Tư tưởng của trần quốc tuấn đặc điểm và ý nghĩa lịch sử (bản tóm tắt) - Pdf 33

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------000------

PHẠM TRƯỜNG SINH

TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.80.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH - 2015


2

Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học:
PGS, TS. Trịnh Doãn Chính
TS. Nguyễn Anh Quốc
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hội đồng:

thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” 3. Để làm được điều đó, chúng ta cần tiếp
tục nghiên cứu lý luận, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời tiếp thu, kế
thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của lịch sử dân tộc, đặc biệt là
bản sắc văn hóa dân tộc “những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước”4; cái “tạo nên cốt cách, tinh thần, bản lĩnh và sức mạnh
trường tồn của dân tộc trong lịch sử và sức mạnh nội sinh trong công cuộc đổi
mới” hôm nay, tạo thành sức mạnh tổng hợp gồm kinh tế, chính trị và văn hóa
nhằm góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước và xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội.
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ
nước. Thực tiễn lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta không chỉ kết
tinh nên truyền thống lịch sử vẻ vang, mà qua đó còn đúc kết, để lại cho chúng ta
nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta, thời kỳ nhà Trần (1226 - 1400) được xem là một trong những giai đoạn
phát triển cao của văn hoá Đại Việt. Đó là một nền văn hoá, là kết quả của quá
trình đấu tranh, xây dựng và phát triển bền bỉ, lâu dài của dân tộc ta trên cơ sở kế
thừa và phát triển tinh hoa các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam.
Trong suốt 174 năm tồn tại, vương triều Trần không chỉ đạt tới sự phát triển
rực rỡ của nền văn hóa Đại Việt, mà còn để lại những trang sử sáng ngời với
những thành tựu và chiến công vĩ đại trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
1

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 70.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ thứ năm Ban chấp Trung ương khóa VIII, Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 54.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ thứ năm Ban chấp Trung ương khóa VIII, Sđd, tr. 55.
4
Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ thứ năm Ban chấp Trung ương khóa VIII, Sđd, tr. 56.
2

phát triển tư tưởng của Trần Quốc Tuấn.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu tư tưởng của Trần Quốc Tuấn ở góc độ
văn học như: Viện Văn học, Thơ văn Lý - Trần, t. 2, quyển thượng, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1989; Lịch sử tư tưởng Việt Nam (Văn tuyển), t. 2, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao
Chương, Văn học Việt Nam thế kỷ thứ X, nửa đầu thế kỷ XIII, t. 1, Nxb. Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978. Các công trình này đã tập trung giới
thiệu các tác phẩm và thân thế sự nghiệp, đánh giá về vị trí, vai trò của Trần
Quốc Tuấn đối với cuộc kháng chiến quân Nguyên - Mông xâm lược.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu tư tưởng của Trần Quốc Tuấn ở góc độ
tư tưởng và văn hoá như: Trương Văn Chung - Doãn Chính, Tư tưởng Việt Nam


5

thời Lý - Trần, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Nguyễn Hùng Hậu Doãn Chính - Vũ Văn Gầu, Đại cương lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam, t. 1,
Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2002; Doãn Chính (Chủ biên), Lịch sử tư tưởng
triết học Việt Nam - từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2013; Viện Triết học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam văn tuyển,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Viện Sử học, Binh thư yếu lược, (Bản
dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh và Đỗ Mộng Khương, Đào Duy Anh hiệu đính),
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977; Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Nam Định - Viện
Lịch sử quân sự Việt Nam, Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn
và quê hương Nam Định, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000. Các công
trình trên chủ yếu đề cập đến những nội dung tư tưởng chủ yếu của Trần Quốc
Tuấn như: tư tưởng yêu nước, tư tưởng chính trị, tư tưởng quân sự, nghệ thuật
quân sự từ góc độ những hoạt động lý luận và thực tiễn của ông với nhiều nhận
định, đánh giá mang tính chất tổng quát về sự vận dụng những tư tưởng quân sự
ông trong việc đánh thắng kẻ thù xâm lược.
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Trần Quốc Tuấn ở

