lời nói đầu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời
sớm ở nớc ta. Đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, nó ít mang tính chất
kinh doanh thơng mại mà chủ yếu là tính nhân dạo và nhân văn cao cả.
Kể từ khi ra đời đến nay, nó đã góp phần làm ổn định đời sống cho cán
bộ công nhân viên chức Nhà nớc, quân nhân, những ngời lao động làm việc
trong các thành phần kinh tế của đất nớc; ổn định chính trị xã hội, thúc
đẩy quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc.
Hiện nay, đợc sự quan tâm của Nhà nớc mà chính sách BHXH ngày
càng đợc thực hiện tốt và hiệu quả hơn với các đối tợng tham gia nói trên. Để
việc thực hiện BHXH tồn tại và phát huy đợc tác dụng của nó cần phải có
một quỹ BHXH và quỹ đó phải hoạt động đúng mục đích tức là cơ quan
BHXH phải thực hiện tốt công tác thu chi quỹ BHXH.
Qua thời gian thực tập tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ em thấy
BHXH huyện Giao Thuỷ đã đạt đợc những kết quả thiết thực về hoạt động
thu chi quỹ BHXH nh: Chi đúng ngời, đúng đối tợng, kịp thời; thu quỹ
BHXH ngày càng tăng v.v Tuy nhiên bên cạnh dó vẫn còn một số tồn tại
nhất định nh: Thu BHXH cha dứt điểm, số nợ đọng vẫn còn, một vài cơ sở
còn trốn nộp BHXH làm cho hoạt động quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện
Giao Thuỷ cha đạt đợc kết quả cao, tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nớc.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của công tác quản lý thu chi quỹ BHXH
nh vậy, em đã chọn đề tài : Thực trạng thu - chi quỹ BHXH tại phòng
BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định) với mong muốn đợc góp phần nhỏ
bé của mình nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu chi quỹ BHXH tại
1
phòng BHXH huyện Giao Thuỷ nói riêng và trong hệ thống BHXH Việt Nam
nói chung.
Trong quá trình hoàn thành chuyên đề, do thời gian và nhận thức còn
nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong đợc sự
chỉ bảo của các thầy cô giáo. Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo
PGS.TS Hồ Sĩ Sà đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
cách đó cả chủ và thợ đều thấy mình có lợi và tự giác thực hiện, cuộc sống
3
của ngời lao động đợc đảm bảo.Ngời chủ đợc bảo vệ việc sản xuất kinh
doanh diễn ra bình thờng, tránh đợc những xáo trộn không cần thiết.
Mối quan hệ ba bên nêu trên đợc thế giới quan niệm là BHXH cho ngời
lao động. Nh vậy BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ ngời lao động, bằng
cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính đợc huy động từ sự đóng góp
của ngời lao động, ngời sử dụng lao động (nếu có), sự tài trợ của Nhà nớc
nhằm trợ cấp vật chất cho ngời đợc bảo hiểm và gia đình họ trong trờng hợp
bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp các rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc
tử vong
2 - Sự cần thiết phải có hệ thống BHXH
Trong cuộc sống cũng nh trong các hoạt động sản xuất hàng ngày, mặc
dù không muốn nhng ngời lao động không thể tránh khỏi hết những rủi ro
bất ngờ xảy ra nh: ốm đau; bệnh tật, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Tất cả những nguyên nhân đó xảy ra đều ít nhiều làm ảnh hởng đến đời sống
vật chất và tinh thần cho bản thân cũng nh gia đình; ngời thân của họ.
Muốn khắc phục đợc khó khăn do các rủi ro nêu trên gây ra, ngời lao
động cần phải đợc sự bảo trợ của tập thể số đông. Đặc biệt để ngời lao động
yên tâm tham gia sản xuất tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nớc thì nhà nớc
cần phải can thiệp vào nhằm làm giảm bớt những khó khăn cho ngời lao
động trong các trờng hợp: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề
nghiệp, chết, mất việc làm khi về già Từ đó BHXH đ ợc ra đời nh một tất
yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy cần phải
tham gia hệ thống BHXH này.
II . Vai trò và những nguyên tắc của BHXH
1 Vai trò của BHXH
4
1.1) Đối với ngời lao động
nghiệp ngày càng phát triển hơn, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động sản
xuất của doanh nghiệp cũng nh nâng cao thu nhập cho ngời lao động và góp
vào việc phát triển nền kinh tế của đất nớc.
