Bài giảng Bài giảng: Giáo dục học - Pdf 80

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
_____________
NGUYỄN ĐỨC THANH
BÀI GIẢNG:
GIÁO DỤC HỌCPHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA GIÁO DỤC HỌC
Chương I
GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC
1.1. Đối tượng – Nhiệm vụ – Phương pháp nghiên cứu GDH
1.1.1. Đối tượng của giáo dục học
Đối tượng nghiên cứa của giáo dục học là một quá trình sư phạm toàn vẹn hay là quá trình giáo dục
tổng thể, cụ thể: nghiên cứu bản chất và các quy luật của quá trình giáo dục con người và trên cơ sở
đó thiết kế mục tiêu, nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức quá trình đó nhằm đạt tới kết
quả tối ưu trong những điều kiện xã hội nhất định. Quá trình giáo dục giáo dục chính là: quá trình
toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các
hoạt động và quan hệ giữa người với người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và
chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người.
Quá trình giáo dục tổng thể này bao gồm nhiều quá trình bộ phận hợp thành như quá trình giáo dục
(hẹp), dạy học, giáo dưỡng…
1.1.2. Nhiệm vụ: ( HD SV tự học)
Giáo dục học là một khoa học cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Giải thích nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng giáo dục, phân biệt, các mối
quan hệ có tính quy luật và tính ngẫu nhiên. Tìm ra các quy luật có chi phối quá trình giáo dục để tổ
chức chúng đạt hiệu quả tối ưu.
- GDH nghiên cứu, dự báo tương lai gần và tương lai xa của GD, nghiên cứu xu thế phát triển và
mục tiêu chiến lược của giáo dục trong mỗi giai đoạn phát triển của XH để xây dựng chương trình
giáo dục và đào tạo.
- Nghiên cứu xây dựng lý thuyết GD mới, hoàn thiện các mô hình giáo dục, dạy học, phân tích kinh
nghiệm giáo dục, tìm ra con đường ngắn nhất và các phương tiện để áp dụng chúng vào thực tiễn

- Viết công trình nghiên cứu
+ Lời mở đầu
+ Nội dung
+ Kết luận
+ Danh mục tài liệu tham khảo
+ Phụ lục.
* Giai đoạn nghiệm thu bảo vệ công trình
- Viết tóm tắt công trình
- Trình bày kết quả nghiên cứu trước hội đồng.
1.1.3.3. Các phương pháp nghiên cứu khoa học Giáo dục
Quan sát sư phạm, Thực nghiệm khoa học, Tổng kết kinh nghiệm, Trò chuyện, phỏng vấn, Nghiên
cứu sản phẩm hoạt động của đối tượng, Điều tra, trắc nghiệm.
Sau đây chúng ta nghiên cứu sơ lược một số phương pháp nêu trên.
1.1.3.3.1- Phương pháp quan sát.
* Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích các hiện tượng sư phạm hoặc quá trình giáo dục để
thu lượm số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của hiện tượng đó.
* Dựa vào quan hệ giữa người quan sát và đối tượng quan sát mà có các loại quan sát sau: Quan sát
trực tiếp, Quan sát gián tiếp, Quan sát tự nhiên, Quan sát kín đáo.
* Dựa vào thời gian và không gian, có các loại sau: Quan sát liên tục, Quan sát gián đoạn, Quan sát
theo đề tài tổng hợp, Quan sát theo chuyên đề.
* Khi quan sát thì cần chú ý các yêu cầu sau :
- Có mục đích rõ ràng khi tiến hành quan sát.
- Khéo léo, kín đáo.
- Thu thập tài liệu phải trung thục, chính xác.
- Kết hợp các phương tiện kỹ thuật khi quan sát ....
1.1.3.3.2. Phương pháp trò chuyện.
* Trò chuyện là phương pháp dùng lời để tìm hiểu, khai thác đối tượng nghiên cứu.
Phỏng vấn cũng là một kiểu trò chuyện, song có sự định hướng trong trao đổi ý kiến, nhà nghiên
cứu đặt câu hỏi, đối tượng trả lời.
* Khi sử dụng phương pháp này cần đảm bảo các yêu cầu sau:

dạy học, Sổ chủ nhiệm, Nhật ký ...
1.1.3.3.5. Phương pháp đọc sách và tài liệu.
Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình nghiên cứu đối tượng.
Đối với đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục, người ta thường sử dụng các tài liệu sau:
- Tác phẩm của Mác - Ăng ghen - Lê nin.
- Tác phẩm của Hồ Chí Minh.
- Tác phẩm của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
- Văn kiện đại hội Đảng và Nhà nước.
- Sách báo, tạp chí có liên quan.
1.1.3.3.6. Phương pháp thực nghiệm.
Thực nghiệm là phương pháp chủ động gây ra hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện khống chế
nhằm xác định mối quan hệ giữa từng nhân tố với hiện tượng.
Có hai loại thực nghiệm:
- Thực nghiệm tự nhiên : Được tiến hành trong điều kiện nhân tố thực nghiệm, được lồng vào hoạt
động bình thường của đối tượng.
- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm : Được tiến hành qua những tác động có tính chất sư phạm
rõ rệt.
1.1.3..4. Đánh giá một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục.
Đánh giá công trình nghiên cứu khoa học giáo dục sự so sánh thực trạng của đối tượng đánh giá với
chuẩn được quy định.
* Để đánh giá chính xác, công tác đánh giá cần thỏa mãn các yêu cầu:
- Có chuẩn rõ ràng
- Hiểu chuẩn và vận dụng được chuẩn vào điều kiện cụ thể
- Cán bộ đánh giá trong sạch, đảm bảo tính khách quan khi đánh giá.
- Việc kiểm tra công tác đánh giá phải được tổ chức chặt chẽ và khoa học.
* Nội dung đánh giá một công trình khoa học bao gồm:
- Tính cấp thiết của đề tài
- Tính sáng tạo, đóng góp của đề tài
- Tính chính xác, độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu
- Khả năng vận dụng và phát triển của vấn đề.

của công nghệ thông tin và các phương tiện kỹ thuật dạy học.
Công nghệ giáo dục (rộng): theo Unesco thì đây là một tập hợp gắn bó chặt chẽ những phương pháp,
phương tiện kĩ thuật học tập và đánh giá được nhận thức và sử dụng tùy theo những mục tiêu đang
đeo đuổi, có liên hệ với nội dung giảng dạy và lợi ích của người học.
1.3. Giáo dục học là một hiện tượng xã hội đặc biệt
1.3.1. Giáo dục là một hiện tượng xã hội
- Từ khi xã hội loài người xuất hiện, các thế hệ luôn gắn bó với nhau trong nhiều lĩnh vực hoạt
động: lao động, giao lưu, chính trị, văn hóa, khoa học, kĩ thuật…Trong đó, giáo dục là hiện tượng
nảy sinh, tồn tại và phát triển mãi với xã hội loài người. Hiện tượng này biểu hiện ở chỗ, thế hệ
trước truyền lại những kinh nghiệm xã hội cho thế hệ sau nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển mọi mặt
của đời sống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, thế hệ sau lĩnh hội có chọn lọc những kinh nghiệm
xã hội đó để tham gia vào mọi hoạt động xã hội, qua đó nhân cách được hình thành và phát triển.
Kinh nghiệm xã hội bao gồm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, niềm tin, thái độ…của con người trong hoạt
động.
- Giáo dục là hoạt động có mục đích, có tổ chức, có ý thức và phát triển cao chĩ riêng biệt có
trong xã hội loài người, nhờ đó giúp cho con người , nhờ đó giúp cho con người trở thành chủ thể
nhận thức, cải tạo, sáng tạo cả thế giới, đồng thời nhận thức, cải tạo và sáng tạo chính bản thân
mình.
- Giáo dục chỉ có ở xã hội loài người.
- Giáo dục nảy sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự phát sinh, tồn tại và phát triển của xã hội loài
người.
- Giáo dục là một hiện tượng vĩnh hằng, giáo dục chỉ biến mất khi con người không còn.
1.3.2. Tính quy định của xã hội đối với giáo dục
1.3.2.1. Tính lịch sử
Giáo dục chịu sự quy định của lịch sử - xã hội, mỗi một giai đoạn lịch sử có nền giáo dục riêng,
mỗi một xã hội có nền giáo dục riêng. Chẳng hạn: trong giai đoạn cộng sản nguyên thủy, giáo dục
chủ yếu là sự truyền thụ kinh nghiệm hoạt động săn bắt, hái lượm từ thế hệ trước cho thế hệ sau.
Trong xã hội phong kiến, do sự quan niệm phụ nữ là kẻ tiểu nhân (nho giáo), chính vì lẽ đó phụ nữ,
con nhà nghèo khổ ( cũng được xem là kẻ tiểu nhân) đều không được đến trường. Điều này hoàn
toàn trái ngược với quan niệm của chúng ta ngày nay, giáo dục cho tất cả mọi người, và ai cũng có