phẩm tiêu biểu như: Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền
thư và Lâm chung di chúc.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, luận án được thực
hiện dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, tác giả còn sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy
nạp, lôgíc và lịch sử, so sánh lịch sử để nghiên cứu và trình bày luận án.
5. Cái mới của luận án
Một là, luận án đã trình bày, phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng chủ yếu
của Trần Quốc Tuấn, góp phần làm sâu sắc tư tưởng chính trị của ông về lòng
yêu nước, về nhân dân và tư tưởng quân sự.
Hai là, luận án đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong tư tưởng của Trần
Quốc Tuấn; đó là tính kế thừa, tính dân tộc và tính nhân sâu sắc. Từ đó luận án
đã rút ra ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng của ông về mặt lý luận và thực tiễn đối
với quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam và công cuộc kháng chiến
chống quân Nguyên - Mông xâm lược.
Ba là, luận án đã rút ra những bài học lịch sử trong tư tưởng của Trần
Quốc Tuấn đã được kế thừa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, thời đại Hồ
Chí Minh và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay. Đó là bài học về
nêu cao tinh thần độc lập tự chủ và ý thức tự cường dân tộc, bài học phát huy
lòng yêu nước, dân là gốc và đoàn kết toàn dân tộc, bài học về quân sự.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học, luận án đã góp phần làm rõ những tư tưởng cơ bản, đặc
điểm, ý nghĩa và bài học lịch sử trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn qua các vấn đề
về lòng yêu nước; tinh thần độc lập tự chủ, tự cường dân tộc; phát huy sức mạnh
đại đoàn kết dân tộc; trọng dân, thân dân, “khoan sức cho dân”, dân là gốc; về tổ
chức và xây dựng quân đội.
Về ý nghĩa thực tiễn, trên cơ sở trình bày, phân tích một cách có hệ thống
tư tưởng của Trần Quốc Tuấn, luận án rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử

Các vua nhà Trần chú trông củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyền
vững mạnh, tăng cường tiềm lực quân sự nhằm bảo vệ đất nước và chống giặc
ngoại xâm. Về kinh tế, hệ thống điền trang, thái ấp thời kỳ nhà Trần một mặt góp
phần phát triển kinh tế nông nghiệp, ổn định định đời sống nhân dân; mặt khác,
củng cố bộ máy chính quyền nhà nước, xây dựng quân đội vững mạnh nhằm bảo
vệ lợi ích của quý tộc, tôn thất nhà Trần. Về chính trị xã hội, nhà nước phong
kiến trung ương tập quyền thời Trần được tổ chức chặt chẽ, xã hội tồn tại hai
mâu thuẫn cơ bản sau: mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần với
tầng lớp địa chủ quan liêu, mâu thuẫn giữa quý tộc tôn thất nhà Trần với nhân
dân mà chủ yếu là nông dân. Cùng với việc hoàn thiện thể chế chính trị, luật
pháp, nhà Trần mở Giảng võ đường để các võ quan học binh pháp, rèn luyện võ
nghệ, xây dựng quân đội tinh nhuệ. Trần Quốc Tuấn viết hai bộ binh pháp: Binh
thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư để huấn luyện kỹ thuật quân sự cho


8

các tướng sĩ. Hai là, nhu cầu củng cố sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để chống
ngoại xâm, trước hết là chống quân Nguyên - Mông xâm lược, bảo vệ độc lập
chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc. Thực tiễn chính trị - xã hội Đại Việt
trong thế kỷ XIII đã đặt ra hai vấn đề lớn: nhu cầu củng cố, xác lập củng cố
vương triều Trần, bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến; nhu cầu xây dựng nhà
nước phong kiến độc lập về chính trị, văn hóa, tư tưởng, phát huy tinh thần độc
lập tự chủ, đấu tranh chống lại ảnh hưởng của phương Bắc và giữ vững độc lập
dân tộc. Trong điều kiện đất nước có giặc ngoại xâm, mâu thuẫn giữa tầng lớp
quý tộc nhà Trần với nhân dân lao động và mâu thuẫn giữa toàn bộ dân tộc Việt
Nam, trong đó có cả quý tộc vương triều Trần với sự xâm lăng, nô dịch của quân
Nguyên - Mông xâm lược là hai mâu thuẫn chủ yếu. Trước nhu cầu cấp thiết
phải huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc chống quân xâm lược, nhà Trần
đã giải quyết mâu thuẫn đó bằng cách hy sinh lợi ích giai cấp, đặt lợi ích dân tộc

dân tộc, nhà Trần đã xác lập một nền giáo dục khoa cử độc lập đánh dấu một
bước phát triển mới trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam cũng như trong
lịch sử văn hoá của dân tộc ta. “Nền văn hoá thời Trần đã đạt đến một trình độ
cao. Đỉnh cao nhất của nền văn hoá đó là khoa học và nghệ thuật quân sự của
nhà chiến lược thiên tài Trần Quốc Tuấn. Một số ngành khoa học khác như thiên
văn, lịch pháp, y học cũng có những thành tựu đáng kể” 5.
1.2. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN

1.2.1. Giá trị tư tưởng và văn hoá truyền thống Việt Nam với sự hình
thành tư tưởng của Trần Quốc Tuấn
Tư tưởng của Trần Quốc Tuấn một mặt phản ánh và chịu chi phối bởi đặc
điểm lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt và thực tiễn của ba cuộc kháng
chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược trong thế kỷ XIII; mặt khác là sự kế
thừa những giá trị tư tưởng và văn hoá truyền thống Việt Nam được vun đắp nên
qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. “Đó là lòng yêu
nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn
kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa
tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử,
tính giản dị trong lối sống”6. Trong các truyền thống đúc kết đó, Trần Quốc
Tuấn đã tiếp thu những vấn đề cốt yếu sau: Một là, ý thức quốc gia dân tộc, ý chí
độc lập dân tộc; Hai là, lòng yêu nước nồng nàn; Ba là, tinh thần đoàn kết dân
tộc, ý thức gắn kết cộng đồng cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc. Trên cơ sở
tiếp thu, kế thừa tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc, ông đã phát triển, làm
phong phú, sâu sắc thêm nội dung của nó qua tư tưởng yêu nước, trọng dân, thân
dân, “khoan sức cho dân”, dân là gốc, đánh giặc giữ nước dựa vào dân, thể hiện
trong Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Lâm chung di chúc.
1.2.2. Sự ảnh hưởng của “Tam giáo” với việc hình thành tư tưởng của
Trần Quốc Tuấn
Cùng với việc kế thừa, phát triển các giá trị tư tưởng và văn hóa truyền
thống Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước

Quốc Tuấn cũng đề cập các phạm trù đạo đức nhân sinh như: “nhân”, “lễ”,
“nghĩa”, “trí”, “tín”, “trung”, “hiếu”, “nhân nghĩa”, “vinh”, “nhục”, thế - thời….
Ông tiếp thu Nho giáo trên tinh thần dân tộc và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Thứ ba, cùng với Nho giáo và Phật giáo, Lão giáo Việt Nam thời Trần hoà vào
tín ngưỡng dân gian tạo nên sự dung hợp “Tam giáo” đặc sắc đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần của nhân dân, tôn vinh những người có công
lớn với dân tộc. Trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn sự ảnh hưởng của Lão
giáo chưa rõ nét. Ông vốn xuất thân từ dòng võ tướng, nhưng sống chan hòa,
bình dị, hoà đồng với tướng sĩ và gần gũi với nhân dân. Ông có lối sống bình
dị, phong thái ung dung tự tại, coi nhẹ hình thức, không xem trọng danh lợi và
hòa nhập với thiên nhiên.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tư tưởng chính trị, quân sự của Trần Quốc Tuấn một mặt phản ánh và
chịu chi phối bởi đặc điểm điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt
và thực tiễn của ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược
trong thế kỷ XIII; mặt khác là sự kế thừa những giá trị tư tưởng chính trị, triết
học, quân sự và văn hoá truyền thống Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử
hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhất là tinh thần đoàn kết, lòng
yêu nước nồng nàn, ý thức quốc gia dân tộc, ý chí độc lập dân tộc.
7

Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2009, tr. 357.


11

Có thể nói, những nhu cầu của xã hội Đại Việt và thực tiễn của các cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược đầy gian khổ mà hào hùng là
những tiền đề giúp cho Trần Quốc Tuấn hình thành nên tư tưởng yêu nước, tư

Quốc Tuấn từ giai đoạn nhận thức sâu sắc về độc lập dân tộc, bước sang giai
đoạn quyết tâm đánh thắng giặc bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 9 năm 1257, vua Trần Thái Tông “xuống
8

Thơ văn Lý - Trần, t. 2, Sđd, tr. 600.


12

chiếu lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự
tiết chế của Trần Quốc Tuấn”9. Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên
- Mông lần thứ hai và lần thứ ba, Trần Quốc Tuấn được trao quyền tổng chỉ huy
quân đội. Trong giai đoạn này, tư tưởng cơ bản của ông được thể hiện trong
Hịch tướng sĩ, Trả lời nhà vua hỏi về thế giặc nổi bật là lòng yêu nước nồng
nàn, ý chí căm thù giặc sâu sắc “ 臣請先斬臣頭然後降賊. 臣頭若在社稷 猶存.
願陛下無憂. 臣沮有破賊之策. Thần thỉnh tiên trảm thần đầu, nhiên hậu hàng tặc.
Thần đầu nhược tại, xã tắc do tồn. Nguyện bệ hạ vô ưu. Thần tự hữu phá tặc chi
sách. Thần xin trước hãy chém đầu thần rồi sau lại hàng. Đầu thần còn đấy thì xã
tắc ắt còn. Xin bệ hạ đừng lo. Thần đã tự mình có kế sách phá giặc” 10. Sự cống
hiến của ông trong thời gian này: Một là, ông chủ động xây dựng và củng cố
khối đại đoàn kết toàn dân đánh giặc cứu nước, chuẩn bị mọi mặt để chống quân
Nguyên - Mông xâm lược. Hai là, ông tham gia vạch ra kế hoạch chiến lược
chống quân Nguyên - Mông; Ba là, tổ chức và chỉ đạo chiến lược, chiến thuật
đưa các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông giành thắng lợi, thể hiện
lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nghệ thuật quân sự thiên tài.
Nhìn chung, “Với tri thức quân sự uyên bác kết hợp với tinh thần yêu
nước nồng nàn và lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, ông đã góp phần lớn lao
vào việc tổ chức và lãnh đạo kháng chiến, đưa khoa học và nghệ thuật quân sự
Việt Nam tiến lên một bước vượt mức. Trần Quốc Tuấn là một anh hùng vinh

