BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
..………/………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
…………/…………
NGUYỄN CAO TRÍ
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO,
TRANH CHẤP VỀ ĐẤT ĐAI
TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
…………/…………
…………/…………
NGUYỄN CAO TRÍ
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO,
TRANH CHẤP VỀ ĐẤT ĐAI
TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
và tạo điều kiện để tác giả hồn thành chương trình học tập.
Xin cảm ơn các cơ quan Thanh tra thành phố Tam Kỳ, UBND các xã,
phường thuộc thành phố Tam Kỳ, cán bộ thư viện của Học viện Hành chính
đã tạo điều kiện trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu để hồn thành luận
văn.
Xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Vũ Trọng Hách, là người đã
đồng hành, tận tình hướng dẫn tơi trong suốt q trình làm luận văn.
Tác giả: Nguyễn Cao Trí
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 7
1.
Tính cấp thiết của đề tài luận văn ................................................................ 7
2.
Tình hình nghiên cứu : ................................................................................ 9
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ........................................ 11
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ......................................... 11
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM ................................................ 86
3.1. Quan điểm về nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp
trong lĩnh vực đất đai......................................................................................... 86
3.2. Các giải pháp nâng cao giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai .. 91
PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................ 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 112
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ TN&MT
Bộ Tài nguyên và Môi Trường
KN
Khiếu nại
TC
Tố cáo
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
UBND
Uỷ ban nhân dân
bất cập. Do vậy tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai phát sinh là điều
khơng thể tránh khỏi. Tình trạng này diễn ra ở tất cả các địa phương trong cả
nước.Việc thực hiện, giải quyết công tác này là rất quan trọng vì nếu thực hiện tốt
sẽ đem lại sự tin tưởng của người dân về quản lý của Nhà nước. Nhưng trên thực tế
việc giải quyết công tác này ở một số vụ việc còn chưa đúng, còn chậm, chưa mạnh
và dứt điểm, số vụ phát sinh nhiều, số vụ được giải quyết hiệu quả chưa cao dẫn đến
tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp ngày càng tăng.
7
Trước tình hình đó trong những năm qua Đảng và Nhà nước đặc biệt chú
trọng đến việc nâng cao hiệu quả giải quyết Khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai.
Sửa đổi, bổ sung các văn bản Luật, văn bản dưới Luật có liên quan đến cơng tác
Khiếu nại, tố cáo và đất đai cho phù hợp với thực tiển, khắc phục những hạn chế bất
cập, xây dựng cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện hơn, cụ thể: Từ Luật Khiếu nại tố
cáo năm 1998 điều chỉnh chung cho hai nội dung Khiếu nại và Tố cáo thì năm 2011
Quốc hội đã sửa đổi bổ sung tách thành Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật tố cáo
năm 2011, tháng 6 năm 2018 Quốc hội đã thông qua Luật tố cáo năm 2018 và có
hiệu lực vào đầu năm 2019, ban hành Luật đất đai 2013 sửa đổi, bổ sung cho Luật
đất đai 2003, ban hành Luật tố tụng hành chính năm 2015... và các văn bản khác có
liên quan. Vì vậy cơng tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của chúng ta trong thời gian
qua đã có nhiều chuyển biến đáng khích lệ. Tuy nhiên, tình hình về việc khiếu nại
và tố cáo vẫn diễn ra một cách hết sức phức tạp đặc biệt là việc khiếu nại, tố cáo về
đất đai; nhiều vụ trở thành điểm nóng; nhiều vụ liên quan đến khiếu nại và tố cáo
đông người, vượt cấp; cá biệt có vụ đã trở thành công cụ để các thế lực phản động
lợi dụng chống phá Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặt biệt, các vụ việc
khiếu nại, tố cáo thường bùng phát vào các thời điểm diễn ra các cuộc họp của Hội
đồng nhân dân các cấp, các cuộc đại hội Đảng, Quốc hội, hay là các giai đoạn bầu
cử Hội đồng nhân dân, bầu cử Quốc hội. Nhiều vụ người dân cịn kéo nhau đến nhà
Hiện nay chưa có nghiên cứu chính thức về việc “Giải quyết khiếu nại, tố
cáo, tranh chấp về đất đai tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam”.