sản xuất đất nước.
+ Đào tạo các loại hình cán bộ đa dạng, tránh thừa thầy thiếu thợ.
+ Có trình độ chuyên môn – kỹ thuật, có phẩm chất cao, thỏa mãn yêu cầu thời đại.
1.3.3.2. Chức năng chính trị - xã hội.
- Giáo dục nhằm phục vụ cho nền chính trị - xã hội của một quốc gia. Thông qua quá trình giáo dục
này để hình thành cho học sinh những đường lối chính trị mà đất nước đã lựa chọn. Để thực hiện
chức năng này, chúng ta cần quan tâm đến những vấn đề sau:
+ Giáo dục cho các thế hệ con người Việt Nam phấn đấu vì một nước đất nước: Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
+ Thực hiện tốt mục đích giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển nhân tài, tạo ra sự
bình đẳng trong tầng lớp dân cư.
+ Đào tạo đội ngũ cán bộ do dân, vì dân để phục vụ.
1.3.3.3. Chức năng văn hóa – tư tưởng.
+ Giáo dục có tác dụng to lớn trong vấn đề hình thành và phát triển ở thế hệ trẻ bản sắc văn hóa
truyền thống của dân tộc như: tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, hiếu học, cần kiệm…
+ Góp phần hình thành hệ thống giá trị xã hội, xây dựng lối sống, đạo đức, thế giới quan, ý thức hệ
và chuẩn mực xã hội.
Tóm lại, để thực hiện chức năng của mình đối với xã hội, giáo dục không thực hiện trực tiếp mà
chủ yếu thông qua con người do hệ thống giáo dục quốc dân đào tạo ra.
Thông qua con người tác động đến toàn xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Vì vậy
giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, là chìa khóa mở cửa tiến vào tương lai.
1.3.4. Vị trí xã hội của giáo dục
Từ xa xưa, cha ông ta đã xem vai trò, vị trí của giáo dục luôn được đưa lên hàng đầu:
“Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”
Hay
“Không thầy đố mày làm nên”,
“ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”…
Ngày nay vai trò đó của giáo dục cũng luôn luôn được gìn giữ và phát triển.
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta luôn luôn xác định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “đầu tư

