MỤC LỤC
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
DANH MỤC VIẾT TẮT
TW: TRUNG ƯƠNG
TNMT: TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
UBND: UỶ BAN NHÂN DÂN
P: PHƯỜNG
ĐKĐĐ: ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI
GCNQSDĐ: GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại khoa Bất động sản và Địa chính, trường
Đại học Kinh tế quốc dân – Hà Nội và thời gian thực tập tại phòng Tài
nguyên Môi trường huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tôi đã được
trang bị một số kiến thức và kinh nghiệm thực tế giúp tôi hoàn thành chuyên
đề tốt nghiệp của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể và cá nhân đã
giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ
nhiệm khoa và các thầy cô giáo trong khoa Bất động sản và Địa chính đã
truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tập
và rèn luyện tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Th.S Phạm Lan Hương
đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, chỉ bảo tôi tận tình trong suốt quá trình
thực tập và thực hiện chuyên đề.
Trong thời gian thực tập tôi vô cùng cám ơn Ban lãnh đạo cùng toàn
thể cán bộ trong Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Dương, thành
phố Hải Phòng đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và
nghiên cứu đề tài.
Do điều kiện về thời gian và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế,
chắc chắn chuyên đề tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cũng như của
thực hiện pháp luật và vai trò quản lý Nhà nước về đất đai của chính quyền
cơ sở giảm sút.
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công của Khoa Bất động sản
và Địa chính, trường Đại học Kinh tế quốc dân, cùng với sự hướng dẫn của
thạc sỹ Phạm Lan Hương, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trên
địa bàn quận Kiến An – thành phố Hải Phòng những năm gần đây”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về công tác thanh tra, giải quyết khiếu
nại, tố cáo và tranh chấp đất đai.
- Nghiên cứu thực trạng về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn quận Kiến An – thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất những ý kiến đóng góp, giải pháp về công tác thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn quận Kiến An nói
riêng và thành phố Hải Phòng nói chung.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp luận trong nghiên cứu
- Cơ sở của phương pháp này là dựa trên phép biện chứng duy vật về
nhận thức thể hiện ở các điểm sau:
+ Nghiên cứu các hiện tượng, sự kiện, phạm trù xã hội trong mối liên
hệ phụ thuộc lẫn nhau trong trạng thái vận động
+ Xem xét các sự kiện và hiện tượng trên quan điểm thống nhất của
các mặt đối lập
+ Phát hiện những cái mới, tiến bộ trong quá trình vận động và phát
triển.
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
3.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Phương pháp này được ứng dụng để điều tra, thu thập các số liệu, sự
kiện thông tin cần thiết để phục vụ cho mục đích nghiên cứu
3.3. Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp số liệu
Quyết định 201/CP ngày 01/07/1980 về việc thống nhất quản lý đất
đai và tăng cường công tác quản lý đất đai trong cả nước: “ Tất cả quỹ đất
thuộc cả nước đều do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và kế
hoạch chung, nhằm đảm bảo ruộng đất đựoc sử dụng hợp lý, tiết kiệm và đi
lên theo hướng sản xuất sản xuất lớn XHCN.”
Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
về việc: “ Công tác đo đạc, lập bản đồ, phân hạng đất và đăng ký thống kê
ruộng đất nhằm nắm chắc số luợng và chất lượng ruộng đất, xác định phạm
vi, quyền hạn và trách nhiệm của người sử dụng đất, phân hạng đất canh tác
thuộc từng đơn vị sử dụng, thực hiện thống nhất trong cả nước.”
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
Ngày 29/12/1987 Luật Đất đai ra quy định về chế độ quản lý và sử
dụng đất đai. Trong văn bản này Luật đã khẳng định Nhà nước thống nhất
quản lý về đất đai.
Do yêu cầu của thực tiễn Luật Đất đai 1993 ra đời thay thế Luật Đất
đai 1987, tại điều 8 Luật này quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý đất
đai trong cả nước. UBND các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai
trong địa phương mình theo thẩm quyền được quy định trong Luật này. Thủ
trưởng cơ quan quản lý đất đai ở TW chịu trách nhiệm trước Chính phủ, thủ
trưởng cơ quan quản lý đất đai tại địa phương chịu trách nhiệm trước UBND
cùng cấp trong việc quản lý Nhà nước về đất đai.”
Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ quy định về việc
giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích
sản xuất nông nghiệp.