Từ những lý do nêu trên em chọn đề tài “Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp về đất đai tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ
chun ngành Quản lý cơng.
2. Tình hình nghiên cứu :
Thời gian qua đã có rất nhiều cơng trình khoa học của nhiều tác giả nghiên cứu
về khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo; tranh chấp đất đai, giải quyết tranh
chấp đất đai. Một số cơng trình nghiên cứu tiêu biểu trong những năm gần đây như
sau:
- Thanh tra Chính phủ, tiếp cơng dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong tình hình mới, Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội năm 2006;
9
- ThS. Nguyễn Thế Thịnh (chủ biên), Công tác dân vận trong giải quyết khiếu
nại, tố cáo của công dân, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2007;
- TS. Trần Văn Sơn, Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động
giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2007;
- Viện Khoa học Thanh tra (Thanh tra Chính phủ), Khiếu nại, tố cáo hành
chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản
Chính trị - Hành chính, Hà Nội năm 2012;
- Vũ Duy Duẩn (2014), Giải quyết khiếu nại và tố cáo - phương thức bảo
đảm pháp chế và kỷ luật hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ
quản lý hành chính cơng;
- Nguyễn Thế Thuấn (2001), Tăng cường hiệu quả pháp luật về giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học;
- Nguyễn Thị Thu Hằng (2011), Giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu
công nghiệp của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang hiện nay, Luận
ra quan điểm, giải pháp để tăng cường hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp về đất đai ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
-Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo tranh chấp về đất đai tại
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam;
+ Đề xuất hệ thống giải pháp tăng cường hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp về đất đai tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai.
-Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: nghiên cứu về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai
tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
+ Thời gian: Từ năm 2013 đến nay.
11
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử, duy
vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lenin; đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp
trong lĩnh vực đất đai.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh.
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về khiếu nại, giải quyết khiếu nại
tranh chấp về đất đai.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục.
Nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai.
Chương 2: Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai tại thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo,
tranh chấp về đất đai tại thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam.
13
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO,
TRANH CHẤP VỀ ĐẤT ĐAI
1.1. Những khái niệm có liên quan
1.1.1. Khái niệm đất đai.
Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: đất
đai chính là một diện tích cụ thể trên bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu
thành nên môi trường sinh thái ngay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, bề
mặt, lớp thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước gồm hồ, sơng, suối, đầm lầy,.... Đất
đai cũng bao gồm các lớp trầm tích nằm sát bề mặt cùng với mạch nước ngầm và
khoáng sản trong lòng đất, và tổng thể thực vật và động vật, trạng thái sinh sống của
con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại bao gồm
san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá và nhà cửa.
Hơn nữa, đất đai là khoảng khơng gian mà có giới hạn và theo chiều thẳng
đứng bao gồm khí hậu, bầu khí quyển, với lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động
vật, diện tích nước, tài nguyên nước ngầm và bao gồm khống sản trong lịng đất,
và chiều nằm ngang trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn,
trình sản xuất, là nơi tìm được cơng cụ lao động, ngun liệu lao động và nơi sinh
tồn của xã hội loài người.
1.1.2. Khái niệm khiếu nại, khiếu nại về đất đai, giải quyết khiếu nại, giải quyết
khiếu nại về đất đai, đặc điểm của giải quyết khiếu nại về đất đai.
1.1.2.1. Khiếu nại:
Theo Hiến pháp được ban hành vào năm 1959 và Hiến pháp được ban hành
vào năm 1980 đều quy định rằng cơng dân có quyền được khiếu nại, cho đến Hiến
pháp ban hành vào năm 1992 (Điều 74) cũng đã quy định rằng một quyền cơ bản
của công dân Việt Nam là có quyền được khiếu nại: “Cơng dân có quyền được
khiếu nại và quyền được tố cáo với cơ quan có thẩm quyền thuộc nhà nước về
những việc làm của các cơ quan nhà nước,và các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã
hội, và các đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào không đúng với quy
định pháp luật” [25]. Theo Hiến pháp ban hành vào năm 2013 (Điều 30) thì cũng
đã ghi nhận cơng dân cũng có quyền khiếu nại như là một quyền cơ bản : “Tất cả
15
mọi người đều có quyền được khiếu nại và quyền được tố cáo về những việc làm
trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân với các cơ quan, các tổ chức, các cá
nhân có thẩm quyền” [31].