Tư tưởng chính trị và tư tưởng quân sự của ông phản ánh một cách sâu
sắc, sinh động thực tiễn xã hội Đại Việt trong thế kỷ XIII và thực tiễn của các
cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược. Tư tưởng của ông phản
ánh và thể hiện bao quát sâu rộng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự; trong đó,
nổi bật chính là tư tưởng quân sự. Nội dung tư tưởng của Trần Quốc Tuấn được
thể hiện trong Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ và Vạn Kiếp tông bí truyền thư.
2.2.1. Tư tưởng chính trị của Trần Quốc Tuấn
Có thể nói, tư tưởng chính trị của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn nảy
sinh, hình thành không chỉ dựa trên những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội, mà còn là sự phản ánh những nhu cầu cấp thiết của xã hội Đại Việt lúc
bấy giờ và biểu hiện ở những nội dung chủ yếu sau: Một là, tư tưởng yêu nước
và tinh thần dân tộc; Hai là, tư tưởng về nhân dân.
Thứ nhất, về tư tưởng yêu nước và tinh thần dân tộc. “Yêu nước là
nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội, mà nội dung là tình yêu
và lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ
quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc” 13. Nội dung tư tưởng yêu nước
của Trần Quốc Tuấn thể hiện sinh động trong các tác phẩm Binh thư yếu lược,
Vạn Kiếp tông bí truyền thư, Hịch tướng sĩ và Lâm chung di chúc. Có thể nói
lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở những nội dung sau: Một là, ý
chí và lòng căm thù giặc sâu sắc. ông viết: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm
vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn
gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta
bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm” 14. Ông kêu gọi tướng sĩ đồng lòng
cùng nhau luyện tập binh thư, võ nghệ “Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung
tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu
Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam
Vương ở Cảo Nhai”15. Có lòng yêu nước, tinh thần độc lập dân tộc sâu sắc, có
niềm tin tất thắng vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc và sức mạnh của
quân dân Đại Việt nên ngay cả khi lúc giặc mạnh, đất nước lâm nguy, một số
người trong triều đình ra hàng giặc, vua Trần Thánh Tông đến hỏi ông: “Nay thế
giặc như thế, hãy hàng chúng để cứu muôn dân chăng?” Ông vẫn giữ vững khí

cân treo sợi tóc, thế mà lại có những tư tưởng hoặc lo vun vén cá nhân. Thứ ba,
tinh thần bảo vệ độc lập dân tộc và quyết tâm đánh quân Nguyên - Mông xâm
lược. Từ nỗi đau của thời loạn lạc, nỗi nhục một khi vận nước rơi vào tay giặc
Trần Quốc Tuấn đã kêu gọi tướng sĩ, binh lính dưới quyền phải chăm chỉ học tập
binh thư, rèn luện võ nghệ ai nấy cũng đều giỏi như Bàng Mông, Hậu Nghệ để
làm cái điều mà ông mong muốn là “bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm
rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai” 18 như một lời thề thiêng liêng, một quyết
tâm sắt đá sống chết với kẻ thù. Thứ hai, tư tưởng về nhân dân của Trần Quốc
Tuấn. Tư tưởng “trọng dân”, “thân dân”, “dân là gốc” là một tư tưởng tiến bộ đã
có từ hơn 2500 năm trước đây của Nho giáo. Trong Thượng Thư có viết: “Dân
chính là gốc của nước, gốc bền thì nước mới yên” 19 Nước không thể không có
dân, dân chính là gốc của đất nước, là nền tảng, là sức mạnh, là trí tuệ của đất
nước do vậy, “Dân còn thì thì xã tắc còn, dân mất thì xã tắc mất” 20. Nhận thức về
vai trò, sức mạnh của dân chúng đối với sự tồn vong, phát triển của mỗi quốc
gia, dân tộc và định ra những đường lối chính trị, chính sách xã hội tiến bộ theo
16

Thơ văn Lý - Trần, t. 2, Sđd, tr. 386.
Thơ văn Lý - Trần, t. 2, Sđd, tr. 391 - 392.
18
Thơ văn Lý - Trần, t. 2, Sđd, tr. 392.
19
Doãn Chính, Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 99.
20
Doãn Chính, Từ điển triết học Trung Quốc, Sđd, tr.99.
17


15


Một khi nhân dân đoàn kết đồng lòng thì không có một sức mạnh nào, một thế lực
nào có thể chiến thắng nổi. Thực tế cho thấy cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên - Mông xâm lược thắng lợi là do ông và triều Trần đã dựa vào dân đánh
giặc, tranh thủ được sự đồng lòng của nhân dân cả nước. Ông đã tổng kết “Mới
rồi Toa Đô và Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, nhờ vua tôi đồng lòng, anh em hoà
21
22

Viện Sử học, Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 59.
Thơ văn Lý - Trần, t. 2, Sđd, tr. 397.