1.3) Đối với xã hội
Thứ nhất, cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động
dịch vụ, cơ quan BHXH là một doanh nghiệp sản xuất ra những dịch vụ
bảo hiểm cho ngời lao động, một loại dịch vụ mà bất cứ ai cũng cần đến
(không phải chỉ cán bộ, công nhân viên chức mới cần). Nếu các doanh
nghiệp này càng sản xuất ra nhiều loại bảo hiểm (đáp ứng đa dạng các nhu
cầu) thì giá trị của những sản phẩm dịch vụ này cũng đợc tính trực tiếp vào
tổng sản phẩm xã hội.
Thứ hai, với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của
Nhà nớc, BHXH sẽ bảo hiểm cho ngời lao động, hoạt động BHXH sẽ giải
quyết những trục trặc, rủi ro xảy ra đối với những ngời lao động, góp
phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng
tạo của sức lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao
năng suất lao động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của mình vào việc
nâng cao năng suất lao động xã hội. Với sự trợ giúp của ngời lao động khi
gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác
động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội.
Thứ ba, với t cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh
mẽ tới hệ thống tài chính ngân sách Nhà nớc, tới hệ thống tín dụng tiền tệ
ngân hàng. Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo tồn
và phát triển quỹ bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu
t phát triển phần nhàn rỗi của quỹ. Phần này có tác động không nhỏ tới sự
phát triển đất nớc, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc
6
làm mới góp phần quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho ngời lao đông.
Từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nớc, góp phần tăng
thu nhập cá nhân cho ngời lao động nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc
ngời lao động, ngời lao động cũng phải tự bảo hiểm cho mình.
Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trờng, trong đó Nhà nớc
có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế xã hội trên phạm vi cả nớc.
Với vai trò này Nhà nớc có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội,
đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Cùng
với sự tăng trởng sự phát triển kinh tế xã hội, cũng có những kết quả bất lợi
không mong muốn. Những kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn
đến những rủi ro cho ngời lao động. Khi xảy ra tình trạng nh vậy nếu không
có BHXH thì Nhà nớc vẫn phải chi Ngân sách để giúp đỡ ngời lao động dới
một dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng những làm cho đời sống ngời lao động
ổn định mà còn làm cho sản xuất kinh tế xã hội của đất nớc ổn định. Vì vậy,
khi trong xã hội loài ngời xuất hiện BHXH một dạng đảm bảo đời sống
tiến bộ hơn đối với ngời lao động- so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì
Nhà nớc càng có điều kiện và càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia dạng
hoạt động đó.
Đối với ngời sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tơng tự nh
trên nhng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp. ở đó giữa ngời lao động
và ngời sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Ngời sử dụng lao động
muốn ổn định và sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu t để có máy
móc thiết bị hịên đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời
sống của ngời lao động mà mình sử dụng. Khi ngời lao động làm việc bình
thờng thì phải trả lơng (trả công) thoả đáng cho ngời lao động. Khi họ gặp rủi
ro, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.. trong đó có rất nhiều trờng
8
hợp gắn với quá trình lao động, với những điều kiện lao động cụ thể của
doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có nh vậy ngời lao
động mới yên tâm tích cực lao động sản xuất góp phần tăng năng suất lao
động, tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
Đối với ngời lao động khi gặp những rủi ro không muốn và không phải
hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của ngời khác thì trớc hết đó là rủi ro của bản
luôn luôn nh nhau, thống nhất với nhau mà trái lại có lợi ích có lúc lại mâu
thuẫn với nhau. Chẳng hạn việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời hạn nghỉ làm
việc và hởng trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho ngời lao động nhng lại gây khó
khăn cho ngời chủ sử dụng lao động, nếu giảm hậu quả bất lợi cho ngời sử
dụng lao động thì Nhà nớc lại phải gánh chịu.
2.6) Mức trợ cấp BHXH phải đảm bảo thấp hơn tiền lơng khi đang đi làm,
nhng cũng phải lớn hơn mức lơng tối thiểu
Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lơng nh trợ cấp
ốm đau, thai sản, hu trí tuổi già chứ không phải là trợ cấp bù đắp hoặc trợ cấp
BHXH. Nh đã biết, tiền lơng là khoản tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho
ngời lao động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, chỉ ngời lao
động có sức khoẻ bình thờng, có việc làm bình thờng và thực hiện công việc
nhất định mới có tiền lơng. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thực
hiện đợc công việc nhất định hoặc không việc làm mà trớc đó có tham gia
BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lơng tạo ra
đợc. Còn nếu cố tìm cách trả trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lơng thì
không một ngời lao động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc
để có lơng mà ngợc lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản để hởng trợ cấp. Hơn
nữa cách lập quỹ, phơng thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng không cho phép
trả trợ cấp BHXH bằng tiền lơng lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền l-
10
ơng thì chẳng khác gì bị rủi ro đem rủi ro của mình dàn trải hết cho những
ngời khác.