Nhiều văn bản pháp luật từ Hiến pháp năm 1946 trở đi đã quy định việc xét
và giải quyết các khiếu nại nhưng tất cả đều chưa khái niệm cụ thể về khiếu nại, và
chỉ đến khi Luật khiếu nại, tố cáo ban hành vào năm 1998 thì mới có quan niệm
khá rõ ràng về khiếu nại, trong bộ luật khái niệm khiếu nại là việc công dân, cơ
quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức làm theo thủ tục do Luật này quy định khi có
căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi
ích hợp pháp của mình, thì cần đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
xem xét lại quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật các cán bộ, các cơng
nhân viên chức.
trong một số trường hợp nhất định vì là cơng dân Việt Nam.
Khi công dân được coi là chủ thể khiếu nại, thì các văn bản pháp luật có giá
trị cao nhất là Hiến pháp đã ghi nhận đây được coi quyền khiếu nại là một trong
những quyền của dân. Cụ thể, trong Hiến pháp được ban hành vào năm 1992 và
được sửa đổi vào năm 2001, thì đã có quy định rằng khi thấy được những việc làm
trái với pháp luật của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế và xã hội, các đơn
vị vũ trang nhân dân hoặc bất kỳ cá nhân nào , thì công dân quyền được khiếu nại
được tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm sai trái đó.
(theo điều 74 , Hiến Pháp năm 1992). Cho đến Hiến pháp được ban hành vào năm
2013, quyền này vẫn được Khoản 1 Điều 30 quy định về quyền khiếu nại và quyền
được tố cáo về những việc làm trái pháp luật của các cơ quan, các tổ chức, cá nhân
với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm đó. Như vậy, chủ
thể khiếu nại được quy định theo pháp luật bao gồm cả cơng dân Việt Nam và cá
nhân nước ngồi tại Việt Nam. Công dân khi tiến hành thực hiện quyền khiếu nại
thì phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự. Trong một số trường hợp, công dân
phải thơng qua đại diện của mình để tiến hành khiếu nại khi đang trong các trường
hợp là người chưa vị thành niên, người mắc chứng bệnh về tâm thần hoặc các bênh
liên quan đến nhận thức khác, không thể làm chủ được hành vi của mình. Trong
một số trường hợp khác, người khiếu nại có thể ủy quyền cho người đại diện của
mình như cha, hoặc mẹ, vợ hoặc chồng, anh, chị, em đã thành niên hoặc những
17
người khác khi đang là người ốm đau, già yếu hoặc thể chất yếu hoặc những lý do
khác. Ngoài ra, cơng dân cịn có quyền được khiếu nại thơng qua luật sư giúp đỡ
mình thực hiện điều này theo quy định của Luật khiếu nại.
Các cơ quan, các tổ chức như cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức
chính trị, tổ chức kinh tế và các đơn vị vũ trang nhân đân đều có quyền được khiếu
nại, và việc này bắt nguồn từ thực tế bị chịu tác động và bị ảnh hưởng từ các quyết
pháp luật, và giới hạn nào là xâm phạm đến lợi ích hợp pháp để có thể xem xét
khiếu nại một cách công bằng minh bạch nhất.
1.1.2.2. Khiếu nại về đất đai
Loại khiếu nại phát sinh trong các lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai được
gọi là khiếu nại về đất đai. Khi có căn cứ cho rằng các quyết định hoặc các hành vi
của họ là không đúng với pháp luật và là không hợp lý, hoặc có thể xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thì các cơ quan, tổ chức, cơng dân có quyền đề
nghị, yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra lại và xem xét lại các
quyết định hành chính hoặc các hành vi hành chính trong q trình quản lý đất đai
của các cơ quan có thẩm quyền trên.