chuyên nghiên cứu những vấn đề dạy học và giáo dục những trẻ có tật nguyền về thị giác, thính giác
hoặc chậm phát triển về ngôn ngữ, trí tuệ.
- Đối với thực tiễn hoạt động ở nhà trường các bộ môn phương pháp dạy học bộ môn có vai trò
quan trọng như : Bộ môn phương pháp dạy học toán, văn, sử, địa, sinh, kĩ thuật, v.v..còn gọi là “lí
luận dạy học bộ môn"
1.5. Mối quan hệ giữa giáo dục học với các khoa học khác
Giáo dục là một hiện tượng xã hội. Giáo dục học là một khoa học xã hội, nó có liên quan mật thiết
với các khoa học, trước hết là với các khoa học xã hội.
Giáo dục học có liên quan mật thiết với nhiều ngành khoa học như đạo đức học, mỹ học, kinh tế
học, văn học…
1.5.1. Triết học Mác - Lê nin : Triết học Mác - Lê nin là nền tảng khoa học cho sự phát triển của
khoa học giáo dục.
Đồng thời có một số vấn đề mà cả hai ngành khoa học này cùng quan tâm nghiên cứu. Đó là các
vấn đề :
- Sự hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa và mục đích giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Mối liên hệ giữa quá trình giáo dục với các quá trình xã hội khác.
- Mối liên hệ giữa tập thể và cá nhân ...
1.5.2. Với đạo đức học.
Đạo đức học giúp cho giáo dục học giải quyết những vấn đề về công tác giáo dục đạo đức, thế giới
quan, tư tưởng chính trị cho học sinh.
1.5.3. Với sinh lý học.
Sinh lý học là cơ sở khoa học tự nhiên của giáo dục học. Việc nghiên cứu giáo dục học phải dựa vào
những thành tựu của sinh lý học đặc biệt là sinh lý học thần kinh cấp cao, về hoạt động của hai hệ
thống tín hiệu, về sự phát triển và vận hành của các giác quan và hoạt động của chúng ...
1.5.4. Với tâm lý học.
Tâm lý học cung cấp cho giáo dục học những tri thức khoa học về các cơ chế diễn biến và điều kiện
tổ chức các quá trình bên trong của sự hình thành nhân cách con người theo lứa tuổi trong từng hoạt
động, làm cơ sở đáng tin cậy cho việc tổ chức quá trình sư phạm.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiều ngành khoa học khác như điều khiển học, tin học đang thâm nhập
và được ứng dụng trong nghiên cứu về lí luận và thực tiễn giáo dục, tạo ra những cách thức tổ chức

Chương II: Giáo dục và sự phát triển
nhân cách
1. Khái niệm về sự phát triển nhân cách

Khái niệm về con người:
- Theo Từ điển Tiếng Việt, con người được hiểu :
+ Là động vật tiến hóa nhất
+ Có khả năng nói, tư duy, sáng tạo
+ Sử dụng công cụ trong quá trình lao động sáng tạo.
Trong Luận cương về Phơ bách, K. Mác đã khẳng định về bản chất con nguời : “bản chất con
người không phải là cái trừu tượng, vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của
nó, bản chất con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”.
Qua sự khẳng định của của Mác, chúng ta thấy có ba điều cần lưu ý :
+ Con người tồn tại trong rầt nhiều mối quan hệ xà hội mà ngời đó tham gia.
+ Bản chất con ngưòi không phải là cái trưù tượng, vốn có của mỗi cá nhân. Bản chất con người
bao giờ cũng được thể hiện trong cuộc sống, trong lao động, nói một cách khác là trong hoạt
động thực tiển.
+ Nhấn mạnh tính xã hội trong con người không có nghĩa là phủ nhận phần thể xác, phần tự
nhiên của con người.
Trong một con người, bao giờ cũng bao gồm hai bộ phận : Phần tự nhiên và phần xã hội.
Chính K. Mác đã chỉ ra : ”Con người là một thực thể tự nhiên trực tiếp, với tư cách là thực thể
tự nhiên sống, con người được phú cho những sức mạnh tự nhiên, những sức sống đã trở thành
thực thể tự nhiên hoạt động.”
- Trái với quan điểm của K. Mác về bản chất con người, có một số quan niệm phiến diện về con
người sau :
+ Con người như một tồn tại thần bí. Quan điểm này cho rằng trong con người ta có một con
người nhỏ xíu tồn tại và nó điều khiển con người thể xác mà ta thấy.
+ Con người tồn tại như một sinh vật. Họ cho rằng cuộc sống của con người đều do bản năng
quyết định. Đó là các bản năng sống, chết, duy trì nòi giống…
+ Con người tồn tại như một cái máy.

+ Khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của xã hội, tham gia tích cực vào các
mối quan hệ xã hội thì con người được xem như là nhân cách.
- Như vậy, khi nói tới khái niệm nhân cách, phải xem xét:
- Nó bao gồm tất cả các nét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người.
- Những thuộc tính này được hình thành trong quá trình tác động qua lại giữ con người và con
người trong xã hội…
Khi nói tới nhân cách, cần nhấn mạnh đến một trong những yếu tố quan trọng nhất của nó, đó là
các giá trị, bao gồm:
• Các giá trị tư tưởng.
• Các giá trị đạo đức.
• Các giá trị nhân văn.
Hệ thống các giá trị này được hình thành và cũng cố bởi năng lực nhận thức kinh nghiệm sống
của mỗi cá nhân trong quá trình thể nghiệm lâu dài. Nội dung của định hướng giá trị là niềm tin,
thế giới quan đạo đức, nguyên tắc sống… của con người.
- Khi nói tới nhân cách con người Việt Nam, ta thấy có sự thống nhất biện chứng giữa các
mặt phẩm chất (đức) và năng lực (tài) .
- Đức : Hệ thống thái độ của con người.
- Tài : Hiệu quả tác động của nhân cách tới các đối tượng xung quanh.
Đức bao gồm các mặt:
• Các phẩm chất xã hội : Các quan điểm niềm tin tư tưởng – chính trị, thế giới quan khoa học,
thái độ đới với các hoạt động.
• Các phẩm chất cá nhân: Nếp sống, thói quen, những ham muốn…
• Các phẩm chất ý chí: Tính kỉ luật, tính tự giác, tính tự chủ, tính mục đích…
Tài bao gồm các mặt:
• Khả năng thích ứng, năng lực sáng taọ, linh hoạt, mềm dẽo trong cuộc sống, hoạt động.
• Khả năng biểu hiện tính độc đáo, biểu hiện cái riêng cái bản lĩnh của cá nhân.
• Khả năng hành động
Hành động có mục đích, có điều khiển, chủ động, tích cực, sáng tạo, đạt kết quả tốt…
+ Khả năng giao tiếp
Xây dựng, duy trì được các mối quan hệ tốt đẹp vời mọi người xung quanh.

tố thúc đẩy đến sự hình thành và phát triển nhân cách cần phải thật sự khách quan, đúng đắn và
khoa học.
2. Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách
2.1. Bẩm sinh – di truyền
• Bẩm sinh là những đặc điểm, thuộc tính của cá nhân khi sinh ra đã có.
• Di truyền là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những đặc điểm giống chúng (sự tái tạo ở
trẻ em những thuộc tính sinh học của cha mẹ, thế hệ trước).
Vai trò của bẩm sinh – di truyền trong sự hình thành và phát triển nhân cách:
• Vấn đề di truyền những tư chất và nhất là các năng lực (nghệ thuật, khoa học, kiến trúc…) ở
trẻ em là một vấn đề quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục.
o Di truyền tạo sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng cho người
đó hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định.
o Nhà giáo dục cầøn quan tâm đúng mức để phát huy hết bản chất tự nhiên đó của con
người ; cần phát hiện sớm, có kế hoạch chăm sóc, bồi dưỡng kịp thời nhằm phát triển tài năng
cho trẻ em.
• Di truyền không quyết định những giới hạn tiến bộ của xã hội loài người.
o Di truyền tạo ra tiền đề cho sự phát triển nhân cách.
o Trên cơ sở tiền đề ấy, phải có môi trường sống thích hợp, hoạt động tích cức và được
sự giáo dục đúng đắn thì bẩm sinh di truyền mới trở thành hiện thực.
• Quá trình phát triển con người xét về mặt sinh lí cũng là một quá trìnhphức tạp.
• Cần chú ý :
o Chú ý đúng mức đến vai trò của di truyền trong sự hình thành và phát triển nhân cách.
o Nếu xem nhẹ yếu tố bẩm sinh di truyền thì chúng ta đã bỏ qua một tiền đề quan trọng
cho sự hình thành và phát triển tâm lí.
o Nếu đánh giá quá cao yếu tố bẩm sinh di truyền sẽ dẫn tới sai lầm về mặt nhận thức,
phủ nhận khả năng biến đổi bản chất của con người, phủ nhận vai trò của giáo dục và tự giáo
dục.
2.2. Môi trường
• Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung
quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người.