Nh vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi
làm. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ
cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày. Chỉ khi
đó BHXH mới có tính nhân văn cao cả.
2.7) Kết hợp giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội áp dụng hình thức bắt buộc để đảm bảo quy luật số lớn
và số có hệ số an toàn cao nhằm đảm bảo cuộc sống của ngời lao động. Tuy
kinh tế xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý đặc biệt là với sự điều chỉnh, sự
đồng bộ của nền pháp chế của nớc đó. Trong tình hình nớc ta, kinh tế thị tr-
ờng theo định hớng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế xã hội đang
chuyển động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải bảo đảm
chắc chắn, tính toán thận trọng và có bớc đi phù hợp.
III. quỹ BHXH
1 Vai trò của quỹ BHXH
Trong đời sống kinh tế xã hội, có rất nhiều loại quỹ khác nhau nh: quỹ
tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lơng, quỹ tiền thởng, quỹ
phúc lợi, quỹ tiết kiệm...Tất cả các loại quỹ này đều có một điểm chung là
tập hợp các phơng tiện tài chính cho những hoạt động nào đó theo mục tiêu
định trớc. Quỹ lớn hay quỹ nhỏ biểu thị khả năng về mặt phơng tiện và vật
chất để thực hiện công việc cần làm.
Tất cả các quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lợng tĩnh tại một thời
điểm mà luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm đi ở
đầu ra với các khoản chi nh một dòng chảy liên tục. Để đảm bảo cho đầu ra
ổn định, ngời ta thiết lập một lợng dự trữ. Bởi vậy, để nắm và điều hành đợc
12
một quỹ nào đó thì không phải chỉ nắm đợc khối lợng của nó tại một thời
điểm nhất định, mà quan trọng hơn là phải nắm đợc lu lợng của nó trong một
khoảng thời gian nhất định.
Theo những quan niệm về quỹ nói chung nh trên, thì quỹ BHXH là tập
hợp những đóng góp bằng tiền của những ngời tham gia BHXH hình thành
một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nớc để chi trả
cho những ngời đợc BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.
Nh vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự
phòng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện
hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và
phát triển.
Quỹ BHXH đợc sử dụng chủ yếu cho hai mực đich sau đây:
- Chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH đợc
sử dụng để trợ cấp cho các đối tợng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc
sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tợng tham gia BHXH gặp rủi ro.
Thực chất là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong công ớc
102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
14
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế
9. Trợ cấp cho ngời còn sống ( trợ cấp mất ngời nuôi dỡng)
9 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH . Tuỳ điều kiện
kinh tế xã hội mà mỗi nớc tham gia công ớc Giơnevơ thực hiện khuyến nghị
đó ở mức độ khác nhau, nhng ít nhất phải thực hiện đợc ba chế độ. Trong đó,
ít nhất phải có một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9). Mỗi chế độ trong
hệ thống trên khi xây dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội tài chính,
thu nhập, tiền lơng .v.v Đồng thời tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải
tính đến các yếu tố sinh học; tuổi thọ bình quân của quốc gia, nhu cầu dinh
dỡng; xác suất tử vong
Tuy nhiên, cơ sở để xác định điều kiện hởng BHXH phải tính đến một
loạt các yếu tố liên quan đến toàn bộ hệ thống các chế độ cũng nh từng chế
độ BHXH cụ thể. Chẳng hạn khi xác định điều kiện hởng trợ cấp BHXH tuổi
già phải dựa vào cơ sở sinh học là tuổi đời và giới tính, của ngời lao động là
Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn đợc sử
dụng cho chi phí quản lý nh: Tiền lơng cho những ngời làm việc trong hệ
thông BHXH; khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản chi
khác Phần quỹ nhàn rỗi phải đ ợc đem đầu t sinh lợi. Mục đích đầu t quỹ
BHXH là nhằm bảo toàn và tăng trởng nguồn quỹ. Quá trình đầu t quỹ
BHXH phải đảm bảo nguyên tắc: an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh
toán và đảm bảo lợi ích kinh tế- xã hội.
