MỞ ĐẦU
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống quan
điểm, chủ trương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải
pháp của cách mạng Việt Nam. Đường lối cách mạng được thể hiện qua cương
lónh, nghò quyết của Đảng. Trong thời kỳ 1930-1945, Đảng đã hình thành và
phát triển đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay
nhân dân để vận động, giáo dục, tổ chức quần chúng, chuẩn bò lực lượng, nắm
bắt thời cơ, phát động toàn dân tổng khởi nghóa, giành lại độc lập, tự do sau
hơn 80 năm mất nước.
NỘI DUNG
I. CHỦ TRƯƠNG ĐẤU TRANH TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1939
1. Trong những năm 1930 -1935
a. Luận cương chính trò tháng 10-1930
- Hoàn cảnh lòch sử:
+ Tháng 4-1930, sau thời gian học tập ở Liên Xô, Trần Phú được Quốc
tế Cộng sản cử về nước hoạt động.
+ Tháng 7-1930, Trần Phú được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung
ương Đảng.
+ Từ ngày 14 đến ngày 30-10-1930, Hội nghò Ban Chấp hành Trung
ương họp lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc) do Trần Phú chủ trì.
+ Hội nghò đã thông qua Nghò quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp
của Đảng; thảo luận Luận cương chánh trò của Đảng, Điều lệ Đảng và điều
lệ các tổ chức quần chúng. Quyết đònh đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam
thành Đảng Cộng sản Đông Dương; Hội nghò cử ra Ban Chấp hành Trung
ương chính thức và cử Trần Phú làm Tổng Bí thư.
- Nội dung của Luận cương:
+ Mâu thuẫn giai cấp: Diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân
cày và các phần tử lao khổ với một bên là đòa chủ phong kiến và tư bản đế
quốc.
+ Tính chất cách mạng Đông Dương: Lúc đầu là cách mạng tư sản dân
quyền, sau đó bỏ qua thời kỳ tư bản, chuyển sang giai đoạn cách mạng
Tuy nhiên, Luận cương chính trò chưa phân tích làm rõ tính chất và đặc
điểm của cách mạng ở một xã hội Việt Nam thuộc đòa, trong đó mâu thuẫn
chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm lược, từ
đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu, nặng về đấu tranh giai
cấp, về cách mạng ruộng đất; đánh giá không đúng vai trò cách mạng của
tầng lớp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của tư sản dân tộc, cường điệu
hoá mặt hạn chế của nó; chưa thấy được khả năng phân hoá và lôi kéo một bộ
phận đòa chủ vừa và nhỏ trong cách mạng giải phóng dân tộc cho nên không
đề ra được liên minh dân tộc rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và
tay sai.
2
- Ý nghóa của Luận cương
+ Cùng với Cương lónh đầu tiên, LCCT tháng 10/1930 đã vạch ra con
đường cách mạng chống đế quốc và phong kiến, đáp ứng được yêu cầu đòi
hỏi của cách mạng Việt Nam, trực tiếp góp phần làm bùng nổ cao trào cách
mạng 1930 – 1931.
Con đường cách mạng chống đế quốc, chống phong kiến là phải đánh
đổ triệt để, không khoan nhượng với kẻ thù.
+ Những tư tưởng của LCCT tiếp tục soi sáng sự nghiệp đổi mới đất
nước ta theo đònh hướng XHCN trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
b. Chủ trương khôi phục tổ chức đảng và phong trào cách mạng
- Ngay khi ra đời, Đảng đã phát động phong trào cách mạng rộng lớn,
đỉnh cao là Xô viết Nghệ – Tónh.
- Trước sự lớn mạnh của cao trào cách mạng 1930 – 1931, sau khi Xô
viết Nghệ - Tónh ra đời, thực dân Pháp thực hiện rất nhiều biện pháp đàn áp
phong trào.
+ Thực dân Pháp đã tăng hàng vạn quân, đưa tay sai về đòa phương
khủng bố, đàn áp dã man phong trào cách mạng.
Từ năm 1930 -1933, thực dân Pháp đã bắt giam 246.532 người; ở Bắc
kỳ đòch đã xét 1094 án, trong đó có 164 án tử hình, 114 án khổ sai, 420 án đày
Đảng ta những khó khăn nhất đònh, nhưng nó không dập tắt được phong trào
cách mạng, mà trái lại nó làm phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ,
càng tăng thêm lòng căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta.
