Nghệ An: Mảnh đất địa linh nhân kiệt
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt
Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Phía bắc
giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà
Tĩnh, phía tây giáp Lào, phía đông giáp
biển Đông. Trung tâm hành chính của tỉnh
là thành phố Vinh, nằm cách thủ đô Hà Nội
291 km về phía nam.
[1]
Lịch sử
Tỉnh Nghệ An
Tỉnh Nghệ An
Chính trị và hành chính
Bí thư tỉnh ủy Phan Đình Trạc
Chủ tịch HĐND Trần Hồng Châu
Chủ tịch UBND Hồ Đức Phớc
Địa lý
Tỉnh lỵ Thành phố Vinh
Miền Bắc Trung Bộ
Diện tích 16.487 km²
Các thị xã / huyện 1 thành phố, 2 thị xã và 17 huyện
Nhân khẩu
Số dân
• Mật độ
3.113.055 người
177 người/km²
Dân tộc Việt, Khơ-mú, Thái, Thổ, H'Mông
Mã điện thoại 38
Mã bưu chính 42
ISO 3166-2 VN-22
Biển số xe 37
cử nhân dưới triều Nguyễn (1807 - 1918) đã có 47 người. Khoa thi Hương Tân Mão (1891), trường
Nghệ lấy đậu 20 cử nhân, thì huyện Nam Đàn đã có 6 người đậu; khoa thi năm Giáp Ngọ (1894),
trường Nghệ lấy đậu 20 cử nhân, Nam Đàn có 8 người đậu; khoa thi hội năm Tân Sửu (1901), cả
nước có 22 người đậu tiến sĩ và Phó bảng thì Nam Đàn có 3 người là tiến sĩ Nguyễn Đình Điển, Phó
bảng Nguyễn Xuân Thưởng và Nguyễn Sinh Sắc.
Nhà cách mạng tiền khởi nghĩa Cao Bá Lân (làng Xuân Lôi, nay làng Đông Xuân - xã Diễn Xuân -
tỉnh Nghệ An, tham gia cách mạng lúc 16 tuổi, là cán bộ nòng cốt thành lập chi bộ Đảng cộng sản
đầu tiên và tham gia lãnh đạo cách mạng tháng 8/1945 tại huyện Diễn Châu. Sau cách mạng Tháng
8, ông được phân công nhiệm vụ, là Huyện đội Trưởng huyện Tương Dương. Trong một lần đi công
tác địch vận, ông bị phục kích và hy sinh năm 1949 tại Bản Na Ngoi, huyện Tương Dương (nay xã
Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn, sau 61 năm hy sinh, ngày 12/8/2010 được sự giúp đỡ của các Nhà ngoại
cảm, gia đình, dòng họ và địa phương đã quy tập đưa Cao Bá Lân về an táng tại Nghĩa Trang dòng
họ tại Xóm 4, Diễn Thành, Diễn Châu, qua đây thiết nghị Lãnh đạo Tỉnh ủy Nghệ An cần có trách
nhiệm đánh giá đúng sự hy sinh lớn lao của ông đối với sự nghiệp cách mạng của quê hương dân tộc,
để đền ơn đáp nghĩa kịp thới đúng lúc, hợp với đạo lý "uống nước, nhớ nguồn" của dân tộc ta, góp
phần tô đẹp cho lịch sử truyền thống yêu nước của quê hương, xứng đáng mảnh đất ngàn năm văn
vật.
Lịch sử tên gọi
• Thời Hùng Vương và An Dương Vương, tỉnh Nghệ An bao gồm bộ Hoài Hoan và phần bắc bộ
Cửu Đức.
• Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân.
• Đời nhà Tấn là quận Cửu Đức.
• Đời nhà Tùy là quận Nhật Nam.
• Năm 628 đổi là Đức Châu, rồi lại đổi thành Châu Hoan, lại Châu Diễn.
• Đời nhà Đường là quận Nam Đức.
• Thời nhà Ngô, tách ra khỏi quận Cửu Chân đặt làm quận Cửu Đức.
• Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê gọi là Hoan Châu.
• Năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An.
• Từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An.
• Thời Tây Sơn , gọi là Nghĩa An trấn.
xã
• Huyện Diễn Châu 1 thị trấn và 38
xã
• Huyện Đô Lương 1 thị trấn và 32
xã
• Huyện Hưng Nguyên1 thị trấn và
22 xã
• Huyện Quỳ Châu 1 thị trấn và 11
xã
• Huyện Kỳ Sơn1 thị trấn và 20 xã
• Huyện Nam Đàn 1 thị trấn và 23 xã
• Huyện Nghi Lộc 1 thị trấn và 28 xã
• Huyện Nghĩa Đàn 24 xã
• Huyện Quế Phong 1 thị trấn và 13
xã
• Huyện Quỳ Hợp 1 thị trấn và 20 xã
• Huyện Quỳnh Lưu 2 thị trấn và 41
xã
• Huyện Tân Kỳ 1 thị trấn và 21 xã
• Huyện Thanh Chương 1 thị trấn và
39 xã
• Huyện Tương Dương 1 thị trấn và
17 xã
• Huyện Yên Thành 1 thị trấn và 38
xã
Nghệ An có 479 đơn vị hành chính cấp xã gồm 462 xã phường và 17 thị trấn
Kinh tế
Công nghiệp