(Quan hệ giữa môi trường sống và nhân cách là mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau, quan hệ hai
chiều)
Khi bàn về mối quan hệ giữa môi trường sống và con người, K.Mác đã khẳng định : “Hoàn cảnh
sáng tạo ra con người trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh”.
Khi bàn về việc xây dựng con người mới XHCN Việt Nam, Đảng CS Việt Nam cũng đã khẳng
định : Con người mới vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể có ý thức của xã hội. Con người mới Việt
Nam là kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng, đặc biệt việc xây dựng cơ sở vật chất của chủ
nghĩa xã hội có ý nghĩa to lớn và quyết định đối với sự hình thành con người mới. Song con
người mới là chủ thể có ý thức của xã hội. Phải bằng kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng,
phải thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua lao động và đấu tranh thì những thành viên của xã
hội mới cải tạo được mình và dần dần trở thành con người mới.
• Trong quá trình giáo dục con người, cần gắn chặt từng bước việc học tập và giáo dục với
thực tiễn cải tạo và xây dựng xã hội và đấu tranh cách mạng.
• Trong quá trình giáo dục học sinh, cần lưu ý một số điểm sau :
o Từng bước gắn việc giáo dục và học tập của học sinh với việc cải tạo và xây dựng xã
hội.
o Xây dựng cho học sinh có các giá trị đúng đắn.
o Giúp học sinh chiễm lĩnh những ảnh hưởng tích cực của môi trường sống, phê phán
những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến học sinh.
o Tổ chức cho học sinh tích cực tham gia vào việc cải tạo và xây dựng môi trường có
tác dụng giáo dục.
o Xã hội kết hợp với nhà trường có kế hoạch “sư phạm hóa” từng bước môi trường,
quan tâm đến việc bảo vệ học sinh trước ảnh hưởng xấu…
o Cần đánh giá đúng đắn vai trò của môi trường sống trong sự phát triển nhân cách.
o Tuyệt đối hóa vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách là sai lầm về mặt
nhận thức, cho rằng mọi cái đều do hoàn cảnh, rơi vào thuyết “Định mệnh do hoàn cảnh”.
Thuyết này hạ thấp, thủ tiêu vai trò của giáo dục…
o Hạ thấp, phủ nhận vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách dẫn đễn
“thuyết giáo dục là vạn năng”, giáo dục con người theo xu hướng cải lương…
2.3. Hoạt động của cá nhân

