Tài liệu Giải pháp NCCL huyện HN - Pdf 81

UBND HUYỆN HỒNG NGỰ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Số: 264/ PGDĐT-GP
Hồng Ngự, ngày 20 tháng 10 năm 2010
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Năm học 2010-2011
Thực hiện theo Hướng dẫn số 770, 771/SGDĐT-GDTrH ngày 21/7/2010 và
Hướng dẫn số 777/SGDĐT-GDTH ngày 22/7/2010 của Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng
Tháp về việc hướng dẫn xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục năm
học 2010-2011.
Căn cứ vào kết quả hội thảo nâng cao chất lượng cấp huyện ngày 15/10/2010
của Ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Hồng Ngự. Nhằm duy trì kết quả đạt được,
tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục của huyện trong năm học 2010-2011, phòng
Giáo dục và Đào tạo xây dựng Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục năm học 2010-
2011 như sau:
I. Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của
huyện:
1. Những thuận lợi:
- Được sự quan tâm và giúp đỡ tận tình, có hiệu quả của Huyện ủy, UBND
huyện, ngành GD&ĐT đã chỉ đạo tốt công tác phát triển giáo dục, ổn định hệ thống
trường lớp trên địa bàn, huy động ra lớp đạt chỉ tiêu kế hoạch. Tỷ lệ HS bỏ học ở các
cấp học giảm nhiều so với năm học trước.
- Đội ngũ CBQL, GV của ngành Giáo dục và Đào tạo huyện cơ bản đủ về số
lượng, trình độ chuyên môn được đào tạo chuẩn theo quy định, giáo viên có năng lực
chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm, luôn có ý thức trong việc nâng cao chất lượng
giảng dạy, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
- Giáo viên tích cực đổi mới công tác quản lý, phương pháp giảng dạy, chất
lượng giáo dục được quan tâm và ổn định, nề nếp, kỷ cương trường học có nhiều
chuyển biến tích cực. Đa số các trường đều có xây dựng kế hoạch khắc phục tình trạng
dạy học chủ yếu đọc-chép, biện pháp dạy học có hiệu quả, phù hợp với đối tượng HS.

- Về xây dựng: Một phần do kinh phí đầu tư chưa đáp ứng kịp thời, một phần
do việc mua mặt bằng xây dựng gặp rất nhiều khó khăn.
- Về năng lực CBQL và giáo viên: Thực hiện chưa triệt để Chỉ thị 40-CT/TW,
ngày 16/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo và CBQLGD; và việc thực hiện tinh giản biên chế khi áp dụng còn vướng mắc ở
những quy định cứng nhắc. Một bộ phận cán bộ quản lý trường học năng lực còn hạn
chế, ỷ lại trông chờ vào cấp trên, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý trong tình hình
mới.
- Do đặc thù là một huyện vùng sâu biên giới, thuần nông nên ý thức lợi ích của
việc học tập ở một bộ phận dân cư chưa cao, ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học
nói chung.
- Học sinh THPT, THCS vẫn còn nguy cơ bỏ học khá nhiều là do đời sống kinh
tế người dân còn nhiều khó khăn, giá cả thị trường ngày càng gia tăng. Một số ít
CMHS chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình.
- Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội để
giáo dục học sinh còn có những hạn chế, nhất là trong việc phát hiện, ngăn chặn, tìm
ra những biện pháp giáo dục học sinh vi phạm chưa kịp thời.
- Công tác triển khai nhiệm vụ năm học ở một số đơn vị trường học chưa cụ
thể, còn có cán bộ giáo viên, học sinh chưa nắm vững nhiệm vụ và chủ đề năm học.
Chỉ đạo đổi mới PPDH của CBQL giáo dục chưa sâu, chưa bám sát nhiệm vụ từng
môn học; hoạt động của các tổ, nhóm chuyên môn ở một số đơn vị trường học còn
mang nặng hình thức, chưa phản ánh được đầy đủ hoạt động chuyên môn, nhất là tập
trung vào đổi mới phương pháp dạy học.
2
II. Tình hình giáo dục phổ thông của huyện đầu năm học 2010-2011:
1. Số liệu huy động học sinh:
a. Tiểu học: huy động ra được 12.070/12.081 HS với 493 lớp, tỷ lệ huy động
99,90% . Trong đó trẻ 6 tuổi ra lớp: 2.905/2.916 HS, tỷ lệ 99,62%.
b. Trung học Cơ sở: huy động ra được 6247/6320 học sinh với 158 lớp, đạt tỉ
lệ 98,84 %. Trong đó trẻ đúng độ tuổi vào lớp 6 là 1814/1818, đạt tỉ lệ 99,77 % .

- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục tinh thần ý thức trách nhiệm nhất
là cái tâm của người CBLQ và giáo viên; phải làm sao CBQL, giáo viên xem việc
giáo dục học sinh như chính là giáo dục cho con em mình bằng cách tổ chức nhiều
đợt sinh hoạt sâu rộng trong toàn ngành giáo dục đề CBQL, GV, HS nhận thức đúng
đắn vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong quá trình dạy học và giáo dục HS;
thiết lập lại lòng tin lẫn nhau giữa “CBQL – GV – HS – cha mẹ HS”.
- Thống kê, rà soát đội ngũ GV và CBQL, đánh giá năng lực đội ngũ, bố trí sắp
xếp lại CBQL, phân công chuyên môn một cách hợp lý; đồng thời có kế hoạch tổ
chức bồi dưỡng hoặc đào tạo lại, sàng lọc, tinh giản đội ngũ GV để đáp ứng yêu đổi
3
mới CT-SGK mới. Các trường cần thực hiện tốt Chỉ thị 40-CT/TW, ngày 16/6/2004
của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD.
- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn dài ngắn hạn cho giáo viên
và CBQL bằng nhiều hình thức, có chế độ ưu đãi thu hút CBQL, GV giỏi về công tác
tại các trường trong huyện, nhất là CBQL chuyên môn tại Phòng GD&ĐT.
3.2. Quản lý chuyên môn:
Hoạt động chuyên môn là hoạt động chính của nhà trường, việc nâng cao chất
lượng dạy và học là nhiệm vụ chính trị của ngành giáo dục & đào tạo với những giải
pháp sau:
- Đẩy mạnh hoạt động, đổi mới hình thức sinh hoạt tổ mạng lưới chuyên môn
của Phòng GD&ĐT, hội đồng bộ môn Sở GD&ĐT, tổ chuyên môn trường, phải làm
sao có chiều sâu, có hiệu quả, không nặng về hình thức, cần có tranh luận tích cực về
chuyên môn.
- Hiệu trưởng các trường cần tăng cường dự giờ đột xuất, kiểm tra nội bộ ;
công tác dự giờ, thao giảng cần thực hiện thường xuyên và mang tính tích cực không
mang hình thức phô trương đối phó, qua tiết dạy cần có những ý kiến đóng góp về
những ưu điểm, hạn chế tồn tại của tiết dạy một cách nghiêm túc.
- Ban giám hiệu các trường cần tổ chức cho giáo viên giao lưu, học hỏi kinh
nghiệm trường bạn về những cách làm hay trong quản lý chuyên môn như: công tác
giáo dục học sinh, phương pháp giảng dạy, ....

thảo, chuyên đề về công tác chủ nhiệm.
- Phòng GD&ĐT đã đăng ký với UBND Huyện thực hiện 03 đề tài nghiên cứu
khoa học về công tác chủ nhiệm lớp, xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích
cực, chống HS bỏ học, ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học.
3.3. Thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua của ngành:
- Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh” gắn với cuộc vận động “ Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự
học và sáng tạo”; cuộc vận động “ Hai không” với 4 nội dung nhằm thực hiện tốt chủ
đề năm học “ Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục ”.
` - Thường xuyên tổ chức tốt các phong trào thi đua để kích thích phong trào dạy
và học, củng cố và tăng cường vai trò của mạng lưới chuyên môn, tổ bộ môn, của
Giáo viên chủ nhiệm lớp, nâng cao vai trò trách nhiệm của các ngành các cấp địa
phương cho sự nghiệp trồng người.
3.4. Công tác xã hội hóa giáo dục:
- Ban giám hiệu các trường cần phải thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục
nhằm huy động mọi nguồn lực bên ngoài tham gia xây dựng nhà trường về nhân lực,
vật lực, tài lực.
- Từng đơn vị trường học phải kết hợp tốt ba môi trường giáo dục: Nhà trường
- Gia đình - Xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh, huy động ra lớp; phát
huy sức mạnh của các ban ngành, đoàn thể, ban đại diện CMHS tổ dân phòng khuyến
học của địa phương trong công tác nâng cao chất lượng giáo dục. Để đạt được điều
này đòi hỏi CBQL phải có năng lực thuyết phục, ngoại giao và đặc biệt phải có uy tín
với địa phương và nhân dân, đồng thời mỗi đơn vị trường học phải thiết lập tốt kênh
thông tin với CMHS qua danh bạ điện thoại từng phụ huynh của từng lớp.
3.5. Đầu tư CSVC, trang thiết bị dạy học:
- Các đơn vị trường học phải tự đầu tư trang thiết bị, CSVC cho trường bằng
nhiều nguồn như: ngân sách, xã hội hóa …, tăng cường TBDH tự làm, sử dụng có
hiệu quả các TBDH sẳn có, không nên chờ vào sự cấp phát của cấp trên.
- Đẩy mạnh hoạt động thư viện: đầu tư về cơ sở hạ tầng cho thư viện, tuyên
truyền giáo dục cho GV, HS tham gia đọc sách, xây dựng “ Văn hóa Đọc ”.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status