16

thuận, cả nước dồn sức lại mà bọn chúng đành phải chịu trói” 23. Có thể nói, “Đời
Trần nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc giữ, làm cho thế nước được
mạnh”24. Thứ hai, tư tưởng xây dựng quân đội luôn coi trọng về chất lượng.
Ông cho rằng: “Quân cần tinh không cần nhiều”25. Để xây dựng quân đội mạnh,
Trần Quốc Tuấn đặc biệt chú đến hai yếu tố: Một là, quân lính một lòng, một dạ
như cha con thì mới dùng được. Cho nên phải giáo dục sự đoàn kết nhất trí,
chung sức, chung lòng của quân sĩ; hai là, phải đặc biệt quan tâm xây dựng và
rèn luyện năng lực chỉ huy cho các tướng lĩnh. Bởi vì mọi thành bại trên chiến
trường phần lớn tuỳ thuộc vào năng lực cầm quân của họ. Binh thư yếu lược có
viết: “Quân cần giỏi không cần nhiều. Nên chọn những người khỏe mạnh mà
dùng, không lấy nhiều người nhỏ yếu để thêm số lượng” 26. Quân tinh nhuệ trước
hết phải yêu nước, phải tinh thông võ nghệ, trung thành với triều đình và nhân
dân có ý chí “Sát thát”, “phụ tử chi binh”, phải sâu rễ bền gốc trong dân. Nhìn
chung, tư tưởng xây dựng quân đội của Trần Quốc Tuấn có các đặc điểm sau:
một là, tinh nhuệ thiện chiến; hai là, đoàn kết hòa thuận và có tính kỷ luật cao;
ba là, có tinh thần chiến đấu anh dũng; bốn là, có trình độ chiến thuật và kỹ

17

thắng nhiều, yếu có thể thắng mạnh”28. Cho nên “Phàm hay lấy ít mà thắng
nhiều, lấy yếu mà địch mạnh, lấy nhỏ mà chế lớn, thế mới gọi là thiện chiến” 29.
Trong điều kiện của cuộc chiến tranh giữ nước luôn phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít
địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, ông vận dụng nhiều cách đánh sáng tạo, thường
tổ chức các cuộc rút lui chiến lược một cách chủ động để bảo toàn lực lượng,
đưa quân chủ lực về các địa bàn đã được chuẩn bị sẵn, để từ đó sẵn sàng phản
công chiến lược, giáng đòn quyết định khi thời cơ đến đưa cuộc kháng chiến đến
thắng lợi hoàn toàn. Tư tưởng “lấy đoản chế trường” mà Trần Quốc Tuấn nêu
trong Lâm chung di chúc chính là bài học kinh nghiệm mà ông rút ra trong ba
lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, đồng thời làm phong phú thêm kho
tàng tư tưởng quân sự Việt Nam. Thứ tư, tư tưởng về xây dựng sức mạnh và
tinh thần đoàn kết thống nhất trong chiến tranh giữ nước. Đoàn kết là truyền
thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta được hun đúc và phát huy qua hàng ngàn
năm dựng nước, giữ nước. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân luôn là
đường lối chiến lược, là cội nguồn tạo nên sức mạnh đảm bảo thắng lợi của sự
nghiệp dựng nước và giữ nước. Để tập hợp được sức mạnh và thống nhất trong
sự nghiệp đánh giặc giữ nước, nhà Trần đã khôn khéo và giải quyết tốt mối quan
hệ giữa lợi ích của giai cấp với lợi ích của dân tộc, đặt lợi ích của dân tộc lên
hàng đầu. Ông đúc kết và chỉ ra nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống quân Nguyên - Mông xâm lược là do “vua tôi đồng lòng, anh em hoà
mục, nước nhà góp sức”30. Trong Di chúc, ông nhấn mạnh yếu tố đoàn kết “trên
dưới một lòng, lòng dân không lìa” và căn dặn rằng cần phải xây dựng tinh thần
đoàn kết trong chiến đấu: “Phải gây dựng được một “đội quân cha con” rồi mới
có thể sử dụng được, 收得父子之兵. 始可瑢也 ” 31. Ông xem hòa mục là giềng
mối chính của sự trị an: “Vua tôi hoà mục thì dùng được người tài; các tướng
văn tướng võ hoà mục thì làm nên công nghiệp. Tướng sĩ hoà mục thì khi được
ban thưởng sẽ nhường nhịn nhau, gặp nguy nan sẽ cứu giúp nhau. Đó, hoà mục
là một đạo rất hay cho việc trị nước, hành binh, không bao giờ đổi được” 32. Ông