• Giáo dục không chỉ thích ứng, mà còn đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển.
• Sự phát triển tâm lí trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong điều kiện của dạy học và
giáo dục.
Khi bàn về vai trò yếu tố giáo dục trong sự phát triển tâm lí con người, Bác Hồ đã viết trong bài
thơ “Nửa đêm” :
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
(Nhật kí trong tù)
3.2. Những điều kiện để giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển nhân cách
- Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục
Giáo dục không chỉ là sự tác động một chiều của những người làm công tác giáo dục tới thế hệ
trẻ mà nó còn bao gồm cả hoạt động tích cực, đa dạng của người được giáo dục trong mối quan
hệ hai chiều giữa nhà giáo dục và học sinh.
- Giáo dục chỉ có thể đảm bảo sự phát triển nhân cách nếu có được chõ dựa là :
• Tư chất vốn có ở mồi người.
• Hoạt động tích cực (tự vận động) của mỗi người trước khi tác động bên ngoài.
Ở đây ta thấy có sự thống nhất giữa tác động bên ngoài (giáo dục) và điều kiện bên trong (tư
chất - hoạt động tích cực cá nhân).
- Dạy học và giáo dục phải được xây dựng theo nguyên tắc phát triển và đón trước được sự phát
triển tâm lí.
- Giáo dục không phải là vạn năng, nó cũng không hạ thấp, thủ tiêu các yếu tố khác.
3.3. Mối quan hệ giữa giáo dục và tính tích cực cá nhân trong sự phát triển nhân cách
Giáo dục tác động, thúc đẩy làm cho cá nhân tích cực hoạt động để phát triển nhân cách của
mình. Chẳng hạn, thông qua các hoạt động giáo dục của thầy cô, sự dạy bảo của gia đình làm
cho ý chí, tính tích cực của học sinh tăng lên rõ rệt.
Mặt khác, chính do sự tích cực của cá nhân nên quá trình giáo dục cũng tiến hành thuận lợi hơn,
giáo dục nhanh chóng đạt được mục đích hơn.
3.4. Những quan điểm sai lầm về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách

1.Có tính định hướng tính lý tưởng
2.Thời gian thực hiện dài
3.Tính rộng lớn khái quát của vấn đề
4.Không thể đo được kết quả
5.Cấu trúc phức tạp, được tạo thành do nhiều mục
tiêu kết hợp lại
1.Có tính cụ thể với hành động và phương
tiện xác định
2. Thời gian thực hiện ngắn xác định
3. Tính xác định của vấn đề
4. Kết quả đo được.
5. Là một bộ phận của mục đích
Có thể nói mục tiêu là một bộ phận của mục đích, là mục đích gần, phải thực hiện nhiều mục
tiêu mới đạt được mục đích. Mục đích giáo dục có cấu trúc phức tạp do nhiều mục tiêu tạo
thành. Tuy nhiên, mục đích không phải là tổng số các mục tiêu, không phải là phép cộng giản
đơn mà là một sự kết hợp có quy luật giữa các mục tiêu.
- Mục đích giáo dục mang tính lịch sử và tính giai cấp
• Mục đích giáo dục phản ánh sự phát triển sức sản xuất và quan hệ sản xuất, sự phát triển của
khoa học kỹ thuật và văn hóa, hệ tư tưởng mới và lối sống xã hội (nó phản ánh hình thái kinh tế
- xã hội)
• Mục đích giáo dục phản ánh những quan điểm của giai cấp thống trị xã hội, thể hiện ở các
điểm sau:
o Đào tạo con người như thế nào?
o Đào tạo con người theo lý tưởng triết học và xã hội học nào ?
o Đào tạo con người phục vụ cho ai ? Cho lợi ích của giai cấp hoặc tầng lớp nào trong
xã hội?
Để xây dựng mục đích giáo dục hiện nay ở Việt Nam, không thể không nghiên cứu, kế thừa và
phát triển những mục đích giáo dục Việt Nam đã có truyền thống lâu đời và trở thành giá trị tinh
thần của nhân dân ta.
Dưới chế độ phong kiến, mục đích giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của nho giáo. Mục