Nghị định 88/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ quy định về việc
quản lý và sử dụng đất đô thị.
Nghị định 04/CP ngày 10/01/1997 của Chính phủ quy định về xử phạt
hành chính trong quản lý và sử dụng đất.
Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm
1998 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa nên ngay từ khi Nhà nước Việt Nam
đầu tiên ra đời cũng đồng thời xuất hiện quyền sở hữu tối cao của Nhà nước
đối với đất đai.
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
Ở nước ta, trong quá trình chuyển đổi từ nên kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường só sự quản lý của Nhà nước đã và đang đặt
ra một yêu cầu khách quan phải xây dựng và hoàn thiện chế độ sở hữu đất
đai cho phù hợp với cơ chế mới. Để đáp ứng yêu cầu đó, Đảng và Nhà nước
ta đã chủ trương duy trì chế độ sở hữu Nhà nước đối với đất đai đồng thời
xây dựng các chính sách kinh tế nói chung và chính sách đất đai nói riêng
sao cho phù hợp với lợi ích của người sủ dụng đất.
Tinh thần này đã được cụ thể hoá trong điều 17 Luật Đất đai năm
1992: “Đất đai, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi
vùng biển, thềm lục địa và vùng trời… là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu
toàn dân.”
Tại điều 1 Luật Đất đai 1993 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia
đình và cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài. Nhà nước còn cho các tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân thuê đất.”
Trong điều 7 Luật Đất đai 2003 khẳng định: “ Nhà nước thực hiện
quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý Nhà
nước về đất đai.”
Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quyền sở hữu đất đai, đất đai trên
toàn bộ lãnh thổ cả nước thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Trên cơ sở đó,
Nhà nước vừa là chủ thể quyền sử dụng vừa là chủ thể quản lý đối với đất
đai. Quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai bao gồm: quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Quyền chiếm hữu: quyền chiếm hữu của Nhà nước đối với đất đai là
quyền nắm giữ toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước, quyền kiểm soát
chi phối mọi hoạt động của người sử dụng đất. Quyền này không hạn chế về
Chính phủ trong việc tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra, kiểm tra nhà
nước. Trong toàn bộ các văn bản pháp luật từ trước đến nay có đề cập đến vị
trí của tổ chức thanh tra đều xác định các tổ chức thanh tra nhà nước là cơ
quan nằm trong các cơ quan hành chính nhà nước, thuộc hệ thống hành
pháp.
1.3.2. Hệ thống thanh tra Nhà nước
Theo quy định tại Điều 10, Điều 13 và Điều 23 Luật thanh tra năm
2004 hệ thống thanh tra nhà nước bao gồm:
1- Cơ quan thanh tra được thành lập theo cấp hành chính
Gồm có:
- Thanh tra Chính phủ
- Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ( gọi chung là
thanh tra tỉnh)
- Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( gọi chung là
thanh tra huyện )
2- Cơ quan thanh tra được thành lập ở cơ quan quản lý theo ngành,
lĩnh vực
Gồm có:
- Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (gọi chung là thanh tra bộ)
- Thanh tra sở
Cơ quan thanh tra nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng
cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về
công tac, tổ chức nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấp trên.
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
1.3.3. Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thanh tra Nhà nước
1.3.3.1. Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thanh tra theo cấp hành chính
- Chức năng: Cơ quan thanh tra theo cấp hành chính là cơ quan của
Chính phủ, UBND cấp tỉnh và cấp huyện; chịu trách nhiệm trước chính phủ
thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn trong phạm vi quản lý nhà nước của Chính phủ đối với thanh tra
định của pháp luật nhằm bảo vệ quan hệ đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đảm
bảo sử dụng đất đúng pháp luật, củng cố đoàn kết toàn dân; phát hiện những
sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật đất đai để kiến nghị với cơ
quan nhà nước thẩm quyền các biện pháp khắc phục, sửa đổi, bổ sung nhằm
nâng cao hiêu quả quản lý và hoàn thiện các văn bản pháp luật về đất đai
đồng thời biểu dương kịp thời các cơ quan, đơn vị cá nhân chấp hành tốt
pháp luật đất đai, phát huy nhân tố tích cực, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý và sử dụng
đất.
1.4.2. Hệ thống tổ chức của thanh tra đất đai
Cơ quan thanh tra về đất đai của nước ta từ TW đến địa phương gồm
có:
- Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường: là tổ chức thanh tra thuộc
hệ thống thanh tra Nhà nước và được tổ chức theo quy định của Chính phủ.
- Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường: là tổ chức thuộc hệ thống
thanh tra Nhà nước, là cơ quan của Sở Tài nguyên và Môi trường được tổ
chức theo quy định của thanh tra Sở. Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi
trường bao gồm: chánh thanh tra, phó chánh thanh tra và thanh tra viên.
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
- Thanh tra cấp huyện: là cơ quan thanh tra chung các vấn đề, lĩnh vực
trong phạm vi cấp huyện. Đối với lĩnh vực đất đai, phòng Tài nguyên và
Môi trường sẽ cử người đảm nhiệm chức năng thanh tra đất đai.
- Thanh tra cấp xã: thanh tra đất đai cấp xã là một trong những chức
năng, nhiệm vụ của UBND xã do cán bộ địa chính trực tiếp giúp UBND xã
thực hiện.
1.4.3. Chức năng nhiệm vụ của thanh tra đất đai
- Chức năng: Các tổ chức thành viên và cán bộ thanh tra của các cơ
quan quản lý đất đai phối hợp với cơ quan chức năng cùng cấp để giúp chính
quyền mình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, xét giải quyết khiếu nại, tố cáo,
tranh chấp đất đai theo phân cấp, phối hợp với thanh tra Nhà nước và các cơ
các ngành.
- Phần 2: Nêu cụ thể nội dung các vấn đề cần thanh tra , phạm vi, địa
điểm, nhu cầu cán bộ và các vấn đề cần thiết khác để tiến hành thanh tra.
- Phần 3: Tổ chức, chỉ đạo thực hiện trên cơ sở kế hoạch đã được thực
hiện.
Giai đoạn 2: Tiến hành thanh tra
Khi tiến hành thanh tra, các cơ quan thanh tra phải thành lập đoàn
thanh tra và tiến hành cuộc thanh tra theo một tuần tự nhất định, cụ thể qua 4
bước sau đây:
- Bước 1: Ra quyết định thanh tra: phải theo đúng thẩm quyền và phải
ban hành văn bản.
- Bước 2: Chuẩn bị thanh tra: nhằm trang bị cho các thanh tra viên
những hiểu biết cần thiết về địa bàn thanh tra và những kiến thức chuyên
môn cần thiết phục vụ thanh tra.
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
- Bước 3: Trực tiếp thanh tra: yêu cầu chính là thu thập đầy đủ các
chứng cứ cần thiết của vấn đề thanh tra, xác định đúng sai, xác định nguyên
nhân chủ yếu và trách nhiệm cụ thể đối với đối tượng bị thanh tra.
- Bước 4: Kết thúc thanh tra: sau khi tiến hành trực tiếp thanh tra căn
cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập được, đoàn thanh tra phải có văn bản kết
quả thanh tra với người ra quyết định thanh tra và chịu trách nhiệm về tính
chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo đó. Người ra quyết định
thanh tra phải ra văn bản kết luận thanh tra. Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà
nước có trách nhiệm xem xét kết luận thanh tra, xử lý đối với cơ quan, tổ
chức, cá nhân vi phạm pháp luật, áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền
hoặc kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục
hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật.
1.5. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO, TRANH CHẤP VỀ ĐẤT ĐAI
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được
cấp xã, thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường, thuộc UBND cấp huyện
trong khi giải quyết công việc về quản lý đất đai thì Chủ tịch UBND cấp
huyện có trách nhiệm giải quyết. Trường hợp khiếu nại quyết định hành
chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch UBND cấp huyện
giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải
quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại lên
Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Trong trường hợp khiếu nại lên Chủ tịch UBND
cấp tỉnh thì quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định cuối cùng.
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
Khiếu nại đối với quyết định hành chính của Sở Tài nguyên và Môi
trường, của UBND cấp tỉnh trong quản lý đất đai; hành vi hành chính của
cán bộ, công chức thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, thuộc UBND cấp
tỉnh trong giải quyết công việc về quản lý đất đai thì Chủ tịch UBND cấp
tỉnh chịu trách nhiệm giải quyết. Trường hợp khiếu nại quyết định hành
chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch UBND cấp tỉnh
giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định thì có
quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân.
1.5.2.2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo về đất đai
Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai
đựoc thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo:
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm
quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách
nhiệm giải quyết.
- Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người
thuộc cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách
nhiệm giải quyết.
- Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên
trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức
Khiếu nại:
+ Chủ thể: các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân.
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
+ Đối tượng: các quyết định hành chính, hành vi hành chính và các
quyết định kỷ luật các cán bộ công chức.
Tố cáo:
+ Chủ thể: mọi công dân khi phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật
của cơ quan Nhà nước, các tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền đều được
quyền tố cáo.
+ Đối tượng: các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá
nhân gây thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, công dân
hoặc tổ chức.
1.5.3.2. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể khiếu nại, tố cáo
Khiếu nại: Khoản 1 và 2 Điều 17 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy
định:
Các chủ thể khiếu nại có các quyền như sau:
+ Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu
nại.
+ Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại,
nhận quyết định giải quyết khiếu nại.
+ Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
+ Được khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo
quy định của Luật này và pháp luật về tố tụng hành chính.
+ Rút khiếu kiện trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết.
Các chủ thể khiếu nại có các nghĩa vụ sau:
+ Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết.
+ Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người
giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày
và việc cung cấp các thông tin, tài liệu đó.
Môi trường có trách nhiệm chủ yếu sau:
- Nắm chắc những đơn thư thuộc trách nhiệm theo dõi, đôn đốc giải
quyết.
- Phân loại đơn, thư gửi tới để xác định rõ phạm vi thẩm quyền giải
quyết của các cơ quan Nhà nước.
- Đơn, thư sau khi phân loại xong phải được xử lý kịp thời, những đơn
thư không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan Tài nguyên và Môi
trường thì pahỉ chuyển đơn tới những cơ quan có trách nhiệm giải quyết, trả
lời.
- Đơn thư có nội dung phức tạp phải chuyển cho thủ trưởng trực tiếp
cho ý kiến giải quyết.
- Cán bộ xử lý đơn phải tuyệt đối giữ bí mật về nội dung và tên, địa
chỉ của người gửi đơn.
1.5.4.3. Giải quyết đơn thư khiếu tố về đất đai
Giải quyết đơn thư khiếu tố về đất đai được tiến hành theo các bước:
Bước 1: Nghiên cứu đơn, thư khiếu tố
Đây là công việc đầu tiên của nghiệp vụ xét khiếu tố, là công việc
quan trọng nhất để đưa ra các kết luận một cách chính xác. Do vậy, đòi hỏi
việc nghiên cứu đơn thư phải được tiến hành cẩn thận, tỉ mỉ thông qua đó
tìm ra những mâu thuẫn, bản chất của vấn đề, phán đoán những nguyên nhân
chủ yếu, chuẩn bị những tài liệu, văn bản pháp luật có liên quan để giải
quyết những vấn đề mà đương sự yêu cầu một cách chính xác, khoa học và
đúng pháp luật.
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46
Bước 2: Tiến hành gặp đương sự
Đây là một yêu cầu không thể thiếu khi giải quyết đơn thư khiếu tố.
Quá trình gặp đương sự cần tạo không khí thoải mái, tạo lòng tin cho đương
sự vào sự công bằng của pháp luật, qua đó để đương sự trình bày đầy đủ về
tâm tư, nguyện vọng, tìm hiểu, thu thập được những thông tin quan trọng
của nội dung vấn đề. Sau khi gặp đương sự, người trực tiếp giải quyết đơn
hạn hợp đồng. Ngoài ra khi các bên giao kết phổ biến là hợp đồng miệng
nên thường xảy ra tranh chấp.
* Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng: Đây là dạng tranh chấp khá
phổ biến, thường xảy ra do:
- Người có quyền sử dụng đất chết không để lại di chúc và những thừa
kế theo pháp luật không thoả thuận với nhau về phần thừa kế hoặc không
hiểu quy định của pháp luật thừa kế nên tranh giành nhau.
- Người sử dụng đất trước khi chết có lập di chúc để lại quyền sử dụng
đất nhưng do không biết pháp luật nên một phần di chúc bị trái pháp luật
hoặc hình thức di chúc không đúng pháp luật. Việc lập di chúc không rõ
ràng, cụ thể cũng dễ gây tranh chấp.
* Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Dạng
tranh chấp này diễn ra khá phổ biến trong nhân dân, việc phát sinh tranh
chấp thường xảy ra do một hoặc cả hai bên không thực hiện đúng giao kết
như không trả tiền hoặc không giao đất, cũng có trường hợp do bị lừa dối
Vũ Mạnh Hợp Lớp: Địa chính 46