thư yếu lược, biểu hiện qua những nội dung cơ bản sau: Một là, về phương pháp
chọn người, chọn tướng; Hai là, mối quan hệ của tướng đối với nước, đối với
vua, đối với nhân dân, đối với tướng sĩ, đối với kẻ thù và đối với chính bản thân
mình. Thứ hai, về đạo lý làm người. Ông đề cao vài trò của đạo đức. Cũng như
các nhà tư tưởng khác, Trần Quốc Tuấn đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo làm
người như: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Trong đó, luân lý đạo đức, đạo làm người có
quan hệ chặt chẽ với đạo làm tướng. Ông cho rằng tướng có năm đức tính: “Lễ,
hiếu, tín, nhân, dũng”. Ông chỉ ra năm đức tốt của tướng: “Có tiết cao để khuyến
khích phong tục, có hiếu đễ để có thể lưu danh về sau, có tín nghĩa có thể kết
bạn, có rộng yêu có thể thu phục quân chúng, có sức mạnh có thể lập công” 33.
Khi đề cập đến những đức tính của người làm tướng, ông yêu cầu tướng phải hội
đủ các tố chất: Nhân, nghĩa, lễ, tín, dũng “Người xưa đuổi chạy không quá trăm
bước, rút lùi không quá hai xá, đó là để bày tỏ điều lễ. Không ép uổng người bất
năng, thương xót người đau ốm, đó là để bày tỏ điều nhân. Thành hàng rồi mới
khua trống, đó là để bày tỏ điều tín. Tranh lấy nghĩa mà không tranh lấy lợi, đó
là để bày tỏ điều nghĩa. Lại hay tha người quy phục, đó là bày tỏ điều dũng. Sáu
đức ấy theo từng thời mà dạy, để làm đạo dựng kỷ cương cho dân, đó là chính trị
xưa vậy”34. Thứ ba, về nhân nghĩa. Ông cho rằng: “Nhân nghĩa là mục đích của
đời người và cũng là mục đích của tướng, làm tướng phải đấu tranh cho chính
nghĩa, đấu tranh vì lợi ích của nhân dân” 35. Thứ tư, về nhân dân. Trần Quốc
Tuấn yêu cầu phải “lấy dân làm gốc”, phải thân dân, trọng dân, đoàn kết toàn
dân một lòng “trên dưới cùng ý nguyện, lòng dân không chia lìa và lấy “khoan
sức cho dân” làm nền tảng đề xây dựng và phát triển đất nước. Thứ năm, về thời
thế. Trần Quốc Tuấn viết: “Theo tính tự nhiên không gì là không thế”. Do đó,
người giỏi dùng binh phải nắm chắc thời thế, thời cơ để linh hoạt trong chiến
lược. Thứ sáu, về quốc gia dân tộc. Ông một lòng trung quân, ái quốc, trải qua
33

Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 57.
Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 57.

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA TƯ TƯỞNG TRẦN QUỐC TUẤN
3.1.1. Tính dân tộc trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn
Một học thuyết có tính dân tộc khi nó phản ánh những vấn đề của dân tộc
mình, nhân dân mình và xử lý nó trong những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể, đề
cao tinh thần dân tộc, tự tôn dân tộc và lòng tự hào dân tộc.
Tính dân tộc trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn được thể hiện sinh động
qua hai tác phẩm Hịch tướng sĩ và Lâm chung di chúc. Có thể khái quát tính dân
tộc trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn với những nội dung chủ yếu như sau:
Một là, lòng tự hào về đất nước, con người Việt Nam anh hùng trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước của Trần Quốc Tuấn; Hai là, đề cao tinh thần yêu nước, ý
chí độc lập dân tộc, lòng căm thù giặc sâu sắc của Trần Quốc Tuấn; Ba là, Trần
Quốc Tuấn đã đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, sẵn sàng chiến đấu hy
sinh để bảo vệ lợi ích của dân tộc. Thứ nhất, đó là lòng tự hào về đất nước, con
người Việt Nam anh hùng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Trần Quốc
Tuấn. Trần Quốc Tuấn đã đúc kết lịch sử dân tộc và khẳng định: “Xưa kia Triệu


20

Vũ Đế dựng nước, vua Hán đem quân sang đánh, dân chúng bèn làm kế “vườn
không nhà trống”. Rồi đại binh kéo sang châu Liêm, châu Khâm đánh vào
Trường Sa, đoản binh thì tập kích phía sau... Đời Đinh, Lê, đề bạt được bậc hiền
tài… Trên dưới cùng ý nguyện, lòng dân không chia lìa, xây thành Bình Lỗ mà
phá được quân Tống... Nhà Lý vừa mở mang cơ nghiệp, quân Tống đã xâm
phạm vào bờ cõi. Bèn dùng Lý Thường Kiệt để đánh châu Khâm, châu Liêm,
mấy lần đến tận Mai Lĩnh... Mới rồi Toa Đô và Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, nhờ
vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước dồn sức lại mà bọn chúng đành
phải chịu trói”36. Những chiến công hiển hách của dân tộc ta được ông nhắc lại
với lòng tự hào dân tộc sâu sắc. Ông và vương triều Trần một lòng quyết tâm
đánh tan quân Nguyên - Mông xâm lược để đem lại hạnh phúc thái bình muôn