16
chơng II
Tình hình thu chi quỹ BHXH
tại Phòng BHXH huyện giao thuỷ
I . vài nét giới thiệu về BHXH huyện Giao Thuỷ
Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ đợc thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 9 năm
1995 cùng với sự chia cắt hành chính của huyện Xuân Thuỷ thành huyện Xuân Trờng và
17
huyện Giao Thuỷ. Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ chủ yếu thực hiện việc thu chi
thuần tuý mà không kinh doanh loại hình bảo hiểm nào.
Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ có tất cả 7 cán bộ viên chức, trong đó ông Nguyễn
Công Hoan là Giám Đốc, bà Chu Thị Vân ánh là Kế toán kiêm bộ phận chi, bà Đặng
Thị Dung phụ trách bộ phận hành chính, bà Phạm Thị Vóc và ông Nguyễn Thành Lý
phụ trách bộ phận thu, ông Trần Hải Triều phụ trách bộ phận chính sách, ông Trần Mạnh
Hùng phụ trách bộ phận y tế tự nguyện.
BHXH huyện Giao Thuỷ chịu sự quản lý trực tiếp của BHXH tỉnh Nam Định, có
con dấu và tài khoản riêng.
Sơ đồ vị trí của BHXH huyện Giao Thuỷ:
BHXH huyện Giao Thuỷ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ BHXH tỉnh
Nam Định giao cho gồm:
- Xây dựng chơng trình, kế hoạch công tác năm trình Giám đốc BHXH tỉnh
Nam Định phê duyệt và tổ chức thực hiện;
đóng góp của các bên tham gia BHXH và những nguồn tài chính bổ xung
khác.
Thu quỹ BHXH là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động
BHXH nói chung, nó đảm bảo cho sự tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập
trung và tạo ra nguồn tài chính để có thể tiến hành các hoạt động BHXH. Do
đó mà việc đóng góp vào BHXH của các bên tham gia BHXH là sự tất yếu
trong hoạt động BHXH, vì những lý do sau:
19
- Việc đóng góp quỹ BHXH đánh dấu sự đóng góp của những ngời
tham gia BHXH, là cơ sở để đo sự đóng góp của các bên tham gia
BHXH.
- Tạo ra đợc nguồn tài chính tập trung từ đó có thể tiến hành thống nhất
các hoạt động BHXH.
- Nguồn thu của BHXH đợc hình thành từ ba nguồn chủ yếu: đóng góp
của ngời lao động, ngời sử dụng lao động và phần hỗ trợ từ Ngân sách
Nhà nớc; nguồn thu này phản ánh rõ nét quan hệ ba bên trong BHXH,
là cơ sở để tạo ra các quan hệ khác trong BHXH.
- Thực chất, quan hệ ba bên trong BHXH là mối quan hệ về lợi ích do
sự đóng góp vào BHXH của các bên tham gia là mối quan hệ về lợi
ích, từ việc tham gia đóng góp BHXH các bên tham gia BHXH đều
tìm kiếm đợc lợi ích cho mình, ngời sử dụng lao động tìm kiếm lợi ích
từ việc họ sẽ bỏ ra ít chi phí hơn khi ngời lao động không may gặp
phải những rủi ro, ngời lao động đợc tìm kiếm lợi ích từ việc họ đợc h-
ởng các quyền lợi khi họ không may gặp phải những rủi ro, Nhà nớc
đạt đợc mục tiêu ổn định đợc xã hội, ổn định đợc mối quan hệ lợi ích
giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động trong xã hội để ngời lao
động yên tâm tham gia sản xuất thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển.
Từ đó có thể nói rằng, thu BHXH là một phần quan trọng không thể thiếu
đợc của hoạt động BHXH.
1.2) Công tác thu BHXH tại BHXH huyện Giao Thuỷ
Vì vậy BHXH huyện Giao Thuỷ đã đạt đợc các chỉ tiêu về thu BHXH,
mức thu tăng nhanh rõ rệt, nh năm 1995 chỉ có 633.124.098 đồng, thì đến
năm 1996 con số đó là 1.251.624.005 đồng (tăng gần gấp đôi), tinhd đến
năm 2003 BHXH huyện Giao Thuỷ đã thu đợc 6.282.523.923 đồng.