Các quyết định như quyết định cho thuê đất, quyết định giao đất, quyết định
thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất, quyết định bồi thường, quyết định
trưng dụng đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định bồi
thường cho việc giải phóng mặt bằng và tái định cư, quyết định về việc gia hạn thời
hạn sử dụng đất và việc cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì
đều được coi là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai bị khiếu nại.
Những hành vi hành chính bị khiếu nại trong việc quản lý đất đai là những
hành vi mà cán bộ, công chức Nhà nước khi giải quyết các công việc liên quan đến
giao đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư, trưng dụng
đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, việc gia hạn thời hạn sử dụng đất.
Khiếu nại về đất đai rất đa dạng và phong phú bao gồm: các khiếu nại về
việc giải phóng mặt bằng, các khiếu nại về bồi thường, và các khiếu nại về bố trí tái
định cư , cụ thể như, khiếu nại khi thực hiện không đúng quy hoạch, khiếu nại khi
khơng đúng với vị trí, diện tích hoặc khiếu nại khi giá đền bù quá thấp, và giá không
sát so với giá trên thị trường đưa ra, khiếu nại địi các chính sách bồi thường do
19
1.1.2.3. Giải quyết khiếu nại
Giải quyết khiếu nại có tác dụng to lớn trong việc giúp mở rộng tính dân chủ
đồng thời giúp cơng dân có thể thực hiện quyền làm chủ của mình, tham gia giám
sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước và góp phần làm trong sạch bộ máy nhà
nước và giúp đất nước ngày càng phát triển, loại trừ những biểu hiện quan liêu,
hách dịch, hạch sách quần chúng nhân dân của cán bộ, cơng nhân viên chức, tạo sự
ổn định về mặt chính trị xã hội, phát huy sức mạnh nội lực của nhân dân trong sự
nghiệp hiện đại hóa, cơng nghiệp hóa đất nước. Vì vậy, trách nhiệm, nghĩa vụ của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là giải quyết khiếu nại của công dân.
Theo từ điển luật học Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý năm 2006, giải
quyết khiếu nại là việc xem xét, xác minh, kết luận và quyết định theo trình tự, thủ
tục tuân thủ luật định với các khiếu nại đối với các quyết định hành chính, và các
hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc những người có thẩm quyền trong
cơ quan hành chính nhà nước; đề nghị xem xét lại các quyết định về hành chính
hoặc các quyết định về hành vi hành chính đó khi có căn cứ cho rằng các quyết
định, và các hành vi hành chính đó là trái pháp luật, và xâm phạm đến quyền, lợi ích
hợp pháp của các cơ quan hoặc cá tổ chức đưa đơn khiếu nại.
Theo Luật Khiếu nại 2011 (Điều 2) được hiểu : “Giải quyết khiếu nại là việc
thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại”[29].
Các yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại được thể hiện rõ với nội dung như
sau:
Để bảo đảm khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời thì giải quyết khiếu
nại cần phải được thực hiện theo đúng trình tự và theo đúng quy định của pháp luật.
Những người vi phạm mà trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, và quyền hạn
của mình thì cần được các cơ quan, các tổ chức, cá cá nhân có trách nhiệm trong
việc tiếp nhận, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, xử lý nghiêm minh
họ. Hơn nữa, cần áp dụng các biện pháp cần thiết để có thể ngăn chặn những thiệt
hại có thể xảy ra và cần bảo đảm cho các quyết định giải quyết khiếu nại được thi
trong lĩnh vực đất đai nói riêng là biện pháp để thực hành quyền dân chủ, củng cố
niềm tin của quần chúng với Đảng và Nhà nước, xây dựng thành công nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của Điều 2, Hiến pháp năm 2013. Do
22
vậy, đây là yêu cầu quan trọng của việc giải quyết khiếu nại về đất đai đối với cả ba
chủ thể: người khiếu nại, người bị khiếu nại và người giải quyết khiếu nại: Cá nhân,
cơ quan, tổ chức khi khiếu nại phải tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định,
như: lựa chọn hình thức khiếu nại, tuân thủ thời hiệu khiếu nại, gửi đơn đến đúng cơ
quan có thẩm quyền, chấp hành quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình
khiếu nại trong thời gian khiếu nại, chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có
hiệu lực pháp luật. Cơ quan giải quyết phải tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục,
thời gian giải quyết và lấy pháp luật làm “chuẩn” trong vai trò là “trọng tài” thực
hiện quyền phân xử để đưa ra một kết quả giải quyết “thấu t́nh, đạt lý” và để quyết
định giải quyết có hiệu lực thi hành trên thực tế.
