Nhân sinh quan trong triết học trang tử đặc điểm và ý nghĩa lịch sử - Pdf 80

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


ĐINH THẾ HOÀNG

NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC
TRANG TỬ. ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA
LỊCH SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


ĐINH THẾ HOÀNG

NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC
TRANG TỬ. ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA
LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Triết học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. TS: TRƢƠNG VĂN CHUNG

1.2.1 Cuộc đấu tranh tƣ tƣởng giữa hai trƣờng phái nhập thế - xuất thế trong
triết học Trung Quốc ..................................................................................... 25
1.2.2 Triết học của Lão Tử và Dƣơng Chu - tiền đề tƣ tƣởng nhân sinh trong
triết học Trang Tử ......................................................................................... 32
1.3. THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ TÁC PHẨM CỦA TRANG TỬ ......... 39
1.3.1. Thân thế và sự nghiệp của Trang Chu ................................................ 39
1.3.2. Về tác phẩm Nam Hoa Kinh ............................................................... 41
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM NHÂN SINH QUAN TRONG
TRIẾT HỌC TRANG TỬ. GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA
LỊCH SỬ ............................................................................................ 52
2.1. VŨ TRỤ QUAN VÀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC
TRANG TỬ................................................................................................... 52
2.1.1. Vũ trụ quan trong triết học Trang Tử .................................................. 54


2.1.2. Nhận thức luận trong triết học Trang Tử ............................................ 76
2.2. NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT
HỌC TRANG TỬ ......................................................................................... 99
2.2.1 Quan niệm của Trang Tử về con ngƣời, về cái chết và sự bất tử ...... 100
2.2.2 Quan niệm của Trang Tử về chính trị - xã hội ................................... 109
2.2.3 Phƣơng pháp nuôi dƣỡng sự sống ...................................................... 121
2.3. GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ NHÂN SINH QUAN
TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ ............................................................ 128
2.3.1. Giá trị và hạn chế .............................................................................. 128
2.3.2. Ý nghĩa của nhân sinh quan Trang Tử trong cuộc sống hiện nay .... 135
KẾT LUẬN ................................................................................................ 146
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 149


1


2

nguyên trong tiến trình phát triển lịch sử tƣ tƣởng của dân tộc. Có một số ý
kiến cho rằng Nho giáo và Phật giáo đóng vai trị chủ đạo cịn Lão giáo chỉ
đóng vai trị thứ yếu, dung hồ giữa Nho giáo và Phật giáo. Tuy nhiên vào
từng thời điểm lịch sử cụ thể cùng với Nho giáo và Phật giáo, Đạo giáo đã
có ảnh hƣởng lớn đến nhân sinh quan của một số nhà tƣ tƣởng lớn của Việt
Nam nhƣ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, vv…
Ở Việt Nam hiện nay, đạo Lão có thể đƣợc gọi bằng những tên gọi sau:
Đạo Lão, Lão giáo, Đạo giáo, Hoàng Lão, Lão Trang. Đạo Lão do Lão Tử
sáng lập, sau này đƣợc Liệt Tử (Liệt Ngự Khấu 430 TCN - 349 TCN) và
Trang Tử (Trang Chu 369 TCN - 286 TCN) phát triển thêm. Nhƣng do ảnh
hƣởng lớn của Trang Tử cho nên ngƣời đời sau thƣờng gọi là Đạo Lão Trang.
Trang Tử vừa là một nhà hiền triết vừa là một văn nhân, do vậy tác
phẩm của ông vừa chứa đựng tƣ tƣởng triết học sâu sắc vừa là những áng
văn kỳ thú. Tƣ tƣởng của Trang Tử chủ yếu đƣợc thể hiện qua Nam Hoa
Kinh, Nam Hoa Kinh bao gồm ba mƣơi ba thiên, đƣợc chia thành ba phần:
nội thiên, ngoại thiên và tạp thiên. Từ trƣớc đến nay đã có nhiều cơng trình
nghiên cứu về Trang Tử và Nam Hoa Kinh bằng các góc độ khác nhau nhƣ:
Triết học, Văn hố, Tơn giáo, Văn học, Ngơn ngữ, vv… Tuy nhiên chỉ trên
phƣơng diện Triết học thì những nghiên cứu, nhận định, đánh giá về Trang
Tử nói chung, Nam Hoa Kinh nói riêng đã rất đa dạng, phong phú và vẫn
mở ra nhiều hƣớng, nhiều vấn đề cần đƣợc nghiên cứu, làm rõ.
Cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội thì bên cạnh đó việc phát
triển về nhân sinh quan đạo đức, giáo dục vai trị nhân sinh quan của nhân
loại, trong đó có nhân sinh quan của Trang Tử, từ đó rút ra những ý nghĩa,
kinh nghiệm trong lịch sử để xây dựng xã hội hài hòa, con ngƣời hài hòa là
yêu cầu mang tính cấp thiết cần đƣợc chú trọng nghiên cứu. Chính vì những
lý do đã trình bày ở trên, tơi chọn đề tài: “Nhân sinh quan trong Triết học



4

sống văn hóa tinh thần của ngƣời Trung Hoa, trong đó có tƣ tƣởng của
Trang Tử.
Tiếp đến là cơng trình Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa (5 tập)
do GS. Dƣơng Lực chủ biên (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 2002).
Trong tập 2 của bộ sách này, tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn những
điểm cốt lõi kinh điển của các trƣờng phái triết học Trung Quốc trong đó có
Đạo gia, và các tác giả đã phân tích những tƣ tƣởng chủ đạo của các đại diện
tiêu biểu của Đạo gia nhƣ Lão Tử, Trang Tử, … Từ đó, tác giả chỉ ra những
cống hiến của họ đối với nền văn hóa Trung Hoa, cũng nhƣ đƣa ra những
đánh giá hết sức khách quan và xác đáng. Nhìn chung đây là một cơng trình
lớn về văn hóa, đƣợc tác giả dày cơng nghiên cứu.
Tiếp theo là cơng trình Lịch sử văn hóa Trung Quốc do tác giả Đàm
Gia Kiện chủ biên (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1999). Đây là một
cơng trình nghiên cứu khá toàn diện những vấn đề cơ bản của lịch sử văn
hóa Trung Quốc, bao gồm ba phần: chế độ điển chƣơng các đời, các thể loại
văn học cổ đại, triết học và tôn giáo cổ đại. Trong phần 3, chƣơng triết học
tiên Tần, tác giả đã khái quát tƣ tƣởng của các triết gia thời kỳ này, trong đó
có tƣ tƣởng của Trang Tử. Cơng trình thật sự là một tài liệu tham khảo bổ
ích, giúp cho ngƣời viết thêm một góc nhìn về tƣ tƣởng thời kỳ Xuân Thu –
Chiến Quốc.
Bên cạnh đó là, bộ Lịch sử triết học Trung Quốc (2 tập) của Phùng
Hữu Lan (Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2006) và Tinh thần triết học Trung
Quốc – Tân nguyên đạo của Phùng Hữu Lan (Nhà xuất bản khoa học xã hội,
2013) là hai cơng trình nghiên cứu lớn của học giả Phùng Hữu Lan. Qua
cơng trình lịch sử triết học Trung Quốc, tác giả đã trình bày một cách có hệ
thống tƣ tƣởng triết học Trung Quốc qua hai thời đại là Tử học và Kinh học.

Kinh” của Cung Thị Ngọc năm 2002, đây có thể nói là một cơng trình
nghiên cứu khá đầy đủ về triết học Trang Tử và những ảnh hƣởng của nó ở


6

Việt Nam. Ngồi việc phân tích bối cảnh ra đời tƣ tƣởng triết học của Trang
Tử và giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp của Trang Tử cũng nhƣ tác phẩm Nam
Hoa kinh, tác giả cũng phân tích một cách khá sâu sắc những nội dung cơ
bản trong vũ trụ luận, về nhận thức luận và nhân sinh quan của Trang Tử, từ
đó đƣa ra những đánh giá về ƣu điểm và hạn chế của từng quan niệm. Đồng
thời, tác giả cũng phân tích một cách khá sâu sắc những ảnh hƣởng của tƣ
tƣởng Lão – Trang trong hiện tƣợng “tam giáo đồng nguyên” ở Việt Nam và
những ảnh hƣởng tiêu biểu của tƣ tƣởng Trang Tử đến tƣ tƣởng và lối sống,
trên bình diện văn học và đƣa ra một số ý nghĩa đối với cuộc sống hiện nay ở
Việt Nam.
Những nhà nghiên cứu nhƣ Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Cao
Xuân Huy, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Bằng Tƣờng, Lƣơng Gia Tĩnh,
Nguyễn Đăng Thục, Trần Đình Hƣợu, Trịnh Dỗn Chính, Nguyễn Hùng
Hậu, Nguyễn Tài Thƣ, Hà Thúc Minh, Phan Văn Các, Nguyễn Tài Đông,
Nguyễn Đăng Duy, Lê Thị Lan, … đã quan tâm nghiên cứu tƣ tƣởng của
Trang Tử và ảnh hƣởng của nó đến văn hố Việt Nam ở những mức độ khác
nhau.
Tƣ tƣởng triết học của Trang Tử đã đƣợc tiếp cận, nghiên cứu từ
nhiều hƣớng khác nhau nhƣng tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:
- Thứ nhất là cơ sở lý luận và tiền đề kinh tế xã hội hình thành nên tư
tưởng của Trang Tử.
- Thứ hai là vai trò của Trang Tử trong việc phát triển và hoàn thiện
hơn tư tưởng của Đạo giáo.
- Thứ ba là tư tưởng của Trang Tử thông qua tác phẩm Nam Hoa Kinh.

bày có hệ thống các quan điểm của Trang Tử về nhân sinh. Bên cạnh đó,
luận văn cũng sẽ nêu lên một số luận cứ khoa học về sự ảnh hƣởng của tƣ
tƣởng Đạo giáo trong lịch sử tƣ tƣởng dân tộc, góp phần làm sâu sắc hơn
những giá trị văn hố và tƣ tƣởng truyền thống, đồng thời cũng gợi ra nhiều


8

vấn đề cần quan tâm khi xây dựng hệ thống quan điểm về việc hoàn thiện
đạo đức, nhân cách, lối sống và về việc xây dựng con ngƣời mới hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Luận văn sẽ góp phần làm sâu sắc hơn nhận thức về nhân sinh quan
của Trang Tử cho những ngƣời quan tâm nghiên cứu đến học thuyết của
Đạo gia.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên
cứu và giảng dạy triết học phƣơng Đông ở các trƣờng cao đẳng và đại học ở
Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn.
Luận văn bao gồm phần mở đầu, 2 chƣơng nội dung, phần kết luận và
danh mục các tài liệu tham khảo.


9

Chƣơng 1
CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NHÂN SINH QUAN
TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ
Trang Tử là nhà tƣ tƣởng lớn trong trƣờng phái Đạo gia. Ông là ngƣời
phát triển, góp phần làm hồn thiện hơn học thuyết Đạo của Lão Tử, vì thế
ngƣời đời sau thƣờng gọi chung là tƣ tƣởng Lão – Trang.

1.1.1. Điều kiện lịch sử - xã hội của Trung Quốc thời Xuân
Thu – Chiến Quốc
Sự phát triển rực rỡ của Triết học Trung Quốc cổ đại cũng là lúc xã
hội Trung Quốc bƣớc vào thời Xuân thu – Chiến quốc, thời kỳ tan rã của chế
độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên.
Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển từ triều
đại nhà Hạ, qua nhà Thƣơng, đến cuối thời Tây Chu thì bắt đầu bƣớc vào
giai đoạn khủng hoảng và ngày càng đi tới suy tàn. Xã hội Trung Quốc trải
qua một thời kỳ giao thời, từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trƣởng,
giá trị tƣ tƣởng, đạo đức mới còn manh nha và đang trên con đƣờng xác lập.
Sự biến đổi tồn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá thời kỳ này đã tạo
tiền đề cho sự giải phóng tƣ tƣởng con ngƣời thốt khỏi sự chi phối của thế
giới quan thần thoại tôn giáo, thần bí truyền thống, ảnh hƣởng sâu sắc đến
q trình phát triển của tƣ tƣởng triết học.
Thời Tây Chu, khi nhà Chu cịn thịnh, chế độ tơng pháp và trật tự lễ
nghĩa nhà Chu cịn đƣợc duy trì. Từ thời Chu Lệ Vƣơng đến Chu U Vƣơng,
mâu thuẫn nội bộ nhà Chu ngày càng trở nên gay gắt. Hơn nữa, do phải
thƣờng xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh đàn áp sự nổi dậy của các chƣ
hầu và chống lại sự xâm lăng của các bộ tộc khác, nhất là giặc Hiểm Doãn,
Tây Nhung, cùng với nạn hạn hán liên tiếp xảy ra, nạn đói lan tràn, làm cho


11

nhà Chu ngày càng lao nhanh tới bƣớc suy vong. Vị trí quyền lợi của các
tầng lớp, giai cấp trong xã hội bị đảo lộn.
Năm 781 Tr. CN, nhân vua Chu là U Vƣơng phế hoàng hậu họ Thân
và thái tử Nghi Câu, phong Bao Tự làm hoàng hậu, cha Thân hậu là Thân
hầu liên kết với giặc Tây Nhung, tấn công Hạo Kinh, thiêu huỷ kinh đô nhà
Chu, giết chết U Vƣơng dƣới chân Ly Sơn, lập thái tử Nghi Câu lên làm vua,

ruộng (gọi là thuế sơ mẫu). Nƣớc đầu tiên thi hành chế độ thuế mới là nƣớc
Lỗ (năm 594 Tr. CN). Cùng với chế độ thuế mới, các nƣớc cũng thi hành
chế độ quân sự mới. Ở nƣớc Lỗ, chế độ quân sự này gọi là “khâu giáp”,
nƣớc Trịnh gọi là “khâu phú”.
Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở thành phổ biến cùng với việc
mở rộng quan quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản
xuất thủ công nghiệp cũng đã đạt tới mức chuyên nghiệp cao hơn, thúc đẩy
một loạt các ngành nghề thủ công nghịêp phát triển, nhƣ nghề luyện sắt,
nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm... Cuối Xn thu, nƣớc Ngơ
dựng lị luyện sắt lớn đến 300 ngƣời thụt bễ, đổ than. Nƣớc Tấn trƣng thu sắt
để đúc đỉnh hình. Trong sách Chu Lễ đã viết về sự phát triển của các ngành
thợ chuyên môn rằng: “thợ mộc chiếm đến bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu
phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề
chiếm hai phần…”. Thợ thuyền tuy nhiều nhƣng vì trình độ cịn thấp nên họ
chƣa có ảnh hƣởng lớn trong xã hội.
Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thƣơng nghiệp cũng
chƣa phát triển hơn trƣớc. Tiền tệ đã xuất hiện. Trong xã hội đã hình thành
một tầng lớp thƣơng nhân giàu có và ngày càng có thế lực nhƣ Huyền Cao
(nƣớc Trịnh), Tử Cống (vốn là học trò của Khổng Tử)… Thƣơng nhân đã
có nhiều ngƣời kết giao với chƣ hầu và cơng khanh đại phu, gây nhiều ảnh
hƣởng đối với chính trị đƣơng thời. Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang
rối ren, phƣơng tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn


13

chƣ hầu cát cứ, đi lại rất khó khăn, nên việc kinh doanh địi hỏi phải do
những ngƣời có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm đảm đƣơng. Hơn thế nghề
buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất, theo quan
điểm “nông bản, thƣơng mạt”, nên nó cũng chƣa thực sự phát triển. Nhƣng

Công nƣớc Tấn, Mục Công nƣớc Tần, Trang Vƣơng nƣớc Sở. Cuối Xn
thu có thêm Ngơ Vƣơng Phù Sai và Việt Vƣơng Câu Tiễn.
Thời Xuân thu các lãnh chúa càng tăng cƣờng bóc lột nhân dân lao
động. Ngƣời dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt
của các tập đồn q tộc, cịn phải chịu sƣu thuế, phu phen, lao dịch nặng
nề. Thiên tai thƣờng xuyên xảy ra, nạn cƣớp bóc nổi lên khắp nơi làm cho
đời sống nhân dân càng thêm khốn khổ. Dân lƣu vong “đồng trong, ruộng
ngoài bỏ hoang”.
Việc các nƣớc gây chiến tranh thơn tính lẫn nhau cũng nhƣ các lãnh
chúa bóc lột tàn khốc dân chúng khơng chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng
loạt nƣớc chƣ hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự
triều hội, triều cống, chinh phạt giữa các nƣớc chƣ hầu làm cho mâu thuẫn
trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội
ngày càng tang. Đặc biệt những nghi lễ chặt chẽ, tơn nghiêm trƣớc đây đã
từng góp phần bảo vệ và làm hƣng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, đến lúc
này cũng bị xem thƣờng. Tình trạng lễ nghĩa, cƣơng thƣờng đảo lộn, đạo
đức suy đồi ở thời kỳ Xuân thu biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội nhƣ “tiếm
ngôi việt vị”, chế độ triều cống cũng bị các chƣ hầu tự ý phá bỏ. Thậm chí
các nƣớc lớn cịn mƣợn danh Thiên tử bắt các nƣớc nhỏ cống nạp và lệ
thuộc vào mình. Theo Tử Sản, mỗi lần nƣớc Trịnh cống nạp cho nƣớc Tấn
“phải dùng đến một trăm xe chở lụa và da thú, mà một trăm xe thì phải cả
ngàn ngƣời”. Trong xã hội, cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng
chia lìa thƣờng xuyên xảy ra. Tình trạng đó, theo Khổng Từ khơng phải xảy
ra một sớm một chiều mà nó đã âm ỉ, mục ruỗng từ lâu. Vì thế khi Tề Cảnh


15

Cơng và Khổng Tử bàn về chính sự, Tề Cảnh Công đã phải cay đắng thừa
nhận: “Nghĩa nhƣ vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con


chủ thiên hạ. Trong đó nƣớc Tần ở phía tây Hàm Cốc quan, sáu nƣớc kia ở
đơng ải quan đó, nên thƣờng gọi là Sơn Đông lục quốc.
Thời Chiến quốc đã có bƣớc phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Nghề
luyện sắt đã đạt tới trình độ khá cao. Đồ dung bằng sắt, đặt biệt là các công
cụ sản xuất nhƣ lƣỡi cày, liềm, cuốc, rìu, dao đƣợc sử dụng phổ biến. Các
nƣớc đều hình thành những trung tâm luyện sắt lớn nhƣ Hàm Đan nƣớc
Triệu, Đƣờng Khê nƣớc Hàn, Lâm Truy nƣớc Tề… Vì vậy mà kỹ thuật thuỷ
lợi và canh tác, khai khẩn đất đai càng phát triển. Các cơng trình thuỷ lợi
đƣợc xây dựng khắp nơi từ lƣu vực sơng Hồng Hà tới lƣu vực sơng Trƣờng
Giang, từ Biển Đơng đến vùng Tứ Xun. Kéo theo đó là sự phát triển của
nghề thủ công, nhƣ nghê làm đồ gốm, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, nghề
chạm trổ vàng bạc… Tiền tệ bằng kim loại ra đời. Thƣơng nghiệp và các
trung tâm buôn bán trao đổi hàng hố hƣng thịnh. Đơ thành các nƣớc và một
số thành ấp lập trên những trục lộ giao thông trọng yếu đã biến thành những
thành đô sầm uất nhƣ Hàm Dƣơng nƣớc Tần, Thọ Xuân nƣớc Sở, Lâm Truy
nƣớc Tề, Khai Phong nƣớc Nguỵ. Tuy nhiên, chiến tranh tàn khốc trên quy
mô lớn và lien tục giữa các nƣớc chƣ hầu đẫ làm cho đời sống nhân dân lao
động ngày càng cùng cực hơn. Mạnh Từ đã viết: “Đánh nhau giành đất, giết
ngƣời thây phơi đầy đồng. Đánh nhau giành thành, giết ngƣời thấy chất đầy
thành. – Tranh địa dĩ chiến, sát nhân doanh dã. Tranh thành dĩ chiến, sát
nhân doanh thành."4. Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá và chiến tranh
loạn lạc xảy ra liên miên đã làm cho công xã nông thôn tan rã. Chế độ chiếm
hữu tƣ nhân về ruộng đất dần trở thành quan hệ sở hữu thống trị. Thay thế
cho chế độ thu thuế dựa vào sản lƣợng thu hoạch trƣớc kia, thì nay thu thuế
tính theo số lƣợng ruộng đất. Việc mua bán ruộng đất tự do và sự phổ biến
của chế độ tƣ hữu đã mở đƣờng cho sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít
4

"爭地以戰, 殺人盈墅. 爭城以戰, 殺人盈城” (Mạnh Tử, Ly Lâu Thượng, 14).

quốc gia phong kiến trung ƣơng tập quyền đầu tiên vào năm 221 Tr. CN. Đó


18

là đế chế Tần. Biến cố này là dấu ấn ghi lại sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử
chính trị Trung Quốc. Nó gắn liền với một tƣ tƣởng triết học có ảnh hƣởng
lớn thời bấy giờ là Pháp gia mà ngƣời đại biểu xuất xắc là Hàn Phi Tử, đã
giúp nƣớc Tần thành công trong sự nghiệp thống nhất Trung Quốc.
Với chính sách hà khắc, để đạt mục đích thống nhất về tƣ tƣởng và
chính trị trong xã hội nhà Tần đã chủ trƣơng "chôn nho, đốt sách", cấm tất cả
các học thuyết đƣơng thời, chỉ cho giữ lại và truyền bá các sách về y học,
chiêm tinh, nông học, cùng với việc gây chiến tranh chinh phạt, huy động
bằng bạo lực hàng chục vạn nông dân xây Vạn Lý Trƣờng Thành, đã phá
hoại cơ sở kinh tế và vùng chính trị của nƣớc Tần, nhà Tần đứng đầu là Tần
Thuỷ Hồng đã từ làm mình sụp đổ nhanh chóng, Cuộc khởi nghĩa nơng dân
hùng mạnh do Lƣu Bang lãnh đạo đã lật đổ nhà Tần, xây dựng lên chính thể
của một triều đại mới, đó là nhà Hán, năm 206 Tr. CN.
1.1.2. Thành tựu về văn hóa và tƣ tƣởng của Trung Quốc thời
Xuân thu - Chiến quốc
Cùng với thực tiễn lịch sử xã hội, những tri thức về khoa học, văn hoá
khá phong phú của nhân dân Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc nhƣ
thiên văn, địa lý, cơ học, y học, sinh vật học, văn học... đã góp phần khơng
chỉ thúc đẩy q trình sản xuất xã hội phát triển mà còn là những tiền đề làm
nảy sinh những tƣ tƣởng triết học ở Trung Quốc cổ đại.
Về thiên văn học, vào thế kỷ thứ IV Tr. CN, nhà thiên văn Trung Hoa là
Thạch Nhân đã sáng tạo ra bảng tổng mục về các vì sao bao gồm 800 tinh tú.
Những biên niên sử ở thế kỷ II Tr. CN đã có nói tới cuộc du lịch trên bộ, trong
đó ngƣời Trung Quốc cổ đã biết sáng chế và sử dụng la bàn. Cuốn Cam thạch
tinh kinh là cuốn ghi chép các hành tinh cổ nhất trên thê giới mà ngƣời Trung

phƣơng pháp trồng trọt theo thời vụ và kỹ thuật "dẫn thuỷ nhập điền".
Về văn học, thời Tần đã để lại nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng trong
đó phải kể đến các tác phẩm nhƣ Kinh Thi 詩經, Sở Từ 楚詞. Kinh Thi gồm


20

có ba bộ phận: Phong, Nhã, Tụng. Đây là cơng trình sáng tác tập thể, do
nhiều thi nhân thuộc nhiều thế hệ khác nhau viết nên, trong đó căn bản là
những sáng tác từ nhân dân lao động. Nó phản ánh tình hình chính trị, kinh
tế, phong tục, tập qn, đời sống tình cảm và nguyện vọng của nhân dân lao
động. Nó phản ánh tình hình chính trị, kinh tế, phong tục, tập quán, đời sống
tình cảm và nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc trong thời gian từ thời
Tây Chu đến cuối thời Xuân thu. Tiếp theo Kinh Thi là bộ Sở từ của nhà thơ
yêu nƣớc vĩ đại Khuất Nguyên (??? - 280 Tr. CN).Sở từ là tập dân ca nƣớc
Sở tiếp thu nhiều ảnh hƣởng tốt của Kinh Thi, phản ánh đặc điểm của thời
Chiến quốc và của địa phƣơng - nƣớc Sở. Sở từ gồm có Cửu ca, Chiêu hồn,
Thiên uẩn, Cửu chƣơng và Ly tao.
Về sử học, thời cổ đại ngƣời Trung Quốc đã sáng tạo ra nhiều bộ sử có
giá trị. Xuân thu 春秋 là bộ biên niên sử vào hạng xƣa nhất thế giới, phản
ánh sinh động tình hình xã hội loạn lạc từ Xuân thu qua thời Chiến quốc.
Nhƣng Xuân thu không chỉ có giá trị về mặt sử học mà cịn có giá trị về cả
mặt triết học, nhất là quan điểm "chính danh, định phận" của Khổng Tử. Sau
Xuân Thu là Tả truyện 左傳, cũng là sách ghi chép những sự kiện thời Xuân
thu, Quốc ngữ 國語 cũng là sách ghi chép những sự kiện thời Xuân thi,
nhƣng Quốc ngữ khác Tả truyện ở chỗ nó chép sử theo địa phƣơng, theo khu
vực và theo từng nƣớc. Tƣơng truyền, sách Tả truyện và Quốc ngữ là do Tả
Khâu Minh làm ra. Trông bài Thái Công Sử tự đề tựa, Tƣ Mã Thiên đã viết:
"Tả Khâu bị mù, bèn làm Quốc ngữ"5. Nhƣng thực ra Quốc ngữ là cơng
trình biên soạn của nhiều mà thành.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status