- Đảng lãnh đạo đấu tranh kinh tế, chính trò, tư tưởng và văn hóa:
+ Tháng 6/1932 Ban lãnh đạo Trung ương đã thảo ra bản “Chương
trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương” được Quốc tế Cộng sản
thông qua.
Chương trình hành động đề ra những nhiệm vụ, biện pháp tổ chức đấu
tranh, góp phần nhanh chóng khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách
mạng; và đề ra các yêu cầu chung:
* Đòi các quyền tự do dân chủ, tự do tổ chức, xuất bản, ngôn luận, hội
họp, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
* Bỏ những luật hình đặc biệt đối với người bản xứ, trả lại tự do cho tù
chính trò, bỏ ngay chính sách đàn áp, giải tán hội đồng đề hình.
* Bỏ thuế thân, thuế ngụ cư và các thứ thuế vô lý khác, đặt thế lũy
tiến.
* Bỏ các độc quyền về muồi, rượu, thuốc phiện.
Nhắc nhở mọi cán bộ đảng viên, quần chúng không được hoảng hốt, bi
quan trước những khó khăn tạm thời; kiên quyết đấu tranh chống âm mưu thủ
đoạn của đòch; củng cố tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng; thay đổi hình thức,
phương pháp đấu tranh cho phù hợp để khôi phục phong trào cách mạng.
- Dưới sự chỉ đạo của Đảng hệ thống tổ chức Đảng và phong trào cách
mạng dần được khôi phục.
+ Năm 1932 số đảng viên ở tù ra và nước ngoài về ngày càng đông đã
tập trung vào bắt mối liên lạc và xây dựng phong trào.
+ Cuối năm 1933 đầu năm 1934 phần lớn các huyện uỷ, tỉnh ủy những
nơi bò đòch phá được khôi phục, cơ sở Đảng ở Lào, Campuchia cũng đựơc xây
dựng.
+ Về phong trào cách mạng quần chúng và các tổ chức quần chúng dần
dần đựơc khôi phục như: Hội cấy, hội cày, hội cắt tóc…
* Xác định kẻ thù nguy hiểm trước mắt của giai cấp vơ sản và nhân dân
lao động thế giới lúc này chưa phải là chủ nghĩa đế quốc nói chung, mà là chủ
nghĩa phát xít.
* Đại hội vạch ra nhiệm vụ trước mắt của giai cấp cơng nhân và nhân dân
lao động thế giới lúc này chưa phải là đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, giành
chính quyền, mà là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo
vệ dân chủ và hòa bình.
* Lập mặt trận nhân dân rộng rãi chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do,
dân chủ, hòa bình và cải thiện đời sống.
5
* Đối với các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, Đại hội chỉ rõ: Do tình
hình thế giới và trong nước thay đổi nên vấn đề lập mặt trận thống nhất chống
đế quốc có tầm quan trọng đặc biệt.
- Tình hình trong nước:
+ Bọn cầm quyền phản động ra sức vơ vét bóc lột và khủng bố, mâu
thuẫn trong xã hội ngày càng sâu sắc;
+ Phong trào cách mạng cả nước đang phục hồi nhanh chóng.
+ Các giai cấp và tầng lớp xã hội tuy có quyền lợi khác nhau, nhưng đều
căm thù thực dân, tư bản độc quyền Pháp, và đều có nguyện vọng chung trước
mắt là đấu tranh đòi được quyền sống, quyền tự do, dân chủ, cơm áo và hòa
bình.
b. Chủ trương và nhận thức mới của Đảng
- Chủ trương của Đảng, tập trung vào: Nghò quyết Hội nghò TW 2
(7/1936); Nghò quyết Hội nghò TW 3 (3/1937); Nghò quyết Hội nghò TW 4
(9/1937); Nghò quyết Hội nghò TW 5 (3/1938); Nghò quyết Hội nghò TW 6
(11/1939);
- Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh:
+ Chủ trương:
* Ban Chấp hành Trung ương xác định cách mạng ở Đơng Dương vẫn là
"cách mạng tư sản dân quyền - phản đế và điền địa - lập chính quyền của cơng