vậy giáo dục gia đình và chất lượng thầy giáo phải chăng là hai nhân tố cực kỳ quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng giáo dục.
• Quan niệm cấu trúc cha – con trong gia đình nho giáo đã mở rộng ra xã hội dưới các hình
thức:
Gia đình : Cha – con
Nước : Vua – tôi, vua là cha của dân
Thiên hạ : Thiên tử – thứ dân
Thế giới : Trời – người
Trời được xem như cha, có khó khăn gì cũng gọi “Trời”. Điều đó dẫn đến hai khả năng : Tìm
cách hòa đồng với tự nhiên, tạo ra đời sống tâm linh nhẹ nhõm; Không đặt ra vấn đề đấu tranh,
cải tạo tự nhiên dẫn đến sự chậm phát triển trong khoa học và triết học.
Khi nghiên cứu mục đích giáo dục phong kiến Việt Nam, bên cạnh những bài học thành công,
cũng có những nhược điểm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển quốc gia, dân tộc. Đó là mối quan
hệ giữa đức và tài, giữa phẩm chất và năng lực.
Nhà trường phong kiến Việt Nam hầu như chỉ chú ý đến dạy đạo lý, thơ phú… mà không dạy
các môn khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, kinh tế, là những môn học có ảnh hưởng lớn đến
năng lực, tay nghề của thế hệ trẻ. Kết quả là đất nước không phát triển, khoa học kỹ thuật, kinh
tế, quân sự rất lạc hậu. Điều đó là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm cho nhân
dân ta rơi vào vòng nô lệ và làm cho đất nước lạc hậu đến ngày nay. Vì vậy, mối quan hệ giữa
phẩm chất và năng lực, giữa khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội nhân văn
là vấn đề rất quan trọng trong khi xây dựng mục tiêu và nội dung giáo dục trong giai đoạn hiện
nay.
1.2. Ý nghĩa của việc xác định mục đích giáo dục
• Việc xác định mục đích giáo dục sẽ giúp cho người làm công tác giáo dục quán triệt quan
điểm giai cấp, quan điểm lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong vịêc đào tạo con
người.
• Xác định mục đích giáo dục là cở sở giúp xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ
chức giáo dục.
• Giáo dục là một quá trình lâu dài, phức tạp đòi hỏi xác định mục đích rõ ràng, cụ thể để hoạt
động giáo dục có phương hướng, hoạt động có kế hoạch.

và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc” ( Luật Giáo dục).
Mục tiêu giáo dục của trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đưa ra trong nghị
quyết TW2 khóa VIII có mấy điểm cần chú ý:
- Nhấn mạnh đến việc đào tạo con người đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Điều đó rất quan
trọng trong điều kiện bước vào thế giới hòa bình như hiện nay, thể hiện quan điểm hòa nhập
nhưng không hòa tan.
- Có tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, phản ánh được đặc điểm quan trọng của thời đại,
khi loài người bước vào nền văn minh mới, văn minh tin học.
2.3. Mục đích giáo dục chuyên biệt ( Sinh viên tìm hiều luật giáo dục Việt Nam 2005)
2.3.1. Mục tiêu giáo dục ở từng bậc học.
2.3.2. Mục tiêu giáo dục ở từng cấp học.
3. Các nhiệm vụ giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục.
Toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân thông qua các hoạt động của mình nhằm “hình thành, phát
triển các phẩm chất và năng lực của công dân Việt Nam : tự chủ, năng động, sáng tạo, có kiến
thức văn hóa, khoa học, công nghệ, có kỹ năng nghề nghiệp ; có sức khỏe ; có niềm tự hào dân
tộc và ý thức vươn lên ; có năng lực tự học và thói quen học tập suốt đời ; có năng lực đi vào
thực tiễn kinh tế – xã hội, góp phần hiệu quả làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
văn minh, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”.
Nhiệm vụ giáo dục là những bộ phận hợp thành của giáo dục XHCN, bao gồm giáo dục trí tuệ,
đức dục, giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất.
3.1. Giáo dục đạo đức
• Đức dục là quá trình hoạt động giáo dục chuyên biệt ở nhà trường. Đó là hoạt động có mục
đích, có kế hoạch nhằm xây dựng, bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất nhân cách, những
nét tính cách nhất định, những tiêu chuẩn và quy tắc hành vi giữa chúng với nhau, với gia đình,
với xã hội…
• Ngày nay, đức dục còn bao gồm cả việc giáo dục về những vấn đề chung có tính chất toàn
cầu như giáo dục nhân văn, giáo dục môi trường, giáo dục giá trị…
• Đức dục có nhiệm vụ :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status