng triệu gia đình NCC
một cuộc sống ổn định và ngày càng nâng cao, góp phần phát huy thế mạnh
“Nhà nước – cộng đồng – bản thân đối tượng” giúp người và gia đình người có
công với cách mạng có cuộc sống tốt đẹp hơn.
5. Quan điểm của Đảng và Nhà Nước về công tác XHH chăm sóc Người có
công
Chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, NCC với cách mạng
vừa là trách nhiệm của nhà nước, vừa là trách nhiệm tình cảm của toàn dân.
Ưu đãi NCC và gia đình NCC với cách mạng là một bộ phận tư tưởng
Ngày nay, khi đất nước đã thống nhất,
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng, Nhà nước có điều kiện quan
tâm hơn đến mọi mặt đời sống người và gia đình người có công với cách mạng,
các phong trào này đã được mở rộng ra cả nước và phát triển thành 5 chương
trình chăm sóc người có công. Để công tác xã hội hóa chăm sóc NCC được thực
hiện có hiệu quả Nghị định số 91/1998/NĐ-CP ngày 19/11/1998 của chính phủ
đã ban hành điều lệ xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, việc ban hành nghị định đã
xác định được mục đích, ý nghĩa xây dựng quỹ, các đối tượng tham gia, cơ chế
quản lý, sử dụng quỹ nhằm huy động sự tham gia của cộng đồng xã hội góp
phần cùng nhà nước chăm sóc tốt hơn cho người và gia đình người có công với
cách mạng. Đồng thời ban Tư tưởng - văn hóa trung ương đã ban hành hướng
dẫn tuyên truyền chỉ thị số 07 – CT/TW của Bộ chính trị về tăng cường lãnh
đạo, chỉ đạo đối với công tác thương binh, liệt sỹ, người có công, phong trào đền
ơn đáp nghĩa. Nghị định số 45/2006/NĐ-CP ban hành ngày 28 tháng 4 năm
2006 ban hành điều lệ quản lý và sử dụng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”. Gần đây
nhất là việc chính phủ ban hành chỉ thị 12/CT-TTg Chính phủ, ban hành ngày
28 tháng 4 năm 2012 về việc tăng cường công tác chăm sóc người có công với
cách mạng và hoạt động đền ơn đáp nghĩa hướng tới kỉ niệm 65 năm ngày
Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2012).
Kế thừa và phát huy truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân
tộc Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hành động cụ thể để chăm lo đời
sống vật chất và tinh thần của những người có công với nước. Thực hiện công
tác xã hội hóa chăm sóc người có công phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” do Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động đã huy động được sức mạnh của toàn
xã hội tham gia với trách nhiệm và tình cảm sâu sắc. Bằng những việc làm thiết
thực, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã và đang phát triển cả chiều rộng lẫn
chiều sâu với nhiều hình thức phong phú, trở thành nét đẹp trong đời sống văn
Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2
18
hơn, vật chất còn thiếu thốn hơn, tinh thần còn đau khổ hơn khi phải chứng kiến
những thiệt thòi, sự đau đớn của người thân do hậu quả của chiến tranh để lại đó
là những người bị nhiễm chất độc hóa học, con đẻ của họ bị dị tật, dị dạng. Bởi
vậy, công nhận và ghi nhận những cống hiến, hy sinh, tặng truy tặng những
danh hiệu cao quí cho Người có công với cách mạng, thực hiện Ưu đãi Xã hội,
chăm lo mọi mặt đời sống Người có công và thân nhân của họ không chỉ là
trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà Nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội và
mỗi người dân cũng như của các thế hệ sau này.
Trong chương I tác giả đã trình bầy các khái niệm về Người có công, khái
niệm về xã hội hóa chăm sóc người có công cũng như các khái niệm có liên
quan an sinh xã hội; ưu đãi xã hội; chính sách xã hội. Trình bày các quan điểm
của Đảng, Nhà nước về công tác xã hội hóa chăm sóc người có công, những chủ
trương quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với người có công.
Từ đó có thêm cơ sở pháp lý để giúp cho quá trình nghiên cứu thực trạng công
tác xã hội hóa chăm sóc người có công.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA CHĂM SÓC
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI ĐỀ THÁM - THỊ XÃ CAO
BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2
20