21
2 - Những nguồn thu BHXH
Thông thờng, quỹ BHXH đợc hình thành từ nguồn sau:
- Thu từ đóng góp của những ngời tham gia BHXH là nguồn thu chủ yếu,
quan trọng nhất cho bất cứ quỹ BHXH của bất kỳ quốc gia nào, nó là cơ sở
chủ yếu để hình thành nên quỹ BHXH và tạo ra nguồn tài chính để thực hiện
những chế độ BHXH; nhng trong quá trình quản lý sự đóng góp của ngời
tham gia BHXH cũng phức tạp và khó khăn nhất. Nguồn thu này có tầm
quan trọng đặc biệt, nó là nền tảng để có thể thực hiện đợc chính sách
BHXH. Thông thờng, nguồn thu này đợc hình thành nh sau:
+ Ngời lao động tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH trên cơ sở tiền
lơng; tuỳ theo điều kiện của mỗi quốc gia mà phần đóng góp của ngời lao
động có khác nhau, nhng đều dựa trên cơ sở là tiền lơng của ngời lao động
làm căn cứ để tính toán số tiền ngời lao động phải đóng góp vào quỹ BHXH.
Theo Điều lệ BHXH hiện hành quy định ngời lao động phải đóng góp bằng
6% tiền lơng tháng( trớc đây là 5%).
+ Ngời sử dụng lao động tham gia đóng góp BHXH cho ngời lao động
trong đơn vị mình; thông thờng phần đóng góp của ngời sử dụng lao động
dựa trên tổng quỹ lơng. Theo Điều lệ BHXH hiện hành quy định ngời sử
dụng lao động phải đóng góp bằng 17% (trớc đây là 15%) tổng quỹ tiền lơng
của những ngời tham gia BHXH trong đơn vị.
- Thu từ việc hỗ trợ của Ngân sách Nhà nớc chủ yếu là để đảm bảo cho
các hoạt động BHXH diễn ra đợc đều đặn, bình thờng, tránh những xáo trộn
lớn trong việc thực hiện BHXH. Nguồn thu từ việc hỗ trợ của Ngân sách Nhà
nớc cho quỹ BHXH đôi khi là khá lớn, việc hỗ trợ cho hoạt động BHXH của
23
- Về nguyên tắc cơ quan BHXH phải quyết toán từng tháng, từng quý,
từng năm nhng đến cuối năm quyết toán, tất cả các số thu phải ăn khớp với
nhau và phải thực sự cân đối: giữa ngời lao động, ngời sử dụng lao động, loại
hình doanh nghiệp, loại hình thu.
Ngoài việc thu đúng của ngời lao động và ngời sử dụng lao động, BHXH
phải lập kế hoạch và lập dự toán trớc phần ngân sách Nhà nớc cấp bù vào đầu
tháng, đầu quý, đầu năm sau đó mới đợc quyết toán.
Lãi đầu t quỹ nhàn rỗi BHXH, về nguyên tắc phải đợc bù đắp vào quỹ để
bảo toàn và tăng trởng nguồn quỹ, phần trích ra chi cho các mục đích khác
nh chi cho khen thởng, chi quản lý và những khoản chi khác phải tuân thủ
theo đúng những quy định của pháp luật. Các khoản tài trợ của các tổ chức,
các quỹ từ thiện, đặc biệt là các khoản nợ của ngời tham gia phải đợc hạch
toán riêng, các khoản nợ đòi đợc phải tính tới lãi suất.
4 - Tổ chức quản lý thu BHXH
4.1) Quản lý đối tợng tham gia BHXH
Quản lý đối tợng tham gia BHXH là một phần quan trọng trong công tác
thu của BHXH, đặc biệt là nguồn thu từ ngời lao động và ngời sử dụng lao
động (kể cả những ngời đang đợc cử đi học, đi thực tập, công tác và điều d-
ỡng ở trong và ngoài nớc mà vẫn hởng tiền lơng hoặc tiền công của cơ quan
đơn vị đó) làm việc trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế xã hội theo
quy định tại Điều lệ BHXH Việt Nam, bao gồm:
- Các doanh nghiệp nhà nớc;
- Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hoặc tổ chức quốc tế đặt văn
phòng đại diện ở Việt Nam (trừ những trờng hợp tuân theo những điều ớc
quốc tế mà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham
gia có những quy định khác);
24
- Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử
dụng từ 10 lao dộng trở lên (hiện nay BHXH đã áp dụng với các doanh