Yêu cầu tôn trọng và lắng nghe ý kiến của người dân.
Giải quyết khiếu nại về đất đai là vấn đề có liên quan đến lợi ích đặc biệt
quan trọng của người sử dụng đất, bởi vì đất đai khơng chỉ có ý nghĩa về mặt kinh
tế mà cịn mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc, do đó trong việc giải quyết khiếu nại, vấn
đề tiếp công dân và đối thoại ln đóng vai trị quan trọng. Ngồi nhiệm vụ là thu
thập và củng cố những thông tin có giá trị chứng cứ để xác định sự thật của vụ việc
khiếu nại, trong tiếp công dân và đối thoại, cơ quan có thẩm quyền cịn phải ln
đặt mình vào vị trí của người khiếu nại để có quyết định giải quyết đúng đắn, hợp
tình, kịp thời bảo vệ và khơi phục quyền và lợi ích bị xâm phạm.
u cầu về khả năng tra cứu và áp dụng văn bản pháp luật.
Đây là một yêu cầu quan trọng và cụ thể của việc tuân thủ pháp luật trong
việc giải quyết khiếu nại hành chính, nó có vị trí đặc biệt quan trọng. Để đáp ứng
được yêu cầu này, ngoài việc tuân thủ quy định của pháp luật nói chung, pháp luật
hạn khiếu nại tiếp theo, người giải quyết khiếu nại phải đảm bảo thời gian thụ lý,
thẩm tra, xác minh và ra kết luận giải quyết, cũng như thi hành quyết định giải
quyết. Tuy nhiên, việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời khơng đồng nghĩa với kết
quả giải quyết khơng chính xác, khơng phù hợp với pháp luật và thực tế đây là
nhiệm vụ khó khăn của khiếu nại về đất đai, nhưng bắt buộc phải tuân thủ.
Yêu cầu về phối hợp trong giải quyết khiếu nại
Một trong những đặc điểm đặc thù của Khiếu nại về đất đai là có nhiều chủ
thể tham gia giải quyết, do vậy để phát huy được sức mạnh trí tuệ tổng hợp này, cần
24
thiết phải có sự phối hợp nhịp nhàng trong quá trình giải quyết khiếu nại về đất đai
của các cơ quan có liên quan.
Tơn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại
Đất đai là tài sản đặc biệt, gắn liền với con người từ lúc sinh ra, trưởng thành
cho đến khi mất đi, cho nên ngồi những giá trị vật chất mà nó mang lại, đất đai cịn
có giá trị tinh thần rất thiêng liêng của mỗi người. Giải quyết khiếu nại về đất đai
chính là giải quyết xung đột giữa nhà nước và người sử dụng đất về quyền sử dụng
đất và các quyền lợi ích khác có liên quan. Do vậy, trong giải quyết, người giải
quyết ngoài việc phải lấy pháp luật làm “chuẩn” cịn phải tìm hiểu, xem xét đến
điều kiện, hồn cảnh cụ thể, khi cần thiết thì vận dụng các chính sách khác để việc
giải quyết vừa tuân thủ đúng quy định của pháp luật vừa đảm bảo hài hòa lợi ích
của nhà nước, tập thể và cá nhân tổ chức, có như vậy quyết định giải quyết mới có
tính khả thi trong thực tế và quy định của pháp luật được tôn trọng.
1.1.2.5. Đặc điểm của giải quyết khiếu nại về đất đai:
Khiếu nại về đất đai là chủ thể bị xâm phạm về quyền sử dụng đất hoặc các
lợi ích kinh tế từ quyền sử dụng đất. Chủ thể này mang trong mình tính chất đặc
thù, họ phải là người sử dụng đất, chịu sự tác động trực tiếp của quyết định hành
chính và hành vi hành chính trong quản lý đất đai. Theo pháp luật đất đai, người sử