37


21

hợp với yêu cầu của thực tiễn lịch sử xã và phục vụ nhu cầu của con người.
Sở dĩ trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn có tính kế thừa và dung hợp là vì:
Một là, nhiệm vụ chính trị bao trùm trong thế kỷ XIII là chống quân Nguyên Mông, bảo vệ độc lập dân tộc; Hai là, ông là một võ tướng được triều đình trao
trọng trách đánh giặc Nguyên - Mông bảo vệ giang sơn, đất nước; Ba là, ông
sớm nghiên cứu binh pháp, đúc kết tinh hoa quân sự của dân tộc và phương
Đông để rèn luyện tướng sĩ. Tính kế thừa trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn
được thể hiện qua hai tác phẩm Binh thư yếu lược và Lâm chung di chúc. Có thể
khái quát tính kế thừa trong tư tưởng của ông với những nội dung chủ yếu như
sau: Thứ nhất, Trần Quốc Tuấn đã kế thừa tư tưởng tiến bộ của Nho giáo về
“dân”, “trọng dân” và “thân dân”. Kế thừa, dung hợp triết lý căn bản về dân
của Nho giáo như “dân là gốc”, “nước lấy dân làm gốc”, “dân chính là gốc của
nước, gốc có bền thì nước mới yên!” 39. Trần Quốc Tuấn cho rằng: “Dân là gốc
của nước”40. Theo đó, dân chính là gốc, là nền tảng, là sức mạnh của đất nước.
Kế thừa và phát triển tư tưởng về dân và truyền thống “lấy dân làm gốc” trong
sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, ông đã đúc kết thành kế sách
giữ nước dặn dò vua Trần Anh Tông trước khi mất: “Khoan sức cho dân làm kế
sâu rễ bền gốc”. Thứ hai, ông kế thừa và phát triển các phạm trù “nhân”,
“nghĩa”, “trung hiếu” trên tinh thần dân tộc. Tiếp thu tinh thần: “Bảo vệ đất
nước làm lợi cho đất nước là nhân” 41, “Trừ bỏ những tai họa của thiên hạ, gọi là
nghĩa”42 của Nho giáo, ông cho rằng: “Phàm động binh phải đắn đo có lợi cho
nhà nước, giúp đỡ được nhân dân, thêm trọng được uy danh thế lực” 43; “Nhân
nghĩa là mục đích của đời người và cũng là mục đích của tướng, làm tướng phải
đấu tranh cho chính nghĩa, đấu tranh vì lợi ích của nhân dân” 44. Tướng phài làm
cho dân tránh khỏi những tai họa, dân có cuộc sống yên bình, cho nên: “Nước
yên hay nguy, quan hệ ở một người tướng” 45. Trung không chỉ là trung với dòng

người làm trung tâm, tôn trọng những giá trị tốt đẹp của con người, tin tưởng
vào sức mạnh của con người và giải phóng con người. Trải qua hàng ngàn năm
lịch sử đấu tranh sinh tồn, dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã hun đúc nên
một truyền thống nhân văn đặc sắc mà những giá trị hướng tới là độc lập dân
tộc, nhân dân tự do, ấm no và hạnh phúc. Tính nhân văn trong thời kỳ nhà Trần
có những đặc trưng cơ bản sau: Một là, đề cao con người, đánh đúng vai trò to lớn
của con người trong lao động sản xuất và chống giặc ngoại xâm; Hai là, tinh thần
yêu nước, trọng dân, thương dân, căm thù giặc, đánh giặc bảo vệ chủ quyền dân
tộc; Ba là, tinh thần hoà mục, yêu thương con người, khoan dung với những người
lầm lỗi, khoan dung với kẻ thù. Tính nhân văn trong tư tưởng của Trần Quốc
Tuấn là sự tổng hòa của lòng yêu nước, tính khoan dung, lòng nhân ái và ý thức
trách nhiệm cá nhân đối với quốc gia dân tộc, được thể hiện trong Binh thư yếu
lược và Lâm chung di chúc với những nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, thương
dân, quan tâm sâu sắc đến đời sống của nhân dân và tướng sĩ. Xuất phát từ lòng
yêu thương con người, truyền thống nhân ái, nhân văn của dân tộc Trần Quốc
Tuấn đúc kết nên tư tưởng nhân văn “lấy dân làm gốc”. Có lòng nhân ái, yêu
thương con người, ông lên án chiến tranh khi cho rằng, việc binh không phải là
việc lành, “cho nên đồ binh là hung khí, tranh nhau là việc trái đức… bất đắc dĩ
mới phải dùng”46; “Phàm động binh phải đắn đo có lợi cho nhà nước, giúp đỡ
được nhân dân”47; “Quân địch thua, cướp bóc dân ta để trương thanh thế, nên
nghĩ trước lạ mà cứu lấy mệnh dân” 48. Tính nhân văn trong tư tưởng của Trần
Quốc Tuấn không chỉ thể hiện ở sự quan tâm đến nhân dân, tướng sĩ mà còn thể
hiện trong suy nghĩ hành động quan tâm lo lắng đến đời sống của tướng sĩ. Ông
viết: “Trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem thuốc điều trị; quân có
người chết, tướng phải khóc thương… cho nên tướng với binh có cái ơn hoà rượu
và hút máu… yêu mến như con em theo cha anh, như chân tay đỡ đầu mắt, không
ai ngăn được”49; “Lúc lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì
cùng nhau vui cười”50. Thư hai, tính nhân văn biểu hiện đặc sắc, thiết thực ở ý
chí căm thù giặc sâu sắc, sự quyết tâm đánh giặc cứu nước, cứu dân của Trần
Quốc Tuấn. Có thể nói, ba lần đánh thắng quân Nguyên - Mông xâm lược hùng

