Tư tưởng chính trị của aristotle trong tác phẩm chính trị đặc điểm và ý nghĩa lịch sử - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


ĐỖ THỊ THÙY TRANG

TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARISTOTLE
TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ” –
ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


ĐỖ THỊ THÙY TRANG

TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARISTOTLE
TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ” –
ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.03.01

LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHẠM ĐÌNH NGHIỆM



ng trong luận n đều c nguồn gốc, uất ứ r ràng

Ngƣời cam đoan

ĐỖ THỊ THÙY TRANG


M CL C
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
Chƣơng 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ
HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ ARISTOTLE TRONG TÁC
PHẨM CHÍNH TRỊ ....................................................................................... 22
1.1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ
ARISTOTLE TRONG TÁC PHẨM CHÍNH TRỊ ..................................22

1.1.1. Điều kiện t nhiên và kinh tế - xã hội ..................................22
1.1.2. Điều kiện văn h a - chính trị .........................................................25
1.2. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ
ARISTOTLE TRONG TÁC PHẨM CHÍNH TRỊ...................................... 34

1.2 1 Khuynh hƣớng dân ch ch nô và quý tộc ch nô.. ........................ 35
1.2.2. Tƣ tƣởng chính trị c a Plato ............................................................... 37
1.3. ARISTOTLE – CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM ........................................... 41

1.3.1. Khái quát cuộc đời và s nghiệp c a Aristotle ................................... 41
1.3 2 Kh i lƣợc một số tác phẩm chính trị tiêu biểu c a Aristotle .............. 47
1.3.3. Vị trí c a tác phẩm Chính trị trong hệ thống tƣ tƣởng chính trị
Aristotle ................................................................................................. 53

3.2. Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ ARISTOTLE ĐỐI
VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY .......................... 150

3.2.1. S kết hợp giữa chính trị và đạo đức ................................................ 151
3 2 2 Nhà nƣớc phải phát huy tinh thần chịu trách nhiệm ......................... 154
3.2.3. Phân quyền trong bộ m y nhà nƣớc nhằm đạt đến s cân bằng
quyền l c và kiểm soát quyền l c..................................................... 162
3.2.4. C ng cố và tăng cƣờng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà nƣớc với
nhân dân ............................................................................................ 172
3.2.5. Xây d ng nền giáo d c chú trọng giáo d c đạo đức và phù hợp
với chế độ chính trị ........................................................................... 177
Kết luận chƣơng 3 ..................................................................................... 183
KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................... 185
DANH M C TÀI LIỆU THAM

HẢO ...................................................... 188


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các hình thái c a ý thức xã hội thì ý thức chính trị c vai trò đặc
biệt quan trọng đối với đời sống xã hội, vì nó là hình thái ý thức xã hội gần
gũi, gắn bó, t c động thƣờng xuyên và tr c tiếp nhất đến c c cơ sở kinh tế.
Điều đ đƣợc thể hiện thông qua c c trào lƣu, c c khuynh hƣớng, các quan
điểm và các học thuyết chính trị trong lịch sử phát triển c a nhân loại từ trƣớc
đến nay. Vì vậy, kể từ khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nƣớc thì chính trị
luôn là vấn đề đƣợc các nhà triết học quan t m àn đến C c tƣ tƣởng chính trị
lần lƣợt xuất hiện, kế thừa, phát triển và thay thế lẫn nhau đã tạo nên lịch sử

sản c a quá khứ, bắt đầu từ thời cổ đại. Vì vậy, việc nghiên cứu tƣ tƣởng
chính trị c a Aristotle là hết sức cần thiết.
Hy Lạp đƣợc thế giới biết đến nhƣ là một trong những cái nôi c a nền
văn minh nh n loại. Từ thời cổ đại, chính trị đối với ngƣời Hy Lạp không chỉ
là một khoa học mà còn là nghệ thuật. Họ đã sớm khẳng định trí tuệ c a dân
tộc thông qua những thành t u hết sức r c rỡ trên nhiều lĩnh v c khác nhau
nhƣ: triết học, chính trị, văn h a, nghệ thuật, khoa học… Ngay uổi bình
minh c a nhân loại, Hy Lạp đã c một hệ thống triết học đồ sộ mà ánh hào
quang c a nó vẫn còn tỏa s ng cho đến ngày nay Đúng nhƣ K Mar (1818
– 1883) viết: “Triết học hiện đại chỉ tiếp t c cái công việc do Heraclitus và
Aristotle mở đầu mà thôi” [52, 166]. Vì thế, triết học Hy Lạp có sức hút
mạnh mẽ đối với nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu. Về điều này, F. Engels
(1820 – 1895) đã từng khẳng định: “Đ là một trong những lý do làm cho,
trong triết học cũng nhƣ trong nhiều lĩnh v c khác, chúng ta phải luôn luôn
trở lại với thành t u c a cái dân tộc nhỏ é đ , c i

n tộc mà năng l c và

hoạt động toàn diện c a n đã tạo ra cho nó một địa vị mà không một dân tộc
nào khác có thể mong ƣớc đƣợc trong lịch sử phát triển c a nhân loại” [51,
491]. Aristotle (384 – 322 tr. CN) là nhân vật để lại dấu ấn đậm nét nhất trên
ƣớc đƣờng mà ngƣời Hy Lạp đã chinh ph c Ông đƣợc suy tôn là “ ộ óc
ch khoa” c a nền triết học và khoa học Hy Lạp cổ đại.


3

Trong hệ thống triết học c a Aristotle, tƣ tƣởng chính trị chiếm vị trí
đặc biệt quan trọng. Trong lĩnh v c chính trị, Aristotle đã c nhiều công trình
khảo cứu công phu mà tiêu biểu nhất là tác phẩm Chính trị1. Chính trị trở

Những thành t u mà ngƣời Hy Lạp đạt đƣợc là một trong những đề tài
hấp dẫn khiến cho nhiều học giả phải tập trung nghiên cứu Tƣ tƣởng chính
trị Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là tƣ tƣởng chính trị c a Aristotle có những giá trị
hết sức to lớn không những đối với c c nƣớc phƣơng T y mà còn đối với
chúng ta hiện nay. Chính vì thế, n đã thu hút đƣợc s quan tâm c a đông
đảo các nhà khoa học ở trong và ngoài nƣớc. Chúng ta có thể khái quát các
công trình nghiên cứu thành các nhóm sau:
Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu đặt tư tưởng chính trị
Aristotle trong dòng chảy của lịch sử
Đầu tiên phải kể đến các công trình nghiên cứu tƣ tƣởng chính trị
Aristotle trong lịch sử văn minh thế giới. Đã c rất nhiều công trình nghiên
cứu về lịch sử văn minh thế giới đƣợc dịch sang tiếng Việt, chúng ta phải kể
đến c c công trình nhƣ: Văn minh phương Tây (Tập 1) c a C. Brinton, J. B.
Christopher, R. Lee Wolff (Bản dịch nguyễn Văn Lƣơng Kim văn, Sài Gòn,
1971); Lịch sử văn minh phương Tây c a tập thể tác giả Mortimer Chambers,
Barbara Hanawalt, David Herlihy, Theodore K. Rabb Isser Woloch, Raymond
Grew (bản dịch c a Lƣu Văn Hy, Nguyễn Đức Phú và nhóm Trí Tri, Nxb.
Văn h a thông tin, Hà Nội); Nền tảng văn minh phương Tây c a các tác giả
Mark Kishlansky, Patrick Geary, Patricia O’Brien (Lê Thành dịch, N

Văn

hóa thông tin, Hà Nội, 2005); Những nền văn minh thế giới – thế giới cổ đại
do Trung tâm UNESCO dịch thuật (Ngô Văn Tuyển –Thái Hoàng chỉnh lý bổ
sung, N

Văn h a thông tin, Hà Nội, 2006). Nhìn chung, trong các công

trình trên, các tác giả đã c một c i nhìn kh ch quan và đứng trên nhiều giác
độ kh c nhau để nghiên cứu các vấn đề c a lịch sử. Trong việc tái hiện lại các

trị, thì cần phải có cách tiếp cận triết học – chính trị mới có thể hiểu sâu sắc
đƣợc cái lớn lao, vĩ đại c a nhà tƣ tƣởng.
Tiếp đến là các công trình nghiên cứu tƣ tƣởng chính trị c a Aristotle
trong lịch sử triết học. Các nhà kinh điển c a ch nghĩa M c – Lênin đã ành
s quan t m đến triết học Hy Lạp, trong đ c Aristotle
Trong Bài xã luận báo“Kolnische Zeitung số 179”, K Mar đã chỉ ra


6

vị trí c a Aristotle trong văn h a Hy Lạp, cũng nhƣ đ nh gi s ảnh hƣởng
c a Aristotle đối với triết học hiện đại. Cùng với những công trình nghiên
cứu khác c a mình về triết học Hy Lạp qua những nhà triết học tiêu biểu
nhƣ: Socrates (470 – 399 tr. CN), Plato (427 – 347 tr. CN), Aristotle, Epicure
(341 – 270 tr. CN)…, Mar đã đi đến khẳng định: “Ngƣời Hy Lạp sẽ mãi
mãi là những ngƣời thầy c a chúng ta…” [58, 218].
Aristotle đƣợc biết nhƣ một biểu tƣợng c a nền văn minh Hy Lạp.
Trong các tác phẩm Chống Đuyrinh (viết vào th ng 9 năm 1876 đến tháng 6
năm 1878) và Biện chứng của tự nhiên (viết ch yếu vào những năm 1873 –
1883 và phần bổ sung viết vào những năm 1885 – 1886), F Engels đã ph n
tích vai trò c a nền văn minh Hy Lạp, “tinh thần Hy Lạp” đối với s phát
triển c a lịch sử tƣ tƣởng nhân loại và đƣa ra đ nh gi : “…từ các hình thức
muôn hình muôn vẻ c a triết học Hy Lạp, đã c mầm mống và đang nảy nở
hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này” [55, 491].
Trong Bút kí triết học, V.I.Lenin (1870 – 1824) cũng đã giành s quan
tâm và phân tích một cách sâu sắc về triết học Aristotle cả về mặt tích c c
lẫn hạn chế; qua đ , đ nh gi mức độ ảnh hƣởng c a Aristotle đối với các
triết gia ở thời kỳ sau, đặc biệt là đối với Hegel (1770 – 1831). Thông qua
việc phân tích những tƣ tƣởng cũng nhƣ những đ ng g p c a các tên tuổi lớn
c a ch nghĩa uy t m trong lịch sử triết học nhƣ: Socrate, Plato, Aristotle,

v c mà triết gia này nghiên cứu, từ sinh vật học, siêu hình học, tâm lý
học…đến đạo đức học và chính trị học; đồng thời đƣa ra những nhận xét và
đ nh gi riêng về tƣ tƣởng chính trị c a Aristotle. Ông viết: “Lý tƣởng c a
Aristotle thiên về một đời sống khá bình thản, quá ôn hòa, một đời sống mà
ngƣời ta thƣờng gán cho giai cấp thƣợng lƣu ở Anh Cát Lợi” [18, 93]. Cuốn
s ch ƣờng nhƣ là những lời kể c a tác giả về các triết gia, xoay quanh cuộc
đời và những tƣ tƣởng c a họ, d a trên rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau,
chứ chƣa thật s đi s u ph n tích c c vấn đề. Tuy nhiên, cuốn sách vẫn là tài
liệu tham khảo khá bổ ích, cung cấp cho chúng ta những kiến thức về triết
học thông qua cái nhìn c a một nhà nghiên cứu phƣơng T y
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình c a các tác giả ngƣời nƣớc ngoài
đã đƣợc dịch sang tiếng Việt, tiêu biểu nhƣ: Lịch sử triết học và các luận đề
c a Samuel Enoch Stumpf (N

Lao động, Hà Nội, 2004, Đỗ Văn Thuấn và

Lƣu Văn Hy iên ịch), Các trường phái triết học trên thế giới c a David


8

Ecooper (N

Văn h a thông tin, Hà Nội, 2005), Những vấn đề cơ bản của

triết học c a S.E.Frost, JR., Ph.D. (Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2008),
Nhập môn triết học phương Tây c a Samuel Enoch Stumpf và Donal C. Abel
(Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, Lƣu Văn
Hy biên dịch).
Hầu hết c c công trình trên đều do tác giả Lƣu Văn Hy iên ịch. Ông

ngƣời đọc c đƣợc những kiến thức nền tảng về những tƣ tƣởng chính trị nói
riêng và triết học Aristotle nói chung. Tuy nhiên, trong công trình này, tác
giả đề cập đến tƣ tƣởng chính trị không nhiều mà chỉ em tƣ tƣởng chính trị
nhƣ một nội dung trong triết học, thông qua việc đề cập đến tƣ tƣởng chính
trị để làm nổi bật tƣ tƣởng triết học c a triết gia vĩ đại này.
Công trình Triết học Hy Lạp cổ đại c a tác giả Đinh Ngọc Thạch (Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999). Với 250 trang sách, tác giả đã trình ày
khái quát toàn bộ tƣ tƣởng c a triết học Hy Lạp một cách có hệ thống, rõ ràng
và chặt chẽ theo từng thời kỳ phát triển. Trong chƣơng thứ hai, tác giả bàn về
c c trƣờng phái triết học thời kỳ nền dân ch Athens. Trong phần này, tác giả
dành cho Aristotle s phân tích khá toàn diện từ bản thể luận, nhận thức
luận… đến những tƣ tƣởng chính trị c a ông. Điểm đặc biệt c a công trình
này so với các công trình khác là ở chỗ tác giả đã chỉ ra s tƣơng đồng và
khác biệt trong học thuyết đạo đức, chính trị giữa Aristotle và Plato. Tuy chỉ
mới là những nét cơ ản nhƣng những gì mà tác giả vạch ra đã gợi mở nhiều
điều trong quá trình nghiên cứu tƣ tƣởng chính trị c a Aristotle, là cơ sở để
tiến s u hơn trong việc so s nh, đối chiếu từng luận điểm c a hai thầy trò
Plato và Aristotle. Nhƣ vậy, đ y th c s là một công trình nghiên cứu khá
công phu, tác giả tỏ ra khá sắc sảo trong việc phân tích và giải quyết các vấn
đề mà triết học Hy Lạp đã đặt ra.
Công trình Lịch sử triết học Tây phương, gồm 3 tập c a Lê Tôn
Nghiêm (t i ản, N

Thành phố Hồ Chí Minh, 2000) Đ y là công trình kh

nổi tiếng gồm 3 tập, tập trung nghiên cứu về triết học phƣơng T y từ khởi
th y cho đến thời trung cổ. Trong tập 2, tác giả đã nghiên cứu về triết gia
Aristotle từ tiểu sử, c c trƣớc t c cho đến những lĩnh v c khác nhau mà triết




11

cho ngƣời nghiên cứu có thể so s nh, đối chiếu và nâng cao khả năng ngoại
ngữ c a mình Trong đ , triết học Aristotle đƣợc tác giả nghiên cứu với
nhiều nội dung khác nhau, từ cuộc đời và tác phẩm, phƣơng ph p nghiên
cứu, siêu hình học, vật lý và thiên văn học, đạo đức, logic học và chính trị
học. Tác giả đã ành hẳn một phần riêng biệt để nhận ét và đ nh gi triết
học Aristotle. Với những nội ung đã nghiên cứu, tác giả đã đi đến khẳng
định “học thuyết về chính trị c a Aristotle có tính th c tế cao…c thể đƣợc
nghiên cứu vận d ng trong thời đại ngày nay” [41, 159]. Đ y là nguồn tài
liệu hay và có giá trị cao ph c v cho việc nghiên cứu triết học nói chung và
triết học Aristotle nói riêng.
Ngoài ra, còn có các tác giả khác viết về tƣ tƣởng Aristotle nói chung
và tƣ tƣởng chính trị nói riêng. Triết lý Hy Lạp thời bi kịch c a Nietzsche
(Sài Gòn, 1975, bản dịch c a Trần Xuân Kiêm); Lịch sử triết học do Bùi
Thanh Quất và Vũ Tình đồng ch biên (Nxb. Giáo d c, Hà Nội, 2000); Triết
học cổ Hy Lạp giản yếu c a Hào – Nguyên Nguyễn Hóa (Nxb. Thanh Niên,
thành phố Hồ Chí Minh, 2002); Đại cương lịch sử triết học phương Tây c a
Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn (Nxb. Tổng hợp thành phố
Hồ Chí Minh, 2006); Triết học Hy Lạp cổ đại c a Trần Văn Phòng (N



luận chính trị, Hà Nội, 2006); Đại cương triết học Tây Phương c a Nguyễn
Ƣớc (Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2009).
Nhìn chung, c c công trình trên đều là s nỗ l c, dày công nghiên cứu
c a các tác giả nhằm trang bị cho chúng ta một kiến thức nền hết sức cơ ản
về toàn bộ lịch sử triết học C c trƣờng phái cùng với những luận điểm triết
học đƣợc các tác giả trình bày theo trình t thời gian và logic vấn đế hết sức

c a Aristotle đã đƣợc Benjamin Jowett dịch sang tiếng Anh năm 1999
Trong đ , t c giả không chỉ giới thiệu nguyên văn t c phẩm bằng tiếng Anh,
mà còn chú giải những tƣ tƣởng chính trị c a Aristotle Chúng tôi đã sử d ng
bản dịch này để tìm hiểu, ph n tích tƣ tƣởng chính trị c a Aristotle; có so


13

sánh và đối chiếu với toàn bộ hệ thống tƣ tƣởng c a ông.Vừa qua, tác phẩm
Chính trị c a Aristotle đã đƣợc GS Nông Duy Trƣờng dịch sang tiếng Việt
thành Chính trị luận vào th ng 7 năm 2012 Đến đầu năm 2013, ản dịch đã
đƣợc xuất bản tại Việt Nam Điều đ chứng tỏ việc nghiên cứu và tìm hiểu
tƣ tƣởng chính trị Aristotle đã đƣợc giới nghiên cứu quan tâm rộng rãi.
Trên thế giới, nghiên cứu chuyên sâu về tƣ tƣởng chính trị Aristotle,
tiêu biểu có các công trình sau:
Công trình “Nature, function, and capability: Aristotle on political
distribution” c a Martha C. Nussbaum (Department of Philosophy, Brown
University Providence, R.I. 02912). Trong bài viết này, tác giả đã tập trung
ph n tích quan điểm c a Aristotle trong việc phân bố c a c c cơ quan nhà
nƣớc, các pháp quan trong một thị quốc. Theo ông, những thành phố (thành
bang c a ngƣời Hy Lạp) tùy theo quy mô lớn nhỏ mà bố trí, sắp xếp cho hợp
lý để có thể mang đến s tốt đẹp cho ngƣời dân. Tác giả đặc biệt chú đến cơ
sở và m c đích c a việc phân phối chính trị để từng thị quốc, từng cá nhân
sinh sống ở đ đạt đến điều kiện c a một đời sống tốt, một đời sống có hạnh
phúc (nhƣ những gì thể hiện trong đạo đức học c a ông). Trong công trình
này, tác giả đã ắt đầu từ việc nêu lên s cần thiết phải phân bổ c c cơ quan
và các ph p quan để đạt đến s sắp xếp theo trật t và ổn định Điểm kh độc
đ o là công trình đã c s liên hệ, so s nh, đối chiếu với cách sắp xếp và
phân bổ mà Plato thể hiện trong tác phẩm Nền cộng hòa để lý giải tại sao cả
hai thầy trò đều chọn politya nhƣ một hình thức nhà nƣớc lý tƣởng để có thể

kết nối đi từ tác phẩm Đạo đức học Nichomachus đến Chính trị để thấy đƣợc
s thống nhất giữa đạo đức và chính trị trong tƣ tƣởng c a Aristotle. Với cách
tiếp cận này c a tác giả đã giúp chúng tôi hiểu đƣợc mối quan hệ chặt chẽ
giữa đạo đức và chính trị, c thể hơn là luận giải đƣợc mối quan hệ giữa “đức
hạnh”, “c i thiện”, “lợi ích tối cao”… Tuy nhiên, điểm cần quan tâm trong kết
luận c a Aristotle về ch đề công bằng là bản chất c a nhà nƣớc hay cộng
đồng chính trị và làm thế nào nó sẽ đƣợc tổ chức và quản lý tốt. Tác giả đã kết
nối, thấy đƣợc mối liên hệ từ Aristotle đến các ch đề cơ ản trong triết học
chính trị và đạo đức hiện đại; bởi vấn đề công bằng chiếm vị trí đ ng kể trong


15

các tác phẩm c a ông và ƣờng nhƣ n cũng là một trong những vấn đề hết
sức quan trọng trong triết học chính trị và đời sống chính trị.
Nhƣ vậy, giá trị lớn nhất c a công trình này là tác giả đã ph n tích r
lý thuyết về s công bằng c a Aristotle và thông qua vấn đề hết sức nổi bật
đ để vạch ra mối liên hệ giữa Aristotle với thời đại hôm nay. Song tác giả
ƣờng nhƣ qu tập trung vào việc phân tích vấn đề công bằng ở khía cạnh
phân bổ để đạt đến s tổ chức và quản lý tốt, mà chƣa quan t m nhiều đến
những khía cạnh kh c nhƣ: vai trò c a nhà nƣớc trong việc đảm bảo công
bằng, những nguyên tắc để th c hiện công bằng và giáo d c cho ngƣời dân
hiểu nhƣ thế nào là công bằng? v v…, ởi đ là những vấn đề đƣợc hiện diện
trong các tác phẩm c a Aristotle. Tiếp thu và kế thừa kết quả nghiên cứu c a
công trình, chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề công bằng ở nhiều khía cạnh khác
nhau, song cũng chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu c a mình trong nội dung
tác phẩm Chính trị.
Công trình The concise Oxford dictionary of politics (Iain McLean and
Alistair McMillan (2003), Oxford; New York: Oxford University Press).
Đ y là một công trình hết sức đồ sộ đƣợc trình bày ở dạng từ điển nhằm làm

công trình chính trị c a Aristotle, việc phân loại các hình thức cai trị,
nghiên cứu phạm vi và tính chất c a quyền l c, cũng nhƣ s chuyển hóa
quyền l c…thông qua đ đã đ nh gi s vĩ đại c a triết gia này. Các tác
giả đã đứng trên lập trƣờng c a tƣ tƣởng chính trị hiện đại để nhận ét tƣ
tƣởng chính trị c a Aristotle cả mặt tích c c lẫn hạn chế và cho rằng “nếu
chúng ta bắt đầu bằng những thiếu sót, chúng ta sẽ nhận thấy rằng các
thiếu s t đ chịu t c động, nhất là c a những hoàn cảnh, dù là thiên tài,
Aristote cũng không thể không chịu ảnh hƣởng” Tuy vậy nhƣng c c t c
giả đ nh gi rất cao những giá trị mà Aristotle đã tạo ra, đặc biệt là ở s
c n đối, hài hòa do quan điểm “trung ung” c a ông chi phối. Tác giả đã
đặt tƣ tƣởng chính trị trong mối quan hệ với đạo đức học và kinh tế học.


17

Chính vì thế, công trình đã mang lại cho ngƣời đọc một cái nhìn toàn diện
và sâu sắc đối với c c tƣ tƣởng chính trị phƣơng T y n i chung và tƣ
tƣởng chính trị Aristotle nói riêng.
Công trình Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới do các học giả
nổi tiếng c a Liên Xô biên soạn, đã đƣợc Lƣu Kiếm Thanh và Phạm Hồng
Thái dịch (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993) đã nghiên cứu kh đầy đ
về lịch sử tƣ tƣởng chính trị ở cả phƣơng Đông và phƣơng T y
Ở chƣơng 2, c c t c giả đã tập trung phân tích khá sâu sắc và có hệ
thống các học thuyết chính trị Hy Lạp cổ đại Tƣơng ứng với c c giai đoạn
lịch sử, công trình đã chia tƣ tƣởng chính trị Hy Lạp thành ba thời kỳ khác
nhau: tƣ tƣởng chính trị thời kỳ hình thành quốc gia chiếm hữu nô lệ, tƣ
tƣởng chính trị trong điều kiện phát triển cao và suy thoái c a nền dân ch
chiếm hữu nô lệ và tƣ tƣởng chính trị thời đại văn minh cổ Hy Lạp. Những
vấn đề đ ng quan t m trong tƣ tƣởng chính trị c a Aristotle nhƣ vấn đề nhà
nƣớc, về nguyên tắc sở hữu cá nhân, về thiết chế nhà nƣớc lý tƣởng… đều

cho ngƣời đọc những kiến thức hết sức quý giá về tƣ tƣởng chính trị c a hai
đại diện tiêu biểu ở phƣơng T y và phƣơng Đông cổ đại này. Ngoài ra, tác
phẩm không chỉ dừng lại ở việc phân tích sâu sắc những tƣ tƣởng c a hai
nhà triết học mà còn có những đ nh gi hết sức

c đ ng, rất có giá trị về tƣ

tƣởng chính trị thời kỳ này.
Công trình Tư tưởng chính trị Aristotle trong tác phẩm Chính trị luận
c a Lƣu Văn Thắng (luận văn thạc sỹ chính trị học, Học viện Báo chí và
tuyên truyền, Hà Nội, 2014) đã tập trung nghiên cứu tƣ tƣởng chính trị ch
yếu trong Chính trị luận ở các nội ung nhƣ: con ngƣời chính trị, pháp luật;
các loại hình thể chế chính trị và nguyên nhân suy thoái các thể chế; tổ chức
quyền l c nhà nƣớc. Từ đ , t c giả rút ra những giá trị và hạn chế trong tƣ
tƣởng c a ông Tuy đ y là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tƣ tƣởng
chính trị c a Aristotle trong Chính trị luận nhƣng lại chƣa ao qu t đƣợc đầy


19

đ các vấn đề c a đời sống chính trị mà triết gia đã thể hiện trong tác phẩm.
Ở cấp độ luận văn thạc sỹ, tác giả cũng chƣa rút ra đƣợc ý nghĩa lịch sử c a
tƣ tƣởng chính trị Aristotle đối với lịch sử tƣ tƣởng chính trị phƣơng T y và
với đời sống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Công trình Quan niệm của Aristotle về nhà nước trong tác phẩm Chính
trị luận c a Trịnh Quang Dũng (luận văn thạc sỹ ngành Triết học, trƣờng Đại
học Khoa học Xã hội và Nh n văn Hà Nội, 2014) cũng tập trung phân tích
vấn đề trọng tâm c a Chính trị luận là vấn đề về nhà nƣớc Vì đ y là công
trình luận văn thạc sỹ nên tác giả đã giới hạn phạm vi nghiên cứu ở vấn đề
mà mình l a chọn. Mặc dù là s thể hiện chƣa đầy đ về nội ung tƣ tƣởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status