3.2. GIÁ TRỊ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG TRẦN QUỐC TUẤN
3.2.1 Giá trị lịch sử của tư tưởng Trần Quốc Tuấn
Thứ nhất, ý nghĩa về mặt lý luận: Tư tưởng phong phú, đặc sắc của Trần
Quốc Tuấn qua các phương diện như lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, tư tưởng
về nhân dân và tư tưởng quân sự. Thông qua những khái niệm, phạm trù, quan
niệm tư tưởng cơ bản nêu trên, Quốc Tuấn góp phần bổ sung, hoàn thiện, làm
phong phú và sâu sắc quá trình phát triển của lịch sử của lịch sử tư tưởng Việt
Nam, đặc biệt là tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và tư tưởng quân sự kiệt xuất.
Trên cơ sở kế thừa, dung hợp và phát triển các phạm trù nhân, nghĩa, trung,
hiếu, dũng, liêm và những quan niệm tiến bộ của Nho gia Tiên Tần về dân, Trần
Quốc Tuấn đã làm phong phú thêm những triết lý đó trên tinh thần dân tộc. Đặc
biệt trong ý nghĩa về mặt lý luận, có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam nói chung, lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam nói riêng đã có một nhà
quân sự thiên tài đã tiếp thu tinh hoa tư tưởng “binh pháp các nhà” để viết tác
phẩm Binh thư yếu lược và trình bày một hệ thống lý luận quân sự đặc sắc về
chiến thuật, chiến lược quân sự, thời thế, thời cơ. Hệ thống tư tưởng quân sự đó
được bổ sung, hoàn thiện trong Vạn Kiếp tông bí truyền thư và Lâm chung di
chúc. Về chiến lược, chiến thuật: “Phàm hay lấy ít mà thắng nhiều, lấy yếu mà
địch mạnh, lấy nhỏ mà chế lớn, thế mới gọi là thiện chiến” 54, “tiểu dân thanh dã,
51

Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Nam Định - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn và quê
hương Nam Định, Nxb. Quân đội nhân dân, 2000, Hà Nội, tr. 27.
52
Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 249.
53
Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, t. 1, tr.12.
54
Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 236.


Thứ nhất, bài học về nêu cao tinh thần độc lập tự chủ và ý thức tự cường
dân tộc trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Nêu cao tinh thần độc lập
tự chủ và ý thức tự cường dân tộc của truyền thống dân tộc nói chung và của
Trần Quốc Tuấn nói riêng, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đi đôi với
phát huy cao độ ý chí tự lực tự cường, động viên mọi nguồn lực bên trong, cần
khai thác tốt những điều kiện thuận lợi mới trong quan hệ đối ngoại, mở rộng
quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước vì hòa bình, độc lập và phát triển, tạo
55

Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 201 - 202.
Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 189.
57
Binh thư yếu lược, Sđd, tr. 188.
58
Thơ văn Lý - Trần, t. 2, Sđd, tr. 397.
56


25

môi trường quốc tế thuận lợi và tranh thủ những nhân tố tích cực phục vụ công
cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước” 59. Chúng ta cần hạn chế những tác động tiêu
cực, cản trở; tận dụng khai thác tối đa yếu tố thời đại, các nhân tố quốc tế thuận
lợi, sự ủng hộ và giúp đỡ về vật chất và tinh thần của cộng đồng quốc tế, của
nhân dân thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Thứ hai, bài học phát huy cao độ lòng yêu nước trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ nghĩa yêu nước là cơ sở vững chắc
gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh vĩ đại thức đẩy dân tộc
ta tiến lên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện hiện
nay, lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam thể hiện ở ý chí đồng lòng